Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Cơ sở tâm lý nâng cao tích cực hoạt động Xemina

Ngay từ thời cổ đại các nhà t tởng nh Khổng Tử (551- 497 Tr.c.n); Socrat (469
- 390 Tr.c.n) đã thấy đợc tầm quan trọng của tính tích cực hoạt động.
Các nhà TLH phơng Tây nh : S. Freud, J. Watson, A. Matslow đã
nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của tính tích cực hoạt động. Theo S. Freud tính
tích cực bắt nguồn từ yếu tố "vô thức", còn theo J. Watson thì tính tích cực hoạt
động của con ngời là sự phản ứng một cách máy móc đáp ứng lại các kích thích
trực tiếp từ môi trờng, không tính đến ý thức, cơ sở tham gia vào hành vi. Do
đứng trên lập trờng cơ sở lý luận, phơng pháp luận phi Mác xít nên các tác giả
này không chỉ ra đợc cơ sở tâm lý của tính tích cực hoạt động của con ngời.
Các nhà TLH Mác xít dựa trên cơ sở lý luận, phơng pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là quan điểm của C. Mác về hoạt động của con ngời.
C. Mác khẳng định: Hoạt động của con ngời là hoạt động có đối tợng và mang bản
chất xã hội lịch sử. Từ đó các nhà TLH Mác xít đã đi đến kết luận quan trọng: hoạt
động có đối tợng của con ngời là nơi sản sinh ra tâm lý và cũng là nơi tâm lý thực
hịên chức năng định hớng, điều chỉnh, điều khiển hoạt động, tức là tâm lý trở
thành thành phần của hoạt động. Từ đó, cho thấy tính tích cực hoạt động của con
ngời nói chung, tính tích cực hoạt động X nói riêng không thể tách rời những yếu
tố tâm lý của chủ thể. Đồng thời do hoạt động của con ngời mang bản chất xã hội
lịch sử cho nên tính tích cực hoạt động của con ngời còn chịu sự tác động của các
yếu tố bên ngoài. Tiêu biểu cho cách tiếp cận trên là các tác giả: V. P. Điatrenco,
V. I. Romanov, A. N. Lêônchiép
ở Việt Nam, trong lĩnh vực TLH quân sự, cụ thể là TLH s phạm quân sự
cũng đã có một số tác giả nghiên cứu đề cập đến cơ sở tâm lý của hoạt động học
tập nh các tác giả Ngô Minh Tuấn, Đinh Hùng Tuấn trong Nâng cao tính tích
cực nhận thức của học viên trong Xêmina. Lê Duy Tuấn Cơ sở tâm lý nâng
cao tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội hiện
nay. Tuy nhiên, các tác giả này cha đề cập cơ sở tâm lý nâng cao tính tích cực
hoạt động X. Những kết quả nhiên cứu của các tác giả trên đợc chúng tôi
9
nghiên cứu, kế thừa và vận dụng trong nghiên cứu của mình.
1. 2. Các khái niệm cơ bản
1. 2. 1. Tính tích cực
Tính tích cực là vấn đề nghiên cứu của nhiều khoa học Triết học, TLH,
Giáo dục học thuật ngữ tính tích cực theo tiếng Latinh là ACTIVUS dùng
để chỉ: Trạng thái hoạt động; Tính chủ động đối lập với tính bị động.
Dới góc độ Triết học tính tích cực là một khái niệm cơ bản, đã đợc nhiều
triết gia nổi tiếng từ thời cổ đại và hiện nay đề cập nghiên cứu nh: Ampécđốclơ
(490-430 Tr.c.n); Platôn (428-398 Tr.c.n); Aritxtốt (384-322 Tr.c.n); R. Đề các;
B. Spinoda Phần lớn các nhà duy vật khi bàn về tính tích cực đều thống nhất ở
nội dung sau:
Tính tích cực là thuộc tính chung của vật chất, tạo thành điều kiện tiên
quyết bên trong của sự vận động của vật chất. Tính tích cực có quá trình phát
triển gắn liền với quá trình phát triển của vật chất, sự phát triển này trải qua các
các giai đoạn sau:
Giai đoạn đầu tiên trong sự phát triển của tính tích cực là sự chuyển tiếp từ
tính tích cực là thuộc tính của vật chất đến tính tích cực là thuộc tính đặc trng của
sinh vật và biểu hiện ra trong quá trình hoạt động sống, bảo đảm cho sinh vật tồn
tại và phát triển tính tích cực theo nghĩa này của sinh vật xét ở góc độ vật lý, sinh
vật là cuộc đấu tranh cho sự tồn tại của sinh vật [10. tr.28].
Bớc ngoặt thứ hai trong sự phát triển của tính tích cực gắn với sự xuất
hiện hoạt động của loài ngời, sự khác biệt cơ bản của hoạt động này so với hành
vi của động vật ở chỗ chuyển tiếp đơn thuần thích nghi với thiên nhiên đến chỗ
trên cơ sở nhận thức tính tất yếu mà cải tạo, sáng tạo khách thể phù hợp với mục
đích của cá nhân và xã hội.
- Tính tích cực là sự vận động của vật chất, sự vận động và biến đổi này
có thể nhận thấy nhận thấy ở mức độ thấp của vật chất và giúp cho sự vật thoát
khỏi trạng thái quân bình hoàn chỉnh, tạm thời hiện tại, tạo ra sự biến đổi của
10
một vật thể trong khoảng thời gian và không gian nhất định vì ý nghĩa đó thuật
ngữ tính tích cực đợc mô tả bằng các thuật ngữ khác nhau nh: Tính tự trị;
Tính phát sinh từ nội tại; Tính chủ động.
Nh vậy, dới góc độ Triết học tính tích cực đợc coi là sự gặp gỡ giữa yếu
tố bên trong và yếu tố bên ngoài, trong đó yếu tố bên trong giữ vai trò chủ đạo.
L.A. Putrusenco viết: Hệ thống ngoài môi trờng không thể là tính tích cực, tính
tích cực cao không thể là kết quả của việc cách li nghiêm ngặt một hệ thống.
Bất kì một loại tính tích cực nào đều đợc quy định bởi các điều kiện bên trong
và bên ngoài [dẫn theo 10, tr.24].
Bằng thế giới quan và phơng pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C. Mác đã khẳng định: Con ngời là chủ
thể năng động, tích cực, luôn luôn tác động vào thế giới, nhận thức và cải tạo
thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của mình.
Tính tích cực thuộc bản chất của con ngời, là đặc trng của cơ thể sống
trong mối tơng quan với hoạt động. Tính tích cực đóng vai trò là điều kiện, là
động lực của quá trình nhận thức và thay đổi các loại hình hoạt động. Nó là
thuộc tính quan trọng tạo ra sự vận động nội sinh của hoạt động. Tính tích cực
đợc biểu hiện trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Loài ngời từ khi xuất
hiện, tồn tại và phát triển đến nay đều do tính tích cực, sáng tạo của mình quyết
định. Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu, lợi ích nảy sinh trong thực tiễn
lao động sản xuất và đấu tranh xã hội.
Dựa trên thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, các nhà TLH Mác xít
cho rằng: tính tích cực là một khía cạnh chủ yếu trong bản chất tâm lý của con
ngời. Nhờ có tính tích cực mà con ngời tiếp thu có chọn lọc các tác động của tự
nhiên và xã hội. Đồng thời tìm ra con đờng, biện pháp cải tạo tự nhiên, xã hội.
Xem xét tính tích cực từ góc độ chức năng, vai trò của chủ thể đối với thế
giới bên ngoài, các tác giả nh: S. Đ. Smiznov, V. P. Điatrenco, V. Ia. Romanov
cho rằng: sự phát triển tính tích cực là sự phức tạp hoá dần các chức năng của
11
tính tích cực của chủ thể. Với các biểu hiện cơ bản sau:
- Tính chủ động của ý thức, tính chủ định của chủ thể đối với thế giới bên
ngoài. Nói đến tính tích cực là nói đến tính chủ động, thớc đo tính chủ động của
chủ thể.
- Tính tích cực là thông số đo sự chuyển động, sự biến đổi, hoạt động tâm
lý của chủ thể gắn liền với tiêu hao năng lợng tâm lý và sinh lí.
- Tính tích cực thể hiện chức năng không chỉ biểu hiện sự thích nghi mà
cao hơn là sự thích ứng, sự cải tạo, sáng tạo của chủ thể với thế giới bên ngoài.
Nh vậy các tác giả trên khẳng định rằng: Con ngời có tính tích cực là con
ngời đang hoạt động. Nói đến tính tích cực là nói đến tính chủ động, sự thích
ứng, sự sáng tạo của chủ thể nhằm cải tạo thế giới bên ngoài và bản thân mình.
Trong quá trình nghiên cứu những cơ sở của hình thức dạy học nêu vấn
đề, V. O. Kôn cho rằng: Khi nói đến tính tích cực chúng ta quan niệm là lòng
ham muốn hoạt động đợc nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những
biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động [3, tr.38].
Tác giả Vũ Dũng chỉ ra các đặc điểm của tính tích cực bao gồm:
Sự chi phối mạnh mẽ các hoạt động đang diễn ra:
- Tính đặc thù của các trạng thái bên trong của chủ thể ở thời điểm hành động.
- Tính siêu hoàn cảnh.
- Tính bền vững tơng đối của hành động trong sự tơng quan với mục đích
đã thông qua [1, tr.355].
Khi xem xét tính tích cực tác giả Nguyễn Xuân Thức cho rằng: Một là,
không nên giải thích phiến diện, xem xét là trạng thái duy nhất của hoạt động;
Hai là, không tách rời mặt bên trong và mặt bên ngoài của tính tích cực; Ba là,
sự phát triển của tính tích có thể biểu hiện bằng đặc trng số lợng và chất lợng
của hoạt động con ngời [10, tr.67].
Từ những quan điểm trên tôi cho rằng: Tính tích cực là một phẩm chất
nhân cách thể hiện sự nỗ lực, chủ động, sáng tạo trong hành động phù hợp
12
với mục đích đặt ra.
1.2.2. Tính tích cực hoạt động Xêmina và các tiêu chí đánh giá tính
tích cực hoạt động Xêmina của học viên
1.2.2.1. Tính tích cực hoạt động Xêmina
Xêmina là hoạt động cùng nhận thức, cùng lĩnh hội của tập thể HV. X
chỉ đạt kết quả cao khi có tính tích cực của tập thể HV trong lớp học, khoá
học. Nghiên cứu về tính tích cực hoạt động X, các nhà TLH đều cho rằng:
tính tích cực hoạt động X là một dạng cụ thể của tính tích cực nói chung.
Nguồn gốc của tính tích cực hoạt động X bắt nguồn từ nhu cầu học tập, sự
cảm nhận thiếu thốn về kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng của HV trong nội dung
chủ đề X nói riêng và trong cuộc sống hoạt động nói chung. Tuy nhiên quan
niệm về tính tích cực hoạt động X của HV còn nhiều quan điểm khác nhau:
Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: Tính tích cực trong học tập về thực
chất là tính tích cực nhận thức, đặc trng bởi sự chủ động sáng tạo, hăng hái trả
lời câu hỏi của giáo viên. Bổ sung các câu hỏi và trả lời của bạn, thích phát biểu
ý kiến của mình trớc các vấn đề nêu ra, hay thắc mắc đòi hỏi phải trả lời một
cách thấu đáo các vấn đề tranh luận, thảo luận. Chủ động vận dụng kiến thức
kỹ xảo, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới [2, tr.26-27].
Trên cơ sở tiếp cận hoạt động, tập thể tác giả Ngô Minh Tuấn và
Đinh Hùng Tuấn đã cho rằng: Tính tích cực hoạt động X chính là tính
tích cực nhận thức, là trạng thái nỗ lực chủ động, độc lập sáng tạo của HV
trong việc huy động khả năng nhận thức vào tranh luận, thảo luận các vấn
đề trong X [9, tr.8].
Nh vậy tuy các tác giả có các quan nịêm khác nhau nhng thống
nhất cho rằng: X là một hoạt động trong hoạt động học tập của HV tính
tích cực hoạt động X là một dạng cụ thể của tính tích cực nói chung của
con ngời, phản ánh khát vọng vơn lên chiếm lĩnh tri thức và kỹ xảo, kỹ
năng
13
Tiếp thu các quan điểm trên chúng tôi cho rằng: Tính tích cực hoạt động
Xêmina là một phẩm chất của nhân cách phản ánh trạng thái hoạt động thể
hiện sự nỗ lực bên trong, chủ động, sáng tạo hớng tới hình thành những hành
động Xêmina phù hợp để chiếm lĩnh nội dung chủ đề Xêmina.
1.2.2.2. Các tiêu chí đánh tính tích cực hoạt động Xêmina của học viên
Khi nghiên cứu tính tích cực hoc tập của sinh viên tác giả Nguyễn Đức
Vũ đã chỉ rõ dấu hiệu để nhận thấy tính tích cực học tập nh sau: Thờng nêu ý
kiến về các vấn đề học tập, trăn trở, tìm tòi, phát hiện thỏa mãn nhu cầu hiểu
biết, có ý thức nhận xét, đánh giá, chủ động liên hệ kiến thức vào thực tiễn, vận
dụng kiến thức đã học vào nhận thức kiến thức mới, có nhu cầu trao đổi, thảo
luận với bạn bè, thầy cô về những hiểu biết có đợc từ những nguồn thông tin
khác nhau [11, tr.28].
Tính tích hoạt động X của HV là một dạng đặc thù của tính tích cực học
tập. Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi cho rằng muốn đánh giá đợc tính tích
cực hoạt động X của HV ta phải căn cứ vào các dấu hiệu biểu hiện. Mặt khác, X
là một quá trình có các khâu: chuẩn bị, thực hành, và sau X. Vì vậy, theo chúng
tôi, để đánh giá đợc tính tích cực hoạt động X của HV cần phải căn cứ vào các
dấu hiệu biểu hiện qua từng giai đoạn.
* Gia đoạn chuẩn bị Xêmina.
Dấu hiệu của tính tích cực hoạt động X trong giai đoạn này là HV nhận
thức sâu sắc vị trí, vai trò, chức năng của X và nội dung của chủ đề X trong ch-
ơng trình bộ môn. Chủ động nghiên cứu kế hoạch, nắm vững mục đích, yêu cầu
của chủ đề X đã đợc GV hớng dẫn. Trong kế hoạch tự học của mình HV đã xác
định thời gian phù hợp để chuẩn bị cho X.
Các chủ đề X thờng đợc GV hớng dẫn trớc khi tiến hành X một khoảng
thời gian nhất định. Khi hớng dẫn nội dung X thì GV đã hớng dẫn các nội dung
cần làm rõ trong từng chủ đề X.
Ngời HV có tính tích cực hoạt động X ở giai đoạn này biểu hiện: chủ
14
động tìm tài liệu, nghiên cứu tài liệu một cách cụ thể, tỉ mỉ, công phu; chủ động
làm đề cơng một cách chi tiết, suy nghĩ sâu sắc về các vấn đề cần tranh luận,
thảo luận, tìm tài liệu, tìm dẫn chứng minh chứng cho vấn đề mình đa ra; có thể
dự đoán cấc vấn đề mà các HV trong lớp có thể đa ra trong quá trình thảo luận.
HV suy nghĩ vấn đề còn thắc mắc trong nhận thức có thể đem các vấn đề mình
thắc mắc ra tranh luận trong giờ nghỉ ở lớp học. Những HV này cảm thấy thoải
mái, sung sớng khi giải quyết các vấn đề cho bạn bè mình nghe. Một biểu hiện
đặc thù trong giai đoạn này là HV thông qua quá trình nghe giảng ở trên lớp đã
ghi chép những vấn đề cha rõ trong quá trình lĩnh hội tri thức để khi X đa ra
tranh luận, thảo luận. Nếu ngời học có tính tích cực hoạt động X ở giai đoạn
này đã chuẩn bị cho mình một tâm thế sẵn sàng cho X, khi bớc vào thực hành X
có tâm thế hết sức thoải mái, tự tin có nhu cầu muốn chứng tỏ khả năng nhận
thức của mình. Tính tích cực trong giai đoạn chuẩn bị X có vai trò hết sức quan
trọng nó có tác động to lớn đến kết quả X sau này.
* Giai đoạn thực hành X.
Hiện nay, các X thờng diễn ra theo các trờng hợp sau đây. Thứ nhất, GV
gợi ý lại nội dung X, HV xem lại đề cơng mình đã chuẩn bị ở nhà. Sau đó GV
gọi từng ngời lên phát biểu theo nội dung mình đã chuẩn bị. Sau mỗi ý kiến,
GV kết luận và nêu ra những điểm còn cha rõ hoặc có mâu thuẫn để các HV
khác tiếp tục làm sáng tỏ vấn đề. Thứ hai, GV gọi ngời phát biểu trung tâm lên
phát biểu sau đó các HV khác tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề cha rõ. Thứ ba,
GV hỏi HV trong chủ đề X có nội dung gì cha rõ nêu ra để các đồng chí trong
lớp và GV cùng giải quyết.
Trong cả ba cách trên, ngời HV có tính tích trong X đều là những ng-
ời chủ động phát biểu ý kiến giải quyết các vấn đề nhanh gọn, súc tích, bởi
vì trong giai đoạn chuẩn bị những HV này đã chuẩn bị rất kĩ càng, tích luỹ
đợc một vốn kiến thức cần thiết. Trong tranh luận, thảo luận, đấu tranh
quan điểm với các vấn đề tập thể lớp và GV nêu ra. Những HV có tính tích
15
cực tỏ ra nhạy bén, nắm bắt chính xác mẫu thuẫn, tham gia tranh luận , thảo
luận sôi nổi. Chính vì thế mà X trở nên có ý nghĩa sâu sắc. Khi diễn giải
trình bày các vấn đề, những HV này trình bày diễn giải một cách say mê,
hầu nh thoát li khỏi đề cơng, những kiến thức lý luận và thực tiễn đã trở
thành năng lợng tiềm tàng chờ cơ hội để giải phóng. Tính tích cực hoạt
động X ở giai đoạn này còn thể hiện ở khả năng t duy linh hoạt, năng động,
mang tính sáng tạo cao của ngời học. Đó là ngời học biết vận dụng một
cách sáng tạo những kiến thức tích luỹ đợc trong quá trình học tập và vốn
sống vào giải quyết những tình huống có vấn đề. Một nét tâm lý xuất hiện
ở những HV có tính tích cực là có cảm giác xấu hổ, ngại ngùng khi trong
buổi X không đợc phát biểu ý kiến hoặc các vấn đề đa ra còn thiếu tính
thuyết phục, trong suy nghĩ mong muốn lần sau mình làm tốt hơn. Ngợc lại
những HV không có tính tích cực hoạt động X, thiếu tính chủ động, sáng
tạo trong suy nghĩ, lời phát biểu, thờng trông chờ vào đồng đội hay kết luận
của giáo viên. Nếu những HV này phát biểu thì chỉ nhắc lại bài giảng của
GV, hoặc trả lời cho qua chuyện, không tiếp thu đợc nhiều kiến thức trong
X, thậm chí coi các buổi X là buổi tra tấn.
* Giai đoạn sau X.
Khi buổi X kết thúc có thể còn một số vấn đề mà HV hiểu cha thấu đáo.
Đối với những HV có tính tích cực hoạt động X, tiếp tục nghiên cứu tài liệu,
hoặc trao đổi với thầy cô, bạn bè trong lớp để tiếp tục làm sáng tỏ vấn đề còn
thắc mắc. Bên cạnh đó, những HV này còn biết vận dụng linh hoạt các kiến
thức đã lĩnh hội trong X để giải quyết các nhiệm vụ học tập nh: thi, kiểm tra, và
các vấn đề thực tiễn .
Ngợc lại, những HV không có tính tích cực hoạt động X, sẽ không còn
trăn trở, suy nghĩ đến X nữa, và có cảm giác nh trút đợc gánh nặng khi buổi X
kết thúc.
Những dấu hiệu trên theo chúng tôi là những dấu hiệu đặc thù của tính
16
tích cực hoạt động X của HV đào tạo giáo viên KHXHNVQS cấp phân đội. Tuy
nhiên, tính tích cực hoạt động X còn có những biểu hiện hết sức phong phú, đa
dạng ở từng đối tợng HV các khoá, các lớp khác nhau. Nếu nh HV đang học
năm thứ nhất; hoặc thứ hai thì tính tích cực biểu hiện hết sức rõ ràng thông qua
các hành động cụ thể qua từng giai đoạn X. Tuy nhiên đối với đối tợng này, thời
gian chuẩn bị cho là nhiều hơn, vất vả hơn. Đối với HV đang học năm thứ ba;
hoặc thứ t, tính tích cực có chiều hớng giảm đi về cờng độ và mức độ biểu hiện.
Đôi khi chúng ta còn thấy hiện tợng lơ là, quân bình chủ nghĩa, chợ chiều cuối
khoá trong X. Nguyên nhân có thể do các HV năm cuối đã tích luỹ đợc nền
kiến thức cơ bản vững chắc, có phơng pháp tiếp cận tốt hơn, hoặc có t tởng cho
là mọi thứ đã an bài.
1.2.3. Cơ sở tâm lý nâng cao tính tích cực hoạt động Xêmina của học
viên đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn quân sự cấp phân đội ở Hệ S
phạm - Học viện Chính trị quân sự
Theo Từ điển tiếng Việt: "Cơ sở là cái nền tảng trong mối quan hệ với
những cái xây dựng trên đó, hoặc dựa trên đó mà tồn tại" [8, tr.209]. Khi nói
đến cơ sở tâm lý nâng cao tính tích cực hoạt động X của HV đào tạo giáo viên
KHXHNVQS cấp phân đội, chúng ta phải tính đến những yếu tố tâm lý tạo
thành nền tảng của tính tích cực hoạt động X của HV đợc hình thành trong quá
trình chuẩn bị và tiến hành X.
Nguồn gốc tạo nên tính tích cực của nhân cách là nhu cầu. Chính nhu cầu
đã thúc đẩy con ngời hoạt động, đồng thời tính tích cực biểu hiện ra trong quá trình
hoạt động. Nhu cầu con ngời không chỉ đơn thuần là nhu cầu bản năng mang ý
nghĩa sinh vật mà còn là nhu cầu mang tính xã hội. Nhu cầu của con ngời đợc hình
thành trong quá trình giáo dục, tức là quá trình tiếp nhận các giá trị văn hoá nhân
loại, là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, quá trình thoả mãn nhu cầu của con ng-
ời là một quá trình tích cực có mục đích. Trong đó con ngời làm chủ các hình thức
hoạt động do sự phát triển lịch sử quy định.
17
Song các nhà TLH Mác xít cũng chỉ ra: Nhu cầu hớng dẫn hoạt động của
chủ thể, nhng nhu cầu chỉ hoàn thiện chức năng ấy với điều kiện nhu cầu phải
mang tính đối tợng, bởi vì nhu cầu chỉ là trạng thái thiếu thốn, cần thiết phải đ-
ợc thoả mãn nhng mang tính vô hớng. Chính trong hoạt động, khi bắt gặp đối t-
ợng có thể thoả mãn nhu cầu của chủ thể thì nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy
con ngời hoạt động. Vì vậy khi nghiên cứu cơ sở tâm lý nâng cao tính tích cực
hoạt động X của HV thì phải tiếp tục nghiên cứu những yếu tố tâm lý làm cơ sở
thúc đẩy, quy định tính tích cực hoạt động X của HV đào tạo giáo viên
KHXHNVQS cấp phân đội.
Hoạt động của con ngời là một hệ thống luôn luôn tự vận động và phát
triển. Nó chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử cụ thể. Trong khi tiến hành
hoạt động này hay hoạt động khác cá nhân luôn thực hiện một chức năng xã hội
nhất điịnh, phục tùng những nhu cầu của cá nhân hay của xã hội. A. N. Lêônchiép
đã khẳng định: Hoạt động có đối tợng là nơi sản sinh ra tâm lý con ngời, hoạt
động là bản thể của tâm lý và cũng là nơi tâm lý thực hiện chức năng định hớng,
điều khiển, điều chỉnh hoạt động, tức là tâm lý trở thành thành phần của hoạt động,
cũng có thể nói tâm lý là điều kiện vận hành hoạt động [4, tr.4]. Ông cũng chỉ ra
rằng: Hoạt động của con ngời có tính xã hội và có tính tổ chức, có động cơ là cơ
sở, phơng tiện và điều kiện tâm lý phát triển con ngời [4, tr.40]. Có thể nói rằng,
hoạt động của con ngời là nơi gặp gỡ, tác động, xâm nhập lẫn nhau và xâm nhập
vào những yếu tố tâm lý, nhu cầu, ý muốn, thói quen, hiểu biết tình cảm và các
yếu tố bên ngoài nh các quan hệ xã hội.
Từ tiếp cận hoạt động, ta thấy X là một hoạt động đặc biệt của HV đào
tạo giáo viên KHXHNVQS cấp phân đội. Mục đích của X là giúp ngời học lĩnh
hội tri thức, giải quyết những vấn đề vớng mắc trong nhận thức, rèn luyện kỹ
năng nghề nghiệp s phạm. Hoạt động X có đầy đủ thành phần cấu trúc của hoạt
động gồm: hoạt động X - động cơ X, mục đích X - hành động X, thao tác X -
điều kịên phơng tiện X. Các thành phần trên tạo thành chỉnh thể qui định tính
18

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét