Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

GA cuc chuan- tiet 54- Ruou Etilic


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "GA cuc chuan- tiet 54- Ruou Etilic": http://123doc.vn/document/549741-ga-cuc-chuan-tiet-54-ruou-etilic.htm




* Cách pha rượu 45
0

NƯỚC CẤT
100 ml
45 ml
RƯỢU ETYLIC 45
0
RƯỢU ETYLIC
TiÕt 54: RƯỢU ETYLIC
I. Tính chất vật lí
Rượu etylic là chất lỏng, không màu, sôi ở
78,3
0
C, nhẹ hơn nước, tan vô hạn trong
nước, hoà tan được nhiều chất.
* Độ rượu:
Số ml rượu etylic có trong 100ml
hỗn hợp (rượu + nước)


Đ
r
x V
hh

V
r
=
100
0
Đ
r
: độ rượu (
0
) ; V
r
: thể tích rượu etylic ( ml )
V
hh
: thể tích hỗn hợp (rượu etylic + nước) ( ml )
* Công thức tính độ rượu
V
r
Đ
r
= x 100
0

V
hh
TiÕt 54: RƯỢU ETYLIC
I. Tính chất vật lí
Bài tập vận dụng
Tính số ml rượu
etylic có trong 200 ml
rượu 45
0

Giải: Số ml rượu etylic:
45 x 200
V
r
= = 90ml
100


Mô hình rượu etylic dạng rỗng Mô hình rượu etylic dạng đặc
Từ mô hình hãy viết công thức cấu tạo của rượu etylic?
II. Cấu tạo phân tử


* Công thức cấu tạo
H H

H – C – C – O–H
H H
Hay: CH
3
– CH
2
– OH
* Đặc điểm
TiÕt 54: RƯỢU ETYLIC
II. Cấu tạo phân tử
Rượu etylic có nhóm – OH liên kết với gốc hiđrocacbon
Do tương tác của gốc CH
3
CH
2
- làm cho liên kết O – H phân cực
nên nguyên tử hiđro trong nhóm –OH có tính chất khác với 5
nguyên tử hiđro còn lại, dễ tham gia vào các phản ứng hóa học
Rượu là hợp chất hữu cơ, mà trong phân tử chỉ có nhóm
– OH liên kết trực tiếp với gốc Hiđrocacbon
Nhóm – OH gọi là nhóm định chức của rượu. Vậy rượu
etylic có tính chất hóa học gì?
Rượu etylic có đặc điểm cấu tạo như thế nào?


III. Tính chất hoá học
Rượu etylic có cháy không?
Thí nghiệm:
Nhỏ vài giọt rượu etylic vào đế sứ rồi đốt.
Yêu cầu:
- Quan sát thí nghiệm
- Hãy nêu hiện tượng, rút ra nhận xét và viết phương trình
hoá học (nếu có)
TiÕt 54: RƯỢU ETYLIC
I. Tính chất vật lí
II. Cấu tạo phân tử
CH
3
– CH
2
– OH


TiÕt 54: RƯỢU ETYLIC
I. Tính chất vật lí
II. Cấu tạo phân tử
III. Tính chất hoá học
C
2
H
6
O + 3 O
2
t
0
2 CO
2
+ 3 H
2
O
Rượu etylic cháy tạo ra khí CO
2
và H
2
O đồng thời tỏa nhiệt mạnh
1. Phản ứng cháy
Rượu etylic có phản ứng với Natri không?
Yêu cầu: Sau khi quan s¸t thÝ nghiÖm hãy nêu hiện tượng, rút
ra nhận xét và viết phương trình phản ứng (nếu có)
Thí nghiệm: Cho một mẫu Natri vào ống nghiệm chứa rượu etylic


Phản ứng trên là phản ứng thế
H H
H C C O
H H
H H
H C C O H
H H
Na
Na
H
2
+
+
Phản ứng hóa học giữa rượu Etylic với Natri.
Natri etylat
Rượu Etylic
TiÕt 54: RƯỢU ETYLIC
1
2


TiÕt 54: RƯỢU ETYLIC
I. Tính chất vật lí
II. Cấu tạo phân tử
III. Tính chất hoá học
C
2
H
6
O + 3 O
2
t
0
2 CO
2
+ 3 H
2
O
Rượu etylic tác dụng mạnh với oxi, tạo khí cacbonic và hơi nước
1. Phản ứng cháy
Rượu etylic tác dụng với natri tạo ra muối Natri etylat và giải
phóng Hiđro
2 CH
3
- CH
2
– OH + 2 Na  2 CH
3
– CH
2
-ONa + H
2

2. Phản ứng với Na


Nếu thay kim loại Natri bằng các kim loại kiềm(K,Li ) hoặc kiềm
thổ (Ca, Ba) cũng có phản ứng tương tự
Gốc C
2
H
5
O– có tên là “etylat” vì vậy khi gọi tên sản phẩm tạo
thành trong phản ứng giữa rượu etylic và kim loại ta gọi như
sau: Tên kim loại + etylat
Vd:
(C
2
H
5
O)
2
Ca Canxi etylat
?


Bài tập Số 1/ 139/ sgk: chọn ý đúng trong các câu sau:
Rượu etylic phản ứng được với natri vì:
a. Trong phân tử có nguyên tử oxi
b. Trong phân tử có nguyên tử hidro và nguyên tử oxi
c. Trong phân tử có nguyên tử cacbon, hidro, oxi
d. Trong phân tử có nhóm – OH
O
TiÕt 54: RƯỢU ETYLIC
1. Phản ứng cháy
2. Phản ứng với Na
I. Tính chất vật lí
II. Cấu tạo phân tử
III. Tính chất hoá học
CH
3
– CH
2
– OH

VẬT LÝ 8 - HKII


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "VẬT LÝ 8 - HKII": http://123doc.vn/document/550909-vat-ly-8-hkii.htm


Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
Tiết: 21 Tuần 21
Ngày soạn: 25/1/2008
Tổng kết chơng i
I. Mục tiêu:
- Học sinh hệ thống lại các kiến thức đã học trong chơng I.
- Học sinh tự đánh giá đợc mức độ kiến thức của mình.
II. Chuẩn bị:
1. Giáo viên: - Ô chữ.
2. Học sinh:
III. Tiến trình lên lớp:
Hoạt động của thầy và trò Ghi bảng
HS trả lời các câu hỏi SGK.
HS đứng tại chỗ trả lời các câu hỏi phần I, II
Hs đọc đầu bài bài tập 1, một HS lên bảng tóm tắt.
3 HS lên bảng tính v
TB1
, v
TB2
, v
TB
Dới lớp làm vào vở.
? Một bạn tính: v
TB
= (v
TB1
+ v
TB2
): 2 nh vậy đúng
hay sai?
Một HS đọc nội dung bài tập 2.
A. Ôn tập:
1. Chuyển động cơ học:
2.
3. Độ lớn của vận tốc:
4. Chuyển động không đều:
5. Lực:
6. Đặc điểm củ lực:
7. Hai lực cân bằng:
8. Lực ma sát:
9. Quán tính:
10. áp suất:
11. Lực đẩy Acsimet:
12.Sự nổi:
13, 14. Công cơ học:
15. Định luật về công:
16. Công suất:
17. Sự bảo toàn cơ năng:
B. Vận dụng:
I. Khoanh tròn đáp án đúng:
1 2 3 4 5 6
D D B A D D
II. Trả lời câu hỏi:
III. Bài tập:
Bài tập 1:
v
TB1
=
25
100
1
1
=
t
s
= 4m/s
v
TB2
=
20
50
2
2
=
t
s
= 2, 5m/s
Trờng THCS Minh Đức 41 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng
Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
? Tính P
1
, P
2
nh thế nào?
HS thảo luận nhóm (4phút)
Một nhóm lên bảng báo cáo kết quả, các nhóm
khác kiểm tra chéo lẫn nhau.
GV chia lớp thành 2 đội chơi trò chơi: Mở ô chữ
1
C
u n g
2 k h
Ô
n g đ ổ i
b a o t o à
N
4 c ô n
G
s u ấ t
5 a
C
s i m e t
6 t
ơ
n g đ ố i
b ằ n g n
H
a u
8 d a

đ ộ n g
l ự c
C
â n b ằ n g
v
TB
=
2025
50100
21
21
+
+
=
+
+
tt
ss
= 3, 33m/s
Bài tập 2:
a.
Pa
S
P
P
4
4
1
10.5,1
10.150.2
10.45
===

b. P
2
= 2P
1
= 3. 10
4
Pa
C. Trò chơi ô chữ:
* Hớng dẫn về nhà:
- Ôn lại những kiến thức đã học.
- Làm bài tập: 3, 4, 5/SGK 65
- Xem trớc nội dung chơng Nhiệt học
Trờng THCS Minh Đức 42 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng
Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
Tiết: 22 Tuần 22
Ngày soạn: 7/2/2008
Các chất đợc cấu tạo nh thế nào?
I. Mục tiêu:
- Học sinh kể đợc một số hiện tợng chứng tỏ vật chất đợc cấu tạo từ các hạt
riêng biệt, giữa chúng có khoảng cách.
- Biết nhận biết đợc thí nghiệm mô hình và chỉ ra đợc sự tơng ứng của thí
nghiệm mô hình và hiện tợng cần giải thích.
- Học sinh vận dụng hiểu biết về cấu tạo hạt của vật chất để giải thích một số
hiện tợng thực tế.
II. Chuẩn bị:
1. Giáo viên: 4 bình chia độ: Bình 1: 50ml rợu
Bình 2: 50ml nớc.
Bình 3: 50cm
3
gạo.
Bình 4: 50cm
3
ngô.
2. Học sinh:
III. Tiến trình lên lớp:
Hoạt động của thầy và trò Ghi bảng
1. Kiểm tra bài cũ Giới thiệu bài mới:
Gv giới thiệu chơng III
2. Bài mới:
? Dựa vào các kiến thức hoá học, hãy cho biết
các chất đợc cấu tạo nh thế nào?
Gv giới thiệu các thông tin về cấu tạo chất nh
SGK.
Gv giới thiệu kính hiển vi điện tử qua tranh vẽ và
ảnh của nguyên tử Si qua kính hiển vi.
HS đọc Có thể em ch a biết để thấy đợc sự nhỏ
bé của nguyên tử, phân tử.
Gv yêu cầu học sinh quan sát hình 19.3.
? Các nguyên tử Si có đợc xếp sít nhau hay
không?
? Vậy giữa các nguyên tử có khoảng cách không?
Gv giới thiệu cách làm thí nghiệm tơng tự nh
đầu bài, trộn 50cm
3
rợu với 50cm
3
nớc.
I. Các chất có đ ợc cấu tạo từ các
hạt riêng biệt không?
- Các chất đợc cấu tạo từ các hạt
nhỏ bé phân biệt gọi là nguyên tử,
phân tử.
II. Giữa các nguyên tử có
khoảng cách:
1. Thí nghiệm mô hình:
Trờng THCS Minh Đức 43 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng
Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
HS làm thí nghiệm 1, hoàn thành C1.
? Nhận xét gì về thể tích sau khi trộn?
? Sự hao hụt thể tích chứng tỏ điều gì?
HS thảo luận trả lời C2.
Gv: Thí nghiệm trên là mô hình giữa rợu và nớc.
? Qua thí nghiệm trên, em rút ra nhận xét gì?
3. Củng cố Vận dụng:
? Qua bài học này ta cần nắm vững điều gì?
Hs đọc ghi nhớ.
HS trả lời C3 C5
C1.
2. Giữa các nguyên tử, phân tử
có khoảng cách:
C2.
- Giữa các nguyên tử, phân tử có
khoảng cách.
III. Vận dụng:
C3. Khi khuấy, các phân tử đờng
xen lẫn vào các phân tử nớc và
ngợc lại.
C4. Giữa các phân tử cao su có
khoảng cách, các phân tử khí có
thể chui ra ngoài.
C5. Vì các phân tử khí ôxi có thể
xen vào khoảng cách giữa các
phân tử nớc.
4. Hớng dẫn về nhà:
- Học theo SGK và vở ghi.
- Làm bài tập: 19.3 19. 7
Trờng THCS Minh Đức 44 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng
Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
Tiết: 23 Tuần 23
Ngày soạn: 15/2/2008
Nguyên tử, phân tử chuyển động hay đứng yên?
I. Mục tiêu:
- Học sinh giải thích đợc thí nghiệm Brao.
- Học sinh chỉ ra đợc sự tơng tự giữa chuyển động của quả bóng khổng lồ với
chuyển động Brao.
- Học sinh nắm đợc rằng khi phân tử, nguyên tử cấu tạo nên vật chuyển động
càng nhanh thì nhiệt độ của vật càng cao. Giải thích đợc tại sao khi nhiệt độ cao thì
chuyển động Brao xảy ra nhanh hơn.
II. Chuẩn bị:
1. Giáo viên: - Thí nghiệm về sự khuếch tán của KMnO
4
- Tranh vẽ hình 20.1; 20.4
2. Học sinh:
III. Tiến trình lên lớp:
Hoạt động của thầy và trò Ghi bảng
1. Kiểm tra bài cũ:
? Các chất đợc cấu tạo nh thế nào?
2. Bài mới:
GV treo hình vẽ 20.2, giới thiệu thí nghiệm Brao.
GV: Các phân tử là các hạt vô cùng nhỏ bé. Vì vậy
có thể giải thích đợc sự chuyển động của các hạt
phấn hoa tơng tự nh chuyển động của quả bóng
mô tả ở đầu bài.
HS đọc phần mở bài.
HS thảo luận nhóm hoàn thành C1, C2, C3
GV giới thiệu hình 20.2 và 20.3: Anhxtanh đã gải
thích đầy đủ và chính xác thí nghiệm Brao vào
năm 1905.
? Các nguyên tử, phân tử chuyển động hay đứng
yên?
I. Thí nghiệm Brao:
- Các hạt phấn hoa chuyển động
không ngừng về mọi phía.
II. Các nguyên tử, phân tử
chuyển động không ngừng:
C1. Quả bóng tơng tự hạt phấn
hoa.
C2. Các học sinh tơng tự nh các
phân tử nớc.
C3. Các phân tử nớc chuyển động
không ngừng va chạm với hạt
phấn hoa làm cho hạt phấn hoa
chuyển động hỗn độn không
ngừng.
* Kết luận:
Các nguyên tử, phân tử chuyển
động không ngừng.
Trờng THCS Minh Đức 45 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng
Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
Gv tiến hành thí nghiệm sự khuếch tán của
KMnO
4
? Có nhận xét gì về sự chuyển động của các
nguyên tử KMnO
4
khi nhiệt độ của nớc tăng lên?
GV giới thiệu lại thí nghiệm Brao, nếu càng tăng
nhiệt độ của nớc, các hạt phấn hoa chuyển động
càng nhanh.
GV: Bằng nhiều thí nghiệm, ta cũng rút ra đợc kết
luận tơng tự.
Kết luận.
3. Củng cố Vận dụng:
? Nguyên tử, phân tử chuyển động hay đứng yên?
HS đọc ghi nhớ/SGK
GV yêu cầu học sinh lấy VD về sự chuyển động
của phân tử, nguyên tử và giải thích.
HS hoàn thành C4, C5, C6
III. Chuyển động phân tử và
nhiệt học:
* Thí nghiệm:
* Kết luận:
Khi nhiệt độ càng cao các nguyên
tử, phân tử cấu tạo nên vật chuyển
động càng nhanh.
IV. Vận dụng:
C4. các phân tử nớc và đồng
sunfat đều chuyển động không
ngừng các phân tử của hai chất
xen kẽ vào nhau.
C5. Do các phân tử khí chuyển
động không về mọi phía.
C6. Vì các phân tử chuyển động
nhanh hơn khi nhiệt độ cao.
4. Hớng dẫn về nhà:
- Đọc Có thể em cha biết
- Làm bài tập: 20.1 . 20.6
Trờng THCS Minh Đức 46 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng
Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
Tiết: 24 Tuần 24
Ngày soạn: 25/2/2008
Nhiệt năng
I. Mục tiêu:
- Học sinh phát biểu đợc định nghĩa nhiệt năng và mối quan hệ giữa nhiệt năng
và nhiệt độ của vật.
- Tìm đợc ví dụ về các cách làm thay đổi nhiệt năng: Thực hiện công và truyền
nhiệt.
- Rèn cho học sinh kỹ năng sử dụng các thuật ngữ vật lí: nhiệt năng, nhiệt l-
ợng,
II. Chuẩn bị:
1. Giáo viên: - Bóng cao su, phích nớc nóng, hai miếng kim loại, cốc
thuỷ tinh, đèn cồn,
2. Học sinh:
III. Tiến trình lên lớp:
Hoạt động của thầy và trò Ghi bảng
1. Kiểm tra bài cũ:
? Các chất đợc cấu tạo nh thế nào? Nhiệt độ của
vật và sự chuyển động của phân tử nguyên tử cáu
tạo nên vật đó có quan hệ nh thế nào?
2. Bài mới:
Gv tiến hành thí nghiệm quả bóng rơi, học sinh
quan sát.
GV: Trong quá trình rơi, cơ năng của quả bóng
giảm dần. Cơ năng của vật đã biến đổi thành dạng
năng lợng khác, đó là nhiệt năng. Vậy nhiệt năng
là gì? Bài mới.
? Động năng của vật là gì?
HS: Là cơ năng cùa vật có đợc do chuyển động.
? Vậy các nguyên tử, phân tử cấu tạo nên vật có
động năng không? Vì sao?
HS:
Gv: Tổng động năng của các phân tử cấu tạo nên
vật gọi là nhiệt năng của vật.
? Nhiệt năng của vật là gì?
? Nhiệt năng của vật và nhiệt độ của vật có quan
hệ nh thế nào? Tại sao có mối quan hệ này?
HS: .
I. Nhiệt năng:
- Nhiệt năng của vật là tổng động
năng của các phân tử cấu tạo nên
vật.
- Nhiệt độ của vật càng cao thì
nhiệt năng của vật càng lớn.
Trờng THCS Minh Đức 47 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng
Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
? Muốn biến đổi nhiệt năng của vật, ta làm nh
thế nào?
HS: Biến đổi nhiệt độ của vật.
GV đa ra một đồng xu: Muốn tăng nhiệt năng của
đồng xu này ta làm nh thế nào?
HS:
Gv chốt lại hai nhóm: thực hiện công, truyền nhiệt.
HS trả lời C1.
Gv giới thiệu cách làm thay đổi nhiệt năng thứ hai.
HS thảo luận nhóm C2.
HS lấy ví dụ về việc làm tăng nhiệt năng của vật
bằng cách truyền nhiệt.
? Muốn giảm nhiệt năng của vật ta làm nh thế
nào? Lấy ví dụ?
GV: Khi thả đồng xu vào cốc nớc nóng, nhiệt năng
của đồng xu tăng lên bao nhiêu thì nhiệt năng của n-
ớc giảm đi bấy nhiêu. Phần nhiệt năng này gọi là
nhiệt lợng. Vậy nhiệt lợng là gì?
HS đọc SGK.
GV giới thiệu đơn vị đo, kí hiệu.
GV lấy ví dụ: Đề 1kg nớc tăng thêm 1
0
C cần nhận
thêm một nhiệt lợng là 4J
3. Củng cố:
? Có mấy cách làm biến đổi nhiệt năng của vật?
? Khi cho hai vật có nhiệt độ khác nhau tiếp xúc
với nhau thì nhiệt lợng đợc truyền từ vật nào sang
vật nào?
Hs hoàn thành C3, C4, C5
II. Các cách làm biến đổi nhiệt
năng của vật:
1. Thực hiện công:
C1. Cọ xát đồng xu.
2. Truyền nhiệt:
C2.
III. Nhiệt l ợng:
- Nhiệt lợng là phần năng lợng vật
nhận đợc hay mất đi trong quá
trình truyền nhiệt.
- Kí hiệu: Q
- Đơn vị: Jun (J)
IV. Vận dụng:
C3. Nhiệt năng của miếng đồng
giảm, của nớc tăng. Hình thức
truyền nhiệt.
C4. Cơ năng Nhiệt năng
Hình thức: Thực hiện công.
C5. Một phần cơ năng đã biến đổi
thành nhiệt năng của nó, của không
khí xung quanh nó và cả mặt đất.
4. Hớng dẫn về nhà:
- Học theo SGK và vở ghi.
- Làm bài tập: 21.1, ., 21.6
- Đọc: Có thể em cha biết
Trờng THCS Minh Đức 48 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng
Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
Tiết 25: Tuần 25:
Ngày soạn: 3/3/ 08
Dẫn nhiệt
I/ Mục tiêu:
- Học sinh tìm đợc ví dụ về hiện tợng dẫn nhiệt.
- So sánh tính dẫn nhiệt của chất lỏng, rắn, khí
- Làm thí nghiệm về hiện tợng dẫn nhiệt.
II/ Chuẩn bị:
- Đèn cồn, giá đỡ, sáp nến, đinh gim, thanh kim loại.
III/ Lên lớp:
Hoạt động của thầy và trò Ghi bảng
1/ Kiểm tra bài cũ:
? Nhiệt năng của vật là gì? Mối quan hệ giữa
nhiệt năng và nhiệt độ của vật ?
? Có những cách nào làm biến đổi nhiệt năng của vật?
GV: Để biến đổi nhiệt năng của vật ta thực hiện
bằng cách thực hiện công hoặc truyền nhiệt.
Có những cách truyền nhiệt nào?
2/ Bài mới:
HS: Nghiên cứu thí nghiệm 22.1 mô tả tìm cách
lắp đặt và tiến hành thí nghiệm.
HS: Tiến hành thí nghiệm và quan sát hiện tợng
xẩy ra.
HS: Dựa vào thí nghiệm trả lời C1, C2, C3.
? Các đinh ghim rơi xuống theo thứ tự nào?
? Nhiệt đợc truyền nh thế nào trong thanh AB?
GV: Sự truyền nhiệt trong thí nghiệm vừa qua gọi
là sự dẫn nhiệt.
? Vậy sự dẫn nhiệt là gì?
I . Sự dẫn nhiệt:
1. Thí nghiệm SGK/71
2. Trả lời câu hỏi:
C1. Nhiệt truyền đến sáp nóng
lên và chẩy ra.
C2. Theo thứ tự
a b c d d e
C3. Nhiệt năng đợc truyền trong
thanh đồng AB từ AB
- Dẫn nhiệt là sự truyền nhiệt năng
Trờng THCS Minh Đức 49 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng
Vật lí 8 Năm học 2007 2008 GV: Mai Hùng Cờng
? Lấy ví dụ về sự dẫn nhiệt?
? Các chất khác nhau có dẫn nhiệt giống nhau
không?
HS: Dự đoán.
HS: Nghiên cứu thí nghiệm 22.2
? Dự đoán thứ tự rơi của 3 đinh gim?
? Hiện tợng xẩy ra chứng tỏ điều gì?
C4, C5
? Chất lỏng dẫn nhiệt nh thế nào? TN2
HS: Nghiên cứu SGK và tiến hành thí nghiệm.
HS: Mô tả hiện tợng xảy ra.
? Em có nhận xét gì về sự dẫn nhiệt của chất lỏng?
C6
Thí nghiệm 3:
HS: Tiến hành thí nghiệm và rút ra kết luận C7
? Trong 3 chất chất nào dẫn nhiệt tốt nhât?
HS: Trả lời lấy ví dụ.
3. Củng cố:
? Qua bài học này ta cần nắm những kiến thức gì?
HS đọc ghi nhớ.
HS áp dụng kiến thức hoàn thành C9, C10, C11, C12
từ phần này sang phần khác của vật
hoặc từ vật này sang vật khác.
II/ Tính dẫn nhiệt của các chất
* Thí nghiệm 1: SGK/77
C4. Không. Kim loại dẫn nhiệt tốt
hơn thuỷ tinh.
C5. Các chất rắn khác nhau dẫn
nhiệt khác nhau. Chất rắn dẫn
nhiệt tốt nhất.
* Thí nghiệm 2:
C6. Chất lỏng dẫn nhiệt kém.
* Thí nghiệm 3:
C7. Chất khí dẫn nhiệt kém.
III . Vận dụng:
C9
C10
C11
C12
4. Hớng dẫn về nhà:
- Học theo SGK và vở ghi.
- Đọc Có thể em cha biết
- Làm bài tập 22.1 22.6/SBT/29
Trờng THCS Minh Đức 50 Thuỷ Nguyên -
Hải Phòng

Nguyễn Đình chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Nguyễn Đình chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc": http://123doc.vn/document/552189-nguyen-dinh-chieu-ngoi-sao-sang-trong-van-nghe-cua-dan-toc.htm



Tiết 10 +11
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU,
NGÔI SAO SÁNG TRONG
VĂN NGHỆ CỦA DÂN
TỘC.
-Phạm Văn Đồng-

A.Mục tiêu:
Giúp học sinh:
- Tiếp thu được cách nhìn nhận, đánh giá
đúng đắn, sâu sắc và mới mẻ của Phạm
Văn Đồng về con người và thơ văn Nguyễn
Đình Chiểu.
- Nhận thấy sức thuyết phục lôi cuốn của
bài văn.
B.Phương pháp:
Hỏi đáp, diễn giảng.

C.Tiến trình dạy học:
* Ổn định lớp.
* Kiểm tra bài cũ.
* Bài mới:
Lâu nay chúng ta thường nhớ đến Nguyễn
Đình Chiểu qua một số tác phẩm được học
trong chương trình Trung học . Hôm nay chúng
ta cùng tìm hiểu thêm về con người và sự
nghiệp văn học của Nguyễn Đình Chiểu qua bài
viết của Phạm Văn Đồng : “ Nguyễn Đình Chiểu,
ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”.

I.Đọc- tìm hiểu
1.Tác giả PVĐ
- Em biết gì về PVĐ
- Ông tham gia cách mạng
từ khi nào ? Chặng
đường cách mạng gặp
những gian khổ nào ?
- Sau CMT8,ông có đóng
góp gì cho nhà nước?

- Là nhà cách mạng lớn
của nước ta. Quê ở
Quảng Ngãi.
- Tham gia cách mạng từ
rất sớm, từng bị tù đày ở
Côn Đảo.
- PVĐ có nhiều cống hiến
to lớn trong việc xây dựng
và quản lí nhà nước.
Từng giữ nhiều chức vụ
quan trọng.

2.Tác phẩm:
- Tác phẩm thuộc thể
loại gì ?
- Văn bản được ra
đời nhân dịp nào ?
-Thể loại: Văn nghị luận.
- Hoàn cảnh ra đời:
Tác phẩm được viết
1963 nhân dịp kỉ niệm 75
năm ngày mất của NĐC.

II. Khai thác văn bản:
1.Phần mở đầu:
- Câu nào chứa luận
điểm chính của cả bài
văn ?
- Theo PVĐ lí do nào
làm cho ngôi sao NĐC
chưa sáng tỏ hơn nữa
trong bầu trời văn
nghệ ?

- Theo em, “Lúc này” là
thời diểm nào ?
- Luận điểm trung tâm:
“Ngôi sao Nguyễn Đình
Chiểu… trong lúc này”.
- Nguyên nhân:
+ Nhiều người chỉ biết
NĐC là tác giả của “Truyện
Lục Vân Tiên”
+ Ít biết thơ văn yêu nước
của NĐC.
- “Lúc này”: 1963 có hàng
loạt phong trào đấu tranh
chống Mỹ ở miền Nam.

2. Con người và quan điểm thơ văn NĐC
- NĐC sống vào thời
điểm nào?
Nước nhà lâm nguy.
- NĐC lại ở trong hoàn
cảnh nào ?
Bị mù hai mắt .
- Khi bị mù, ông đã
khắc phục bằng
cách nào ?
Dạy học, bốc thuốc,
làm văn làm thơ.

- NĐC là tấm gương
sáng về nghị lực và
nhân cách trong thời
buổi có giặc ngoại
xâm.


- Quan điểm thơ văn
của NĐC có điểm gì
đáng trọng ?

- Tại sao PVĐ lại bắt
đầu phần thơ văn
yêu nước bằng việc
tái hiện lại hoàn
cảnh lịch sử nước
ta trong suốt 20
năm sau 1860 ?

- Quan điểm thơ văn:

NĐC dùng thơ văn
làm vũ khí chiến đấu
chống bọn xâm lược, ca
ngợi chính nghĩa.
- Thơ văn yêu nước:
+ Thơ văn yêu nớc
NĐC là tấm gương
phản chiếu phong trào
đấu tranh chống Pháp
oanh liệt và bền bĩ ở
Nam Bộ.


- Vì sao NĐC lại
đặc biệt nhấn
mạnh đến bài “
Văn tế nghĩa sĩ
Cần Giuộc” ?
- Ngoài ra, lòng
yêu nước của
NĐC còn thể hiện
ở đâu ?
+ PVĐ đặc biệt đánh giá
cao tác phẩm “ Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc”:
* Bài văn tế ca ngợi
những nghĩa sĩ dũng
cảm.
* Bài văn tế cũng là lời
than khóc những anh
hùng thất thế đã bỏ
mình trong cuộc chiến
vì dân, vì nước.
+ Ngoài ra, NĐC còn
nhiều bài thơ yêu nước.

- GV: Tác giả bác bỏ một
số ý kiến chưa đúng
bằng cách chỉ ra cái
hay, cái đẹp của tác
phẩm.
- Về hình thức, NĐC đã
dùng lối văn như thế
nào ?
- Tiểu kết: Qua những
điều vừa phân tích ở
trên,PVĐ đã khẳng định
điều gì ?
- “Truyện Lục Vân Tiên”:
+ Về nội dung:
Truyện là một bản trường
ca ca ngợi chính nghĩa, ca
ngợi những con người trung
nghĩa.
+ Về hình thức:
NĐC dùng lối văn nôm na
dễ hiểu dẽ nhớ, có thể truyền
bá rộng rãi trong dân gian.
=> PVĐ đã khẳng đinh nhân
cách, tài năng, và giá trị văn
học của NĐC.



3.Phần kết:
Tác giả khẳng định
NĐC là:
- Một chí sĩ yêu
nước.
- Một nhà văn nhà
thơ lớn của dân tộc.
- Một nhân cách
đáng trọng.

Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014

bt toan


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "bt toan": http://123doc.vn/document/553404-bt-toan.htm



Giê d¹y: Hãa häc 8
Gi¸o viªn: TrÇn ThÞ Tè NguyÖt
§¬n vÞ: Tr­êng THCS Yªn ThÞnh

Trả lời câu hỏi:
Dấu hiệu nào là chính để phân biệt
hiện tượng hóa học với hiện tượng vật lí?
Cho thí dụ một hiện tượng vật lí một hiện
tượng hóa học?

Tiết 18
Bài 13

Thí nghiệm:
Đun nóng mạnh đáy ống nghiệm
chứa hỗn hợp gồm bột sắt và bột lưu
huỳnh một lát rồi ngừng đun. Hỗn hợp
tự nóng sáng lên và chuyển dần thành
chất rắn màu xám. Chất rắn này là hợp
chất sắt (II) sunfua.

Chú ý
-
Dấu (+) nối giữa các chất phản ứng có
nghĩa là: phản ứng với, tác dụng với …
-
Dấu (+) nối giữa các chất sản phẩm có
nghĩa là: “ và “
-
Dấu ( ) giữa chất phản ứng và chất sản
phẩm có nghĩa là: tạo ra, sinh ra …

Bài tập 1

Xét phản ứng:
Khí Hiđro + Khí Oxi Nước
H
2
O
2
H
2
O
a) b) c)

Thảo luận nhóm trả lời câu hỏi
1)Trước phản ứng, những nguyên tử nào liên
kết với nhau?
2)Sau phản ứng, những nguyên tử nào liên
kết với nhau?
3)Trong quá trính phản ứng, số nguyên tử H
cũng như số nguyên tử O có giữ nguyên
không?
4)Các phân tử trước và sau phản ứng có khác
nhau không?


Bài tập 1 SGK trang 50
a) Phản ứng hóa học là gì?
b) Chất nào gọi là chất phản ứng (hay
chất tham gia), là sản phẩm?
c) Trong quá trình phản ứng, lượng chất
nào giảm dần, lượng chất nào tăng dần?

Bài tập 4 SGK trang 50
Điền từ hoặc cụm từ thích hợp ở trong khung
vào chỗ trống:
“Trước khi cháy chất
parafin ở thể còn khi
cháy ở thể Các
… parafin phản ứng với
các khí oxi.
rắn; lỏng;
hơi;
phân tử;
nguyên tử
“Trước khi cháy chất
parafin ở thể rắn còn khi
cháy ở thể hơi. Các phân
tử parafin phản ứng với
các phân tử khí oxi.

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2014

Tài liệu Quyết định số 5063/QĐ-UBND pptx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Quyết định số 5063/QĐ-UBND pptx": http://123doc.vn/document/1037068-tai-lieu-quyet-dinh-so-5063-qd-ubnd-pptx.htm


ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 5063/QĐ-UBND Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 10 năm
2012


QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH KẾ HOẠCH THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, GIAI ĐOẠN 2012 – 2015 VÀ GIAI ĐOẠN 2016 -
2020
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm
2003;
Căn cứ Luật số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội về ban hành
Luật Bảo hiểm Y tế;
Căn cứ Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về Quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế;
Căn cứ Công văn số 2728/BYT-BH ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Bộ Y tế về việc tăng
cường chỉ đạo thực hiện Bảo hiểm y tế;
Xét đề nghị của Giám đốc Bảo hiểm xã hội thành phố tại Tờ trình số 3738/TTr-BHXH
ngày 13 tháng 9 năm 2012,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch thực hiện Bảo hiểm y tế toàn
dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2012 - 2015 và giai đoạn 2016 -
2020.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Giám đốc Bảo hiểm xã hội
Thành phố, Giám đốc các Sở - ngành, đoàn thể thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các
quận - huyện chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Hứa Ngọc Thuận

KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH, GIAI ĐOẠN 2012 - 2015 VÀ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 5063/QĐ-UBND ngày 02 tháng 10 năm 2012 của Ủy
ban nhân dân Thành phố)
Sau ba năm triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố, Luật Bảo hiểm y tế đã đi vào
cuộc sống, được người lao động và đông đảo người dân có nhu cầu khám, chữa bệnh tích
cực tham gia. Việc triển khai Luật đã được thực hiện kịp thời, đồng bộ đến các Sở ngành
có liên quan và các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Số người tham gia Bảo hiểm Y
tế đến nay tăng 21,5% so với trước khi có Luật Bảo hiểm y tế.
Đến hết năm 2011, tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ mới có 63% dân số tham gia Bảo
hiểm Y tế. Độ bao phủ của chính sách Bảo hiểm y tế còn thấp, ngoài diện bắt buộc và cận
nghèo (được Ủy ban nhân dân Thành phố hỗ trợ mua thẻ), chỉ có người bệnh mới tự giác
mua Bảo hiểm y tế. Các diện khác (gần 40%) chưa sẵn sàng tham gia vì có thể tự trang
trải chi phí chữa bệnh và chưa thực sự hài lòng về chất lượng, sự thuận tiện khi chữa
bệnh theo tiêu chuẩn Bảo hiểm y tế, nhận thức về vai trò Bảo hiểm y tế đối với vấn đề
sức khỏe của bản thân và gia đình còn hạn chế…
Để sớm khắc phục những tồn tại nêu trên đồng thời tiến tới thực hiện Bảo hiểm y tế toàn
dân theo Luật, theo mục tiêu đã được Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
năm khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 xác định:
“ Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm y tế, đổi mới công tác quản lý nhà nước về Bảo hiểm
y tế, có chính sách khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung
bình tham gia Bảo hiểm y tế. Ðến năm 2020 trên 80% dân số tham gia Bảo hiểm y tế”.
Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Kế hoạch thực hiện Bảo hiểm y tế
toàn dân trên địa bàn thành phố giai đoạn 2012 - 2015 và 2016 - 2020 với các nội dung
cụ thể như sau:
I. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung:
Thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012 -
2015 và giai đoạn 2016 - 2020; trong đó, đặc biệt lưu ý đến đối tượng thuộc hộ gia đình
nghèo, cận nghèo; hộ gia đình làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và hộ gia đình làm kinh
tế cá thể tham gia Bảo hiểm y tế theo Luật. Xác định mức sống trung bình để có phương
án hỗ trợ người dân tham gia theo quy định.
2. Mục tiêu cụ thể:
a) Giai đoạn từ năm 2012 đến 31 tháng 12 năm 2015:
Phát triển Bảo hiểm y tế toàn dân theo các nhóm đối tượng, đến cuối năm 2015 tỷ lệ tham
gia đạt 76% dân số của thành phố. Cụ thể như sau:
- Nhóm 1: tỷ lệ tham gia đạt 85%, gồm có:
+ Người lao động, người quản lý doanh nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức quy định
tại Khoản 1, Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế
+ Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, hạ sĩ quan,
chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng Công an nhân dân.
+ Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất
nghiệp.
+ Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm.
- Nhóm 2: tỷ lệ tham gia đạt 100%, gồm có:
+ Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng.
+ Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp.
+ Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hàng tháng từ ngân
sách nhà nước; công nhân cao su nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết
định số 206/CP ngày 30 tháng 5 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ).
+ Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng
tháng.
+ Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp từ ngân sách nhà nước
hàng tháng bao gồm các đối tượng theo quy định tại Quyết định số 130/CP ngày 20 tháng
6 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) và Quyết định số 111/HĐBT
ngày 13 tháng 10 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
+ Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với
cách mạng.
+ Cựu chiến binh đã tham gia kháng chiến từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước theo
quy định tại Khoản 6, Điều 5 Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2006
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Cựu
chiến binh; thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Pháp theo Quyết định số
170/2008/QĐ-TTg ngày 18 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bảo
hiểm y tế và trợ cấp mai táng phí đối với thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp.
+ Người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước là các đối tượng quy định tại
Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ
về chế độ, chính sách đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ
cứu nước nhưng chưa được hưởng chính sách của Đảng và Nhà nước và Quyết định số
188/2007/QĐ-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ
sung, sửa đổi Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Thủ
tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng
chiến chống Mỹ cứu nước nhưng chưa được hưởng chính sách của Đảng và Nhà nước.
+ Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng là các đối tượng quy định tại
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ hướng dẫn về
chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.
+ Thân nhân của người có công với cách mạng thực hiện theo quy định của pháp luật về
ưu đãi người có công với cách mạng.
+ Thân nhân của các đối tượng quy định tại Điểm a, b và c Khoản 16, Điều 12 Luật Bảo
hiểm y tế.
+ Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật về hiến, lấy, ghép mô,
bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác.
+ Người lao động nghỉ việc đang hưởng chế độ ốm đau theo quy định của pháp luật về
bảo hiểm xã hội do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy định
của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Nhóm 3: Tỷ lệ tham gia đạt 60%, gồm có:
+ Người thuộc hộ gia đình nghèo.
+ Người thuộc hộ gia đình cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
- Nhóm 4: Tỷ lệ tham gia đạt 100%: Trẻ em dưới 6 tuổi.
- Nhóm 5: Tỷ lệ tham gia đạt 90%, gồm có:
+ Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà
nước Việt Nam.
+ Học sinh, sinh viên đang theo học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc
dân.
- Nhóm 6: Tỷ lệ tham gia đạt 30%, gồm có:
+ Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp.
+ Thân nhân của người lao động quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật Bảo hiểm Y tế bao
gồm: bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ hoặc chồng; bố, mẹ nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp; vợ
hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp mà người lao động có trách nhiệm nuôi dưỡng và
sống trong cùng hộ gia đình.
+ Xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể.
b) Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020:
Duy trì các mục tiêu đã đạt của giai đoạn 2012-2015, tiếp tục phát triển Bảo hiểm Y tế
các nhóm đối tượng đến năm 2020 có từ 80% dân số thành phố tham gia Bảo hiểm Y tế.
Cụ thể:
- Nhóm 1: Đạt 90%
- Nhóm 2: Đạt 100%
- Nhóm 3: Đạt 70%
- Nhóm 4: Đạt 100%
- Nhóm 5: Đạt 95%
- Nhóm 6: Đạt 50%
II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Tăng cường sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện nghiêm
chính sách pháp luật, các chương trình, mục tiêu, kế hoạch về bảo hiểm y tế giai
đoạn 2012 - 2020 trên địa bàn thành phố
- Bổ sung mục tiêu, kế hoạch thực hiện lộ trình Bảo hiểm y tế toàn dân vào các chương
trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và các quận huyện.
- Các cấp, các ngành phải xem việc thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân là trách nhiệm,
nghĩa vụ và quyền lợi trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, đảm bảo sức khỏe
cộng đồng và thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.
- Thực thi đầy đủ chức năng quản lý nhà nước để bảo vệ quyền lợi và đáp ứng nhu cầu
của người dân về Bảo hiểm y tế thông qua sự chỉ đạo các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân
dân quận - huyện. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải
quyết khiếu nại, tố cáo về Bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
- Bảo đảm kinh phí đóng Bảo hiểm y tế cho các đối tượng được ngân sách nhà nước đóng
hoặc hỗ trợ theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế.
2. Tăng cường hoạt động phối hợp của các Sở, ngành, đoàn thể các cấp với cơ quan
Bảo hiểm xã hội bằng quy chế cụ thể để triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm y tế
3. Nâng cao năng lực tổ chức triển khai, tạo mọi thuận lợi cho đơn vị sử dụng lao
động, người dân đăng ký tham gia bảo hiểm y tế; tăng cường chất lượng khám,
chữa bệnh và điều trị, bảo đảm quyền lợi cho người có thẻ bảo hiểm y tế.
- Đối với Bảo hiểm xã hội thành phố: Cải cách thủ tục hành chính thực hiện chính sách
Bảo hiểm y tế, đảm bảo cấp thẻ và giải quyết kịp thời các chế độ đối với người tham gia
Bảo hiểm y tế.
- Đối với các cơ sở khám, chữa bệnh: Tăng cường nhân lực, nâng cao y đức phục vụ
người bệnh; nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ công chức; tập trung hoàn thiện
cơ sở hạ tầng, trang thiết bị; nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế tại bệnh viện và các cơ
sở khám, chữa bệnh, đảm bảo quyền lợi người có Bảo hiểm y tế; đầu tư trang thiết bị y tế,
tăng cường phát triển các kỹ thuật mới để nâng cao chất lượng điều trị cả 2 lĩnh vực lâm
sàng và cận lâm sàng.
- Xác định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp phường, xã trong việc tổ chức đại lý thu
Bảo hiểm y tế hộ gia đình và đưa chỉ tiêu Bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn vào kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương.
4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về Bảo hiểm y tế
tới các nhóm đối tượng, nhằm nâng cao nhận thức nhân dân về trách nhiệm và
quyền lợi trong thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế, góp phần đảm bảo an sinh xã
hội, tạo động lực thúc đẩy toàn dân tích cực tham gia
- Hoạt động thông tin, tuyên truyền phải thường xuyên, liên tục, sâu rộng đến tất cả các
nhóm đối tượng với nhiều hình thức phong phú và những cách tiếp cận khác nhau như
trao đổi thông tin, trả lời phỏng vấn trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, các trang
báo điện tử của cơ quan Bảo hiểm xã hội các địa phương… để cung cấp thông tin, giải
đáp thắc mắc hoặc tư vấn cho người dân về Bảo hiểm y tế, bảo đảm các đối tượng tiếp
cận đầy đủ các thông tin về chính sách Bảo hiểm y tế và cách thức tham gia.
- Tổ chức tốt kênh thông tin trực tiếp với các chủ doanh nghiệp, nâng cao ý thức trách
nhiệm trong việc chăm lo đến sức khỏe người lao động để giúp cho người lao động yên
tâm với công việc, từ đó gắn bó với doanh nghiệp. Mặt khác, giúp cho các doanh nghiệp
hiểu rõ việc tuân thủ pháp luật, cụ thể là tuân thủ việc tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo
hiểm y tế cho người lao động là một quy luật tất yếu để hội nhập và phát triển kinh tế
trong thời đại hiện nay, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế
(WTO).
- Hợp tác thường xuyên và chặt chẽ với các cơ quan truyền thông đại chúng, đây là công
cụ đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, làm chuyển
biến, nâng cao hiểu biết về chính sách, vai trò và lợi ích của Bảo hiểm y tế đối với mỗi
người dân và với toàn xã hội trong phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an sinh xã hội.
- Thường xuyên tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho những người làm công tác quản lý Bảo
hiểm y tế và công tác khám chữa bệnh.
5. Tăng cường công tác thanh kiểm tra việc thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội,
Bảo hiểm y tế trên địa bàn
- Xây dựng kế hoạch thanh tra, kịp thời phát hiện và có biện pháp xử lý, kiến nghị xử lý
các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm Luật Bảo hiểm Y tế.
- Tăng cường thanh tra chuyên ngành, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo
hiểm Y tế.
- Tăng cường kiểm tra tại các cơ sở khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế, xử lý kịp thời đối
với các hành vi cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người tham gia Bảo hiểm Y tế.
6. Đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng các cá nhân, đơn vị thực hiện tốt; xử
phạt các đơn vị vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.
- Hàng năm, Ủy ban nhân dân Thành phố tổ chức đánh giá việc thực hiện kế hoạch Bảo
hiểm Y tế toàn dân trên địa bàn thành phố.
- Các đơn vị đưa nội dung Kế hoạch Bảo hiểm Y tế toàn dân vào chỉ tiêu thi đua hàng
năm của cơ quan, đơn vị; cuối năm sơ kết, đánh giá, biểu dương khen thưởng tập thể, cá
nhân có thành tích xuất sắc.
7. Huy động các nguồn lực cho hoạt động phát triển thẻ Bảo hiểm y tế:
Vận động toàn dân tham gia Bảo hiểm Y tế, tranh thủ huy động nguồn lực của các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước cho mục tiêu Bảo hiểm Y tế toàn dân.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Y tế:
- Chủ trì, phối hợp với Bảo hiểm xã hội thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận,
huyện và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức thực hiện Kế hoạch này trong năm 2012
và những năm tiếp theo, đảm bảo mục tiêu đề ra; thực hiện thanh tra, kiểm tra, đôn đốc
và định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố về kết quả thực hiện.
- Tăng cường chất lượng khám, chữa bệnh và điều trị, bảo đảm quyền lợi cho người có
thẻ bảo hiểm y tế. Đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị; xây dựng quy trình thủ
tục khám chữa bệnh khoa học tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh; đào tạo, bổ sung
nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; nâng cao y đức, tinh thần, thái
độ phục vụ trong cán bộ, công chức, viên chức của ngành để phục vụ tốt nhu cầu khám,
chữa bệnh cho nhân dân.
- Tăng cường công tác thanh kiểm tra việc thực hiện chính sách Bảo hiểm Y tế trên địa
bàn; xử lý hoặc kiến nghị xử lý vi phạm pháp luật về Bảo hiểm Y tế kịp thời theo thẩm
quyền.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về Bảo hiểm xã hội,
Bảo hiểm y tế tới các nhóm đối tượng, nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về trách
nhiệm và quyền lợi trong thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, góp phần
đảm bảo an sinh xã hội, tạo động lực thúc đẩy toàn dân tích cực tham gia.
- Có lộ trình chuyển các thẻ Bảo hiểm Y tế đang đăng ký tại tuyến tỉnh về tuyến quận,
huyện, xã, phường, thị trấn. Tăng cường thẩm định và nâng cao năng lực khám, chữa
bệnh tại các trạm y tế xã thuộc các huyện ngoại thành, vùng ven.
- Phối hợp với Bảo hiểm xã hội Thành phố thực hiện các giải pháp sử dụng có hiệu quả
quỹ khám, chữa bệnh, tránh lãng phí. Trước mắt, Sở Y tế tham khảo ý kiến các hội đồng
chuyên môn thống nhất hướng dẫn phác đồ điều trị một số bệnh sử dụng thuốc giá cao,
một số bộ xét nghiệm tiền phẫu thuật, các xét nghiệm trong theo dõi các bệnh lý như sản
khoa, cao huyết áp, rối loạn lipid cho các cơ sở y tế.
- Thực hiện kiểm soát việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế, tiến đến áp dụng cơ chế đấu
thầu thuốc tập trung để đảm bảo việc quản lý giá thuốc, vật tư y tế tại các bệnh viện;
khuyến cáo các bệnh viện sử dụng thuốc hiệu quả.
2. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội Thành phố và các Sở, ngành, Ủy ban
nhân dân các cấp nâng cao năng lực tổ chức triển khai, tạo mọi thuận lợi cho đơn vị sử
dụng lao động, người dân đăng ký tham gia Bảo hiểm y tế.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình chấp hành pháp luật về lao động của
các doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố.
- Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội, Sở Y tế và các sở ngành có liên quan đẩy mạnh
công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm Y tế
tới các nhóm đối tượng, nhằm nâng cao nhận thức nhân dân về trách nhiệm và quyền lợi
trong thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, góp phần đảm bảo an sinh xã
hội, tạo động lực thúc đẩy toàn dân tích cực tham gia.
- Tập trung khảo sát thực hiện chính sách lao động từ cấp thành phố đến quận huyện để
đảm bảo đồng bộ trong quản lý, nhằm nắm chắc tình hình lao động thuộc diện phải tham
gia Bảo hiểm Y tế để phối hợp với cơ quan Bảo hiểm xã hội tổ chức thu và phát hành thẻ
đúng quy định.
- Căn cứ hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức thực hiện việc xác
định tiêu chí hộ gia đình có mức sống trung bình, làm cơ sở cho việc tổ chức vận động,
thu bảo hiểm y tế của nhóm đối tượng thuộc hộ gia đình nông, lâm, ngư, diêm nghiệp.
- Hàng quý, tổng hợp và chuyển danh sách cho Bảo hiểm xã hội Thành phố theo dõi việc
tham gia của các doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm
Y tế, các đơn vị đã đi vào hoạt động nhưng chưa tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm Y
tế cho người lao động.
- Chủ trì, phối hợp với Bảo hiểm xã hội Thành phố kiểm tra việc triển khai thực hiện
chính sách Bảo hiểm Y tế cho các đối tượng chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội, người
nghèo, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi của thành phố. Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành
liên quan nghiên cứu, đề xuất phân cấp cho quận, huyện thực hiện bảo hiểm y tế dành
cho các đối tượng bảo trợ xã hội.
- Phối hợp với Bảo hiểm xã hội Thành phố triển khai thực hiện Bảo hiểm y tế cho sinh
viên, học sinh học nghề tại các cơ sở dạy nghề.
- Phối hợp Sở Tài chính thẩm định dự toán, kinh phí ngân sách đóng Bảo hiểm Y tế cho
đối tượng được cấp thẻ Bảo hiểm y tế thuộc diện ngân sách thành phố hỗ trợ.
- Chỉ đạo các Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận, huyện phối hợp cùng các
ngành liên quan tổ chức thực hiện tốt Luật Bảo hiểm y tế cho các đối tượng như: Trẻ em
dưới 6 tuổi, đối tượng hộ cận nghèo.
3. Bảo hiểm xã hội Thành phố:
- Hướng dẫn quy định về quản lý thu, cấp và quản lý thẻ Bảo hiểm y tế cho các đối tượng
trên địa bàn thành phố. Thực hiện các chế độ, chính sách về Bảo hiểm y tế, quản lý và sử
dụng Quỹ Bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế, các đoàn thể, các ngành liên quan và Ủy ban nhân dân
quận, huyện tổ chức vận động, tuyên truyền về chính sách Bảo hiểm y tế, nhất là quyền
lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người tham gia Bảo hiểm y tế.
- Tổ chức kiểm tra, giám định việc thực hiện Bảo hiểm y tế; phối hợp Sở Y tế trong công
tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về Bảo hiểm y tế theo quy định.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ các cấp đáp ứng tình
hình phát triển Bảo hiểm y tế.
- Phối hợp với các ngành chủ động khai thác có hiệu quả các đối tượng tham gia Bảo
hiểm y tế.
- Hàng năm, lập dự toán và tổng hợp số liệu học sinh sinh viên tham gia Bảo hiểm y tế,
đề nghị Sở Tài chính cấp chuyển kinh phí thuộc ngân sách Nhà nước hỗ trợ mức đóng
Bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên theo điểm b, Khoản 3, Điều 3 tại Thông tư liên tịch
số 09/2009/TT-BYT-BTC ngày 14 tháng 8 năm 2009 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính.
- Định kỳ hàng quý tổ chức đánh giá tình hình sử dụng Quỹ khám bệnh, chữa bệnh Bảo
hiểm y tế, kịp thời kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền các biện pháp nhằm đảm bảo
quyền lợi của người tham gia Bảo hiểm y tế.
- Phối hợp Sở Y tế xem xét nguồn kết dư hàng năm từ quỹ Bảo hiểm y tế, mua sắm trang
thiết bị đầu tư cho cơ sở y tế và các hoạt động về tuyên truyền và thi đua khen thưởng
theo quy định.
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng
các cá nhân, đơn vị thực hiện tốt; xử phạt các đơn vị vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã
hội, Bảo hiểm y tế.
4. Sở Tài chính:
- Hàng năm, phối hợp với cơ quan, đơn vị sử dụng lao động; các ngành có liên quan và
Ủy ban nhân dân cấp phường, xã, thị trấn: Thẩm định dự toán ngân sách đóng Bảo hiểm
y tế cho các đối tượng thuộc diện ngân sách thành phố đóng và hỗ trợ đóng theo quy định
tại Khoản 2 và Điểm b - Khoản 3, Điều 4 của Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-
BTC ngày 14 tháng 8 năm 2009 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Bảo
hiểm y tế, trình Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, bố trí ngân sách.
- Hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán nguồn kinh phí thực hiện kế hoạch
này theo quy định.
5. Sở Giáo dục và Đào tạo:
- Chỉ đạo các trường công lập, ngoài công lập trên địa bàn thành phố thực hiện đầy đủ,
nghiêm túc Luật Bảo hiểm y tế, đưa chỉ tiêu 100% tham gia bảo hiểm y tế là một nhiệm
vụ trọng tâm cần phải đạt được của nhà trường.
- Tuyên truyền, giáo dục học sinh, sinh viên về ý thức chấp hành pháp luật, trong đó có
việc chấp hành Luật Bảo hiểm y tế; giáo dục các em hiểu về ý nghĩa, quyền lợi và nghĩa
vụ của mình khi tham gia Bảo hiểm y tế.
- Phối hợp chặt chẽ với Bảo hiểm xã hội Thành phố trong công tác tuyên truyền, vận
động, thu phí và phát hành thẻ Bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên.
- Cùng với Bảo hiểm xã hội thành phố và Sở Y tế củng cố và phát triển mạng lưới y tế
trường học để làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho học sinh, sinh viên ngay
tại trường học, sử dụng kinh phí y tế học đường đúng mục đích quy định.
- Đưa chỉ tiêu tham gia Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên vào kế hoạch năm học và đánh
giá thi đua việc thực hiện pháp luật của các trường học.
6. Công an Thành phố, Bộ Tư lệnh Thành phố:
Tổ chức công tác lập danh sách thân nhân cán bộ, chiến sĩ trong ngành, phối hợp chặt chẽ
với Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Thành phố để thực hiện việc cấp
thẻ Bảo hiểm y tế cho đối tượng này kịp thời, theo đúng quy định của pháp luật.
7. Sở Kế hoạch và Đầu tư:
Cập nhật tình hình biến động của các doanh nghiệp như danh sách các đơn vị mới đăng
ký hoạt động, doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố để cơ quan Bảo hiểm
xã hội tổ chức quản lý đơn vị tham gia Bảo hiểm xã hội - Bảo hiểm y tế.
8. Cục Thuế Thành phố:
Cung cấp danh sách các doanh nghiệp đã thực hiện đăng ký thuế trên địa bàn cho Bảo
hiểm xã hội Thành phố để phối hợp quản lý chặt chẽ tình hình đăng ký tham gia bảo hiểm
xã hội, Bảo hiểm y tế đối với người lao động.
9. Sở Thông tin và Truyền thông:
- Phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên
truyền, vận động toàn dân tham gia Bảo hiểm y tế.
- Chỉ đạo các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Thành phố thực hiện tuyên
truyền Luật Bảo hiểm y tế, chính sách Bảo hiểm y tế toàn dân với nhiều hình thức tuyên
truyền đa dạng, phù hợp với tính chất đặc thù của các loại hình báo đài.
10. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
Phối hợp với Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội Thành phố và các đơn vị, địa phương liên quan
thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia Bảo hiểm y
tế.
11. Sở Nội vụ:
Theo dõi, kiểm tra, đánh giá, kịp thời đề xuất biểu dương, khen thưởng các cơ quan, đơn
vị và cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình triển khai thực hiện Kế hoạch này.
12. Đài Truyền hình, Đài Tiếng nói nhân dân Thành phố, các cơ quan báo chí,
truyền thông:
- Phối hợp với Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội Thành phố và các Sở, ngành liên quan xây dựng
chuyên trang, chuyên mục về chính sách Bảo hiểm y tế toàn dân để tuyên truyền đến mọi
người dân trên địa bàn thành phố.
- Phối hợp với Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội Thành phố thành lập bộ phận chuyên trách thực
hiện công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách Bảo hiểm y tế toàn dân, trả lời hộp thư
truyền hình, xây dựng các chuyên đề giới thiệu về Bảo hiểm y tế toàn dân…
- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến chính sách Bảo hiểm y tế toàn dân cho cán
bộ, nhân dân.
13. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các đoàn thể:
Phát động phong trào và vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia chương trình
Bảo hiểm y tế toàn dân. Vận động các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm đóng
góp, ủng hộ kinh phí để hỗ trợ cho 100% người nghèo, người cận nghèo của thành phố
được tham gia Bảo hiểm y tế.
14. Liên đoàn Lao động Thành phố:
- Tăng cường hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở để kiểm tra, giám sát việc tổ chức
thực hiện luật Bảo hiểm y tế tại các cơ quan, doanh nghiệp, bảo đảm cho người lao động
được tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế đầy đủ và hưởng chính sách đúng quy
định.
- Phối hợp với các đơn vị liên quan tham gia thanh tra, kiểm tra và phát hiện những hành
vi vi phạm pháp luật lao động, vi phạm quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội, Bảo
hiểm y tế của các đơn vị sử dụng lao động, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người
lao động.
15. Ủy ban nhân dân các quận, huyện:
- Tăng cường quản lý, chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, doanh nghiệp trên địa
bàn tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong việc thực hiện nghiêm chính sách
pháp luật, các chương trình, mục tiêu về bảo Bảo hiểm xã hội - Bảo hiểm y tế giai đoạn
năm 2012 - 2020 trên địa bàn quản lý.
- Chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể trên địa bàn phối hợp chặt chẽ với cơ quan Bảo hiểm
xã hội quận, huyện trong tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế, đẩy mạnh các hình thức
tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân.
- Chỉ đạo Đài Truyền thanh huyện dành thời lượng phát sóng tuyên truyền, phổ biến các
chính sách Bảo hiểm y tế toàn dân cho cán bộ, nhân dân, chú trọng các đối tượng học
sinh, sinh viên, người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, hộ kinh doanh cá
thể và nông dân ở khu vực ngoại thành.
- Tổ chức thực hiện Kế hoạch Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn quận, huyện đảm bảo
các mục tiêu đề ra, đưa nội dung thực hiện vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của quận, huyện; thực hiện công tác sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện.
- Bảo đảm kinh phí đóng Bảo hiểm y tế cho các đối tượng được ngân sách nhà nước đóng
hoặc hỗ trợ theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế.
- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn và các ngành thực hiện kế hoạch
tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về Bảo hiểm y tế.
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về Bảo hiểm y
tế theo quy định.
- Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân Thành phố về kết quả thực hiện mục tiêu Bảo
hiểm y tế toàn dân trên địa bàn quản lý; đưa chỉ tiêu dân số tham gia Bảo hiểm y tế vào
chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, coi kết quả thực hiện chính sách Bảo
hiểm Y tế là một chỉ tiêu đánh giá nhiệm vụ chính trị của địa phương.
16. Ban Quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp, Khu Công nghệ cao:
- Thường xuyên kiểm tra và có biện pháp đôn đốc việc thực hiện Luật Bảo hiểm y tế của
các doanh nghiệp trong khu vực quản lý theo đúng quy định.
- Phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý nghiêm các doanh nghiệp có hành vi vi phạm
Luật Bảo hiểm y tế. Phối hợp với Bảo hiểm xã hội Thành phố khởi kiện những doanh
nghiệp vi phạm để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
- Phối hợp với cơ quan Bảo hiểm xã hội và các ngành có liên quan tuyên truyền pháp luật
về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế đến người sử dụng lao động và nguời lao động trong
khu vực quản lý.
17. Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố phải nghiêm túc thực
hiện Luật Bảo hiểm y tế; có trách nhiệm báo cáo và trích nộp đầy đủ, kịp thời Bảo hiểm y
tế cho người lao động đúng quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân Thành phố yêu cầu Thủ trưởng các Sở, ngành chức năng, Ủy ban nhân
dân quận, huyện và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong năm 2012 và những năm

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2014

Tài liệu Poverty-Eradication and Sustainable Development ppt


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Poverty-Eradication and Sustainable Development ppt": http://123doc.vn/document/1038221-tai-lieu-poverty-eradication-and-sustainable-development-ppt.htm


Poverty-eradication and
Sustainable Development
Introduction
This paper examines South Africa’s record since 1992 in eradi-
cating poverty within a sustainable development framework as
spelt out in Agenda 21, the document adopted in that year by
the Earth summit in Rio de Janeiro. It begins by presenting a
brief snapshot of poverty in South Africa, the better to appre-
ciate the magnitude of the challenge of poverty eradication.
The next section presents an analytical overview of the rela-
tionship between poverty and the environment. Then, it
examines specific anti-poverty initiatives of the government,
and asks how successful they are in terms of reducing poverty,
and to what degree they do so in a manner that is consistent
with the principles of sustainable development. The paper
concludes by summarising the success of the government’s
anti-poverty measures in terms of the principles of the
National Environmental Management Act (Nema), and by
making recommendations for how some of the lapses could be
addressed.
Two qualifications should be indicated. First, although Agenda
21 was adopted in 1992, in practice our point of departure is
more typically 1994, i.e. the year in which the first racially-
inclusive democratic elections took place, and the ANC-led
1

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za
government took power. This year represented a watershed not
just in terms of power relations, but also coincided with the
introduction of new approaches to development and poverty
alleviation. Second, in some instances the anti-poverty govern-
ment initiatives examined are not project interventions as such
but rather broad policy frameworks. In these cases, we ask not
how successful the frameworks have been in reducing poverty
through sustainable development (because that would be
exceptionally difficult to infer), but rather how coherent they
are in terms of poverty eradication through sustainable deve-
lopment, and their likely influence in the pursuit thereof.
A brief overview of poverty in South Africa
The particular configuration of poverty in South Africa is a
fairly straightforward outcome of colonial and apartheid
engineering. The most salient elements of this engineering were
large-scale land dispossession, the establishment of increasingly
overcrowded and poorly resourced homelands for the majority
black population, and the migratory labour system that formed
the backbone of the country’s mining and industrial sectors.
The geographical, racial, and gender dimensions of contem-
porary poverty are in large measure the legacy of this historical
experience. The focus here is on three aspects of poverty –
namely income poverty, quality of life and inequality.
Income poverty Based on a per adult equivalent poverty line
of R352 per month, in 1995 61% of Africans were poor, 38%
of coloureds, 5% of Indians, and 1% of whites (May et al.,
2000). Although the data are old and the percentages have
likely changed in the meantime, the stark racial differentiation
certainly still obtains. There is also a strong geographical
dimension to the incidence of poverty. Based on the same data
set, 72% of all poor people (those below the poverty line)
reside in rural areas, and 71% of all rural people are poor. By
most measures, the poorest provinces are those encompassing
Michael Aliber
2

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za
the most populous former homeland areas, namely KwaZulu-
Natal, Northern Province, and Eastern Cape.
A reasonable proxy for income poverty is child under-
nutrition. Around 23 per cent of children under six years of age
are stunted, indicating a protracted period of under-nutrition
(Steyn, 2000). The most seriously affected children are those in
rural areas whose mothers have relatively little education. In
addition, the infant mortality rate is eight to ten times higher
for blacks than for whites.
The way in which data are captured in Stats SA's main
annual survey, i.e. the October Household Survey, is not
comparable to that for the Income and Expenditure Survey of
1995, upon which the headcount measures reported above are
based. For that reason, it is not possible to state trends in the
headcount measure of income poverty since 1995.
1
However,
the direction of the trend is not difficult to guess, given the
close relationship between poverty and unemployment. For
example, among those who were below the poverty line in
1995, the unemployment rate was 55%, where as among those
above the poverty line, the unemployment rate was 14% (May
et al., 2000). In terms of formal sector employment, in the 5
years since 1996 there has been a contraction of more than
800 000 jobs, or about 5% of the workforce. While there has
been a countervailing increase in informal sector employment,
it is well known that these jobs are much less remunerative on
average (Kingdon & Knight, 2000). The implication is that,
most likely, the prevalence of income poverty has worsened
over the past half decade.
An important dimension of income poverty that is receiving
more and more attention is its duration. Based on data from
KwaZulu-Natal, it would appear that more than half of those
households that were poor in 1998, were also poor in 1993,
meaning that they are ‘chronically poor’ (Roberts, 2000). At
least for the KwaZulu-Natal data set, the incidence of chronic
poverty tends to be much higher among rural households,
female-headed households, households with older household
heads, and those households with below-average access to less
Poverty-eradication and Sustainable Development
3

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za
arable land. The experience of ‘transitory’ or ‘episodic’ poverty
– i.e. households that escaped poverty between 1993 and 1998
or, conversely, fell into poverty between 1993 and 1998 – is
largely a function of employment transitions, in terms of a
household member getting or losing a key job (Cichello, Fields
& Leibbrandt, 2000).
Quality of life By this we mean aspects of the experience of
well-being not necessarily related to personal income. One
major contributor to a good quality of life is access to services
and infrastructure, such as potable water, electricity, roads, etc.
Such services impact on quality of life in a number of ways, eg.
by diminishing the time or energy needed to collect water or
fuel wood, by diminishing the risks associated with unprotect-
ed water sources, poor waste disposal, or charcoal fires, and by
facilitating engagement in economic activities. Not surprising-
ly, access to services is highly differentiated between rural and
urban areas. As of 1995, only 21 per cent of rural households
had electricity within the house, against 82 per cent for urban
households. For indoor running water, the figures were 17 per
cent and 74 per cent respectively. While these gaps may have
narrowed somewhat under the post-apartheid government’s
infrastructure drive, the backlog remains large across the
whole range of services.
Other aspects of quality of life may be less tangible, but no
less important to the experience of poverty or non-poverty.
The Speak Out on Poverty Hearings sponsored by the South
African NGO Coalition (Sangoco) in 1998, evoked many of
the experiential aspects of poverty, including exposure to
crime and violence, a sense of vulnerability and powerlessness,
disrespect from government officials (eg. those responsible for
pension payouts), etc. The same could be said of the South
African Participatory Poverty Appraisal (SA-PPA) of 1999/
2000, which vividly portrayed the relationship of poverty to
hopelessness, social isolation and family fragmentation (May et
al., 1997).
Michael Aliber
4

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za
Inequality Inequalities in South Africa are extreme, as already
suggested by some of the headcount measures reported on
page 3. South Africa’s individual-based Gini coefficient is 0.73
(StatsSA, 2000), which is only excelled by a handful of
countries in the world. As shown in May et al. (1997), the
wealthiest ten per cent of the country’s households account for
40 per cent of all private income earned, and seven per cent of
the total population (implying smaller-than-average household
size). By contrast, the poorest 40 per cent of households
account for only 11 per cent of total income. As made evident
in the course of the poverty hearings, perceptions of continued
inequality do much to contribute to the disillusionment and
frustration associated with material poverty.
Inequality is also evident in terms of access to services,
health status, etc. For example, 18 per cent of households
within the poorest decile must travel more than one
kilometre to access water, versus 1 per cent of households in
the top three deciles (Budlender, 1999).
Poverty and environment in South Africa
Although the pre-1994 government attached considerable
significance to conservation of natural environments, its
approach required exclusion of local people from the environ-
mentally protected areas converted into parks and reserves to
serve conservation and recreational interests. The impact of
these protected areas on the culture, livelihoods and environ-
ments of local people did not receive much attention. The
communities that were removed were often resettled on
inferior land (according to apartheid group areas or outside
the proclaimed parks), where previous livelihoods could not
be sustained and crowded conditions led to further degrada-
tion of the land. This series of events served to reinforce the
already prevalent view that poor people impact negatively on
the environment, which therefore needs to be protected by
their exclusion. The fact that poverty was often exacerbated as
Poverty-eradication and Sustainable Development
5

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za
a consequence of already depleted or inferior environments
and the hidden costs of large-scale industrial exploitation was
largely ignored.
A fuller understanding of the relationship between
environment and poverty needs to take into account the
complex relations existing within each system. The environ-
ment is composed not only of ‘things’ but more importantly
the relations between them. Ecological relatedness of orga-
nisms is one example; how people relate to their environment
is another. Environmental degradation occurs as a consequence
of skewed power relationships where environmental resources
are used faster than nature produces them, or where wastes
from human production / consumption pollute the environ-
ment faster than nature can clean them. The potential for
environmental degradation is therefore inherent in human
existence (people sustain their living from the environment)
and not a recent phenomenon, but the current pace and global
scale of environmental degradation are unprecedented (Butler
& Hallows, 1998).
Similarly, poverty can be understood as a system of rela-
tionships that have the cumulative effect of excluding people
from processes of development and accumulation. Skewed
power relations and economic, political or social injustices that
deny people access to empowering resources such as safe
water, health services or education can be contributing factors.
The viability of people’s livelihoods is often largely contingent
on relationships that ensure the continued access to environ-
mental resources. Such continued access, however, requires
not only the sustained provision of resources but also the just
and equitable access to them. Sustainable development can
thus be thought of as a pattern of relations between people
and between people and the environment that will ensure and
not undermine future development (Butler & Hallows, 1998).
What form should sustainable development take to benefit
people and their environment? What forms of interaction exist
currently and what kinds of interactions would be desirable or
necessary to maximise mutual benefits? The interface between
Michael Aliber
6

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za
poverty and environment is multi-layered and complex, often
appearing as self-perpetuating cycles or escalating downward
spirals. For example: many poor rural South Africans occupy
inferior land; in their attempt to eke out a living, they contri-
bute to the downgrading of their environment; the impove-
rished environment exacerbates prevailing poverty, which in
turn puts more pressure on the environment. Such cycles are
hard to break and even more difficult to reverse.
A useful summary of the ways in which poverty and environ-
ment may interact is provided by Parnell’s (2000) five main
ways of understanding the interdependencies between poverty
and the environment. These are: poverty and environmental
governance; poverty, disasters and risk mitigation; poverty, the
environment and livelihoods; poverty and environmental
degradation; and poverty and environmental justice and
entitlement. Together, these modes of interaction provide an
overview of issues that need to be addressed, while a closer look
into each area reveals its complex nature and inter-relatedness
within the South African context, not least in relation to
development. These interdependencies are described here, with
an attempt to illustrate them through the historical example of
the former Betterment Schemes (see page 11).
Poverty and environmental governance ‘Environmental gover-
nance’ describes a form of decision-making and environmental
management that requires shared responsibility and the involve-
ment of all affected parties. Such a thoroughly democratic
approach sets out to achieve greater efficiency as well as better
access and improved management. The move towards
governance is partly motivated by the failure of orthodox
approaches, where inadequate consultation or imposed ‘solu-
tions’ jeopardise outcomes, as localised root causes remain
unaddressed because local people – especially low-income
people – are not involved and therefore ‘uncooperative’ since
their most pressing needs are largely unmet.
Poverty, disasters and risk mitigation Extreme natural events
exerting a cumulative or large-scale negative impact on the
Poverty-eradication and Sustainable Development
7

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za
livelihoods of vulnerable people – i.e. disasters – are seldom
entirely natural. Many human-made factors contribute to
natural hazards, either by creating environmental conditions
conducive to disaster, or through ‘social processes and condi-
tions that leave people vulnerable, exposing them to shock
while rendering them unable to maintain their ability to meet
their own basic needs’ (Parnell, 2000). Among the factors that
contribute to increased vulnerability or an environmental
predisposition to disasters are population growth; urbanisa-
tion; inadequate settlement regulation; international financial
interventions; land degradation; global changes in environment
and climate; and war.
In the short term, natural extremes are beyond human
control, other than by refining available methods of forecasting
and intervening to minimise the impact. Far more effective
control can be applied to the human behaviour affecting
environmental hazards and to political, social and economic
systems of unjust power relations that leave people vulnerable
and unable to prepare for and respond to disaster. Mitigation
of risks, either to reduce the likelihood of a negative event or
to improve people’s ability to cope in the face of such an
event, presents considerable scope for development in the
areas of poverty and environment.
Poverty, the environment and livelihoods The livelihoods
model pays attention to relationships at a micro-level, with the
understanding that access to resources is contingent on
relationships within a household, within the wider community
and to the economy at large. In some areas the poor organise
and maximise largely in non-monetary terms, thus their
livelihood strategies are heavily reliant on natural resources
and/or social capital. Most rural households, however, pursue
diversified livelihood strategies, thus even those who do not
identify themselves as farmers may rely on natural resources to
a very important degree. The question about what social
conditions might serve to maximise the opportunities afforded
Michael Aliber
8

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za
by natural or environmental resources needs to be addressed in
both rural and urban contexts.
The livelihoods approach helps one to appreciate different
perspectives of policy-makers with respect to the relationship
between low-income households and the environment, be they
explicit or implicit (Salafsky & Wollenberg, 2000). In the
‘protected area strategy’, local livelihoods are regarded as a
threat to the environment and are therefore summarily
excluded. A great deal of power is necessary to establish and
maintain protected areas and to stop local stakeholders from
violating regulations, and, as such, threats to the environment
are not mitigated but are merely being kept at bay. This
approach was widely practised by the apartheid government
and contributed a great deal to current conditions of poverty
and environmental degradation. With the ‘substitution
strategy’, local stakeholders are allowed limited access to
protected areas, but substitute livelihood activities are
promoted for the sake of mitigating the pressure on those areas.
Harmful livelihood activities are still contained by authority,
thus requiring costly maintenance in the face of ongoing threat
to the environment. Finally, the ‘linked incentives strategy’ sets
out to establish a system whereby promotion of livelihoods and
care for the environment positively reinforce one another.
Rather than minimising or eliminating the inter-relatedness of
livelihoods with the environment, it attempts to accept reliance
on the environment in such a manner that care for the
environment becomes indispensable to livelihood practice and
continuity. This third strategy corresponds to the ethos of
sustainable development. While the micro-focus of the
livelihoods model takes into account people’s interests and
relationships it tends to understate macro-influences such as
the formal economy and global pressures.
Poverty and environmental degradation, war and disease
While traditional perspectives on environmental degradation
maintained the destructive impact of the poor, the ‘new
degradationists’ shift the emphasis from physical degradation
Poverty-eradication and Sustainable Development
9

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za
to the social costs of unsustainable consumption and produc-
tion. The poor are disproportionately exposed to environ-
mental hazards and degradation as a consequence of social,
moral and political conditions, which contradict basic human
and environmental rights. War and civil conflict undermine
environmental justice and entitlement, thereby contributing
to environmental destruction and disease.
Poverty, and environmental justice and entitlement Unbalanc-
ed power relationships often leave the poor largely bearing the
costs of unsustainable and unjust practices, which further
disempower them and increase their vulnerability. Where
overarching patterns of inequality in respect of allocation of
water rights and the location of wastes and other hazards are
impacting on people’s lives, issues of degradation, pollution
and land use are being turned into mobilising platforms,
seeking social justice in environmental matters. Environment
has become a social issue of the present, taking into account
past and future generations. While civil organisations form
around issues of improved living conditions, the reduction of
inequality and justice in ‘environmental language’, their
struggles are reflected in the international recognition of
environmental entitlement as the rights of the poor to quality
and healthy neighbourhoods. The brutal social and environ-
mental consequences of war and environmental racism are
under scrutiny, while the empowering contribution of indige-
nous environmental knowledge and practice are receiving
increasing recognition.
A fuller appreciation of the different ways in which poverty
and environment are related provides a more complete picture
of the damaging reinforcement between poverty and environ-
mental stress in the past, as well as a vantage from which to
understand the post-apartheid government’s efforts to come
to grips with poverty eradication through sustainable
development.
Michael Aliber
10

Free download from www.hsrc
p
ress.ac.za

Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Tài liệu Chapter 6 The Data Communications Interface pdf


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Chapter 6 The Data Communications Interface pdf": http://123doc.vn/document/1039095-tai-lieu-chapter-6-the-data-communications-interface-pdf.htm



Asynchronous - Behavior

In a steady stream, interval between characters is
uniform (length of stop element)

In idle state, receiver looks for transition 1 to 0

Then samples next seven intervals (char length)

Then looks for next 1 to 0 for next char

Simple

Cheap

Overhead of 2 or 3 bits per char (~20%)

Good for data with large gaps (keyboard)

Synchronous - Bit Level

Block of data transmitted without start or stop
bits

Clocks must be synchronized

Can use separate clock line

Good over short distances

Subject to impairments

Embed clock signal in data

Manchester encoding

Carrier frequency (analog)

Synchronous - Block Level

Need to indicate start and end of block

Use preamble and postamble

e.g. series of SYN (hex 16) characters

e.g. block of 11111111 patterns ending in 11111110

More efficient (lower overhead) than async

Synchronous (diagram)

Line Configuration

Topology

Physical arrangement of stations on medium

Point to point

Multi point

Computer and terminals, local area network

Half duplex

Only one station may transmit at a time

Requires one data path

Full duplex

Simultaneous transmission and reception between two stations

Requires two data paths (or echo canceling)

Traditional Configurations

Interfacing

Data processing devices (or data terminal
equipment, DTE) do not (usually) include data
transmission facilities

Need an interface called data circuit terminating
equipment (DCE)

e.g. modem, NIC

DCE transmits bits on medium

DCE communicates data and control info with DTE

Done over interchange circuits

Clear interface standards required

Characteristics of Interface

Mechanical

Connection plugs

Electrical

Voltage, timing, encoding

Functional

Data, control, timing, grounding

Procedural

Sequence of events

V.24/EIA-232-F

ITU-T v.24

Only specifies functional and procedural

References other standards for electrical and
mechanical

EIA-232-F (USA)

RS-232

Mechanical ISO 2110

Electrical v.28

Functional v.24

Procedural v.24

Mechanical Specification

Tài liệu Lý luận văn học doc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Lý luận văn học doc": http://123doc.vn/document/1039820-tai-lieu-ly-luan-van-hoc-doc.htm


Mục lục
II Bản chất xã hội của văn học 70
6 Nguồn gốc và bản chất xã hội của văn học . . . . . . . . . . . . . . . . 71
6.1 Nguồn gốc của văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 71
6.2 Bản chất xã hội của văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 74
6.3 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 78
7 Hiện thực trong văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 80
7.1 Hiện thực và vấn đề tính chân thật của văn học . . . . . . . . . . . . . . . 80
7.2 Vai trò nghệ sĩ trong nhận thức hiện thực . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 82
7.3 Hiện thực trong văn học - hiện thực thứ hai được sáng tạo lại . . . . . . . . 84
7.4 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 85
8 Tính khuynh hướng của văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 89
8.1 Tính giai cấp trong văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 89
8.2 Tính nhân dân trong văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 93
8.3 Tính dân tộc và tính nhân loại trong văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . 96
8.4 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 100
III Tác phẩm văn học 103
9 Tác phẩm văn học là chỉnh thể trung tâm của văn học . . . . . . . . . . 104
9.1 Tác phẩm văn học là một chỉnh thể . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 104
9.2 Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . 107
9.3 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 112
10 Đề tài, chủ đề, tư tưởng và cảm hứng của tác phẩm văn học . . . . . . 116
10.1 Đề tài và chủ đề – những phương diện khách quan của nội dung tác phẩm . 116
10.2 Tư tưởng và cảm hứng – những phương diện chủ quan của nội dung tác phẩm119
10.3 Ý nghĩa của tác phẩm văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 122
10.4 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 122
11 Nhân vật trong tác phẩm văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 126
11.1 Nhân vật văn học và vai trò của nhân vật trong tác phẩm . . . . . . . . . . 126
11.2 Các loại hình nhân vật văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 127
11.3 Các phương thức và thủ pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật . . . . . . . . . 131
11.4 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 132
12 Kết cấu của tác phẩm văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 134
12.1 Khái niệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 134
12.2 Các cấp độ kết cấu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 138
12.3 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 146
13 Lời văn trong tác phẩm văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 149
13.1 Lời văn trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật . . . . . . . 149
5
Mục lục
13.2 Các phương tiện tổ chức nên lời văn nghệ thuật . . . . . . . . . . . . . . . . 151
13.3 Các thành phần của lời văn trong tác phẩm văn học . . . . . . . . . . . . . 155
13.4 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 156
IV Loại thể văn học 159
14 Tác phẩm tự sự . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 160
14.1 Đặc điểm chung của tác phẩm tự sự . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 160
14.2 Các thể loại tự sự cơ bản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 164
14.3 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 174
15 Tác phẩm trữ tình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 176
15.1 Đặc điểm chung của tác phẩm trữ tình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 176
15.2 Một số đặc điểm về nghệ thuật thơ trữ tình . . . . . . . . . . . . . . . . . . 179
15.3 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 184
16 Kịch bản văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 187
16.1 Đặc điểm của kịch bản văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 187
16.2 Phân loại kịch . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 193
16.3 Vài nét về sự phát triển của kịch ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . 195
16.4 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 196
17 Kí văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 197
17.1 Đặc trưng của kí văn học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 197
17.2 Phân loại kí . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 202
17.3 Hướng dẫn học tập . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 208
6
Phần I
Bản chất thẩm mĩ của văn học
7
Chương
1
Văn học - hình thái ý thức
thẩm mĩ
Văn học là một hình thái ý thức xã hội, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ
một quan điểm, một cách nhìn, một tình cảm đối với đời sống. Nhưng văn học nói riêng
cũng như nghệ thuật nói chung, không giống các hình thái ý thức xã hội khác bởi có những
đặc thù riêng mang tính thẩm mĩ về đối tượng, nội dung và phương thức thể hiện.
1.1 Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học
1.1.1 Đối tượng của văn học
Nội dung là yếu tố đầu tiên quy định sự khác nhau của văn học so với các hình thái ý thức
xã hội khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo, lịch sử, địa lí, sinh học Nội dung, trước hết
là cái được nhận thức, chiếm lĩnh từ đối tượng.
Vậy đối tượng của văn học là gì?
Mĩ học duy tâm khách quan từ thời Platông đến Hêghen đều cho rằng đối tượng của
nghệ thuật chính là biểu hiện của thế giới thần linh, của những linh cảm thần thánh, của
ý niệm tuyệt đối - một thế giới sản sinh trước loài người. Nghĩa là, mọi đối tượng của nghệ
thuật cũng như của văn học đều là thế giới của thần linh, của những điều huyền bí, cao cả.
Văn học nghệ thuật suy cho cùng là sự hồi tưởng và miêu tả thế giới ấy, một thế giới không
thuộc phạm vi đời sống hiện thực.
Quan điểm này đã đề cao và thần thánh hóa đối tượng của văn học nghệ thuật. Cho nên
không lạ gì khi chúng ta bắt gặp hầu hết đối tượng phản ánh của văn học, nghệ thuật thời
cổ chính là các câu chuyện về các vị thần linh: từ người khổng lồ Khoa Phụ đuổi bắt mặt
trời, Nữ Oa vá trời trong thần thoại Trung Quốc, đến các vị thần trên đỉnh Olempơ và con
cháu của của các vị thần đó như Hécquyn, Asin trong văn học Hi Lạp cổ đại, rồi Thánh
Gióng, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Lạc Long Quân và Âu Cơ của người Việt.
8
1.1. Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học
Mĩ học duy tâm chủ quan lại cho rằng, đối tượng nghệ thuật chính là những cảm giác
chủ quan, là cái tôi bề sâu trong bản chất con người của nghệ sĩ, không liên quan gì đến đời
sống hiện thực. Đây là một quan điểm đầy mâu thuẫn, bởi mọi cảm giác của con người bao
giờ cũng chính là sự phản ánh của thế giới hiện thực.
Còn các nhà mĩ học duy vật từ xưa đến nay đều khẳng định, đối tượng của nghệ thuật
chính là toàn bộ đời sống hiện thực khách quan. Tsécnưsépxki đã nói: Phạm vi của nghệ
thuật gồm tất cả những gì có trong hiện thực (trong thiên nhiên và trong xã hội) làm cho
con người quan tâm
1
. Quan điểm này đã đưa đối tượng của nghệ thuật về gần gũi với hiện
thực đời sống.
Thực ra, từ thời xa xưa, con người đã biết văn học nghệ thuật bắt nguồn từ đời sống.
Ở Trung Quốc, thuyết cảm vật đã chỉ rõ: mùa xuân, mùa thu, các mùa thay thế nhau, làm
cảnh vật biến đổi, tâm hồn cũng thay đổi theo. Còn theo các thuyết thi ngôn chí, thi duyên
tình: văn chương tạo nên do con người có cảnh ngộ trong lòng mình muốn bộc lộ, mà cảnh
ngộ đó cũng là do tác động của đời sống tạo nên.
Như vậy, có thể nói, đối tượng của văn học, nghệ thuật là toàn bộ đời sống xã hội và
tự nhiên. Tsécnưsépxki từng nói: “Cái đẹp là cuộc sống” vì lí do đó. Nhưng phạm vi này vô
cùng rộng. Bởi lẽ, nếu nói đối tượng của văn học là đời sống thì chưa tách biệt với đối tượng
của các ngành khoa học và các hình thái ý thức xã hội khác như lịch sử, địa lí, hóa học, y
học, chính trị, đạo đức Văn học phải có cách nhận thức và thể hiện đối tượng khác biệt.
Nếu như đối tượng của triết học là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư
duy, là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; đối tượng của lịch sử là các sự kiện lịch sử, sự
thay thế nhau của các chế độ; đối tượng của đạo đức học là các chuẩn mực đạo đức trong
mối quan hệ người với người thì đối tượng của văn học là toàn bộ đời sống hiện thực,
nhưng chỉ là hiện thực có ý nghĩa đối với đời sống tâm hồn, tình cảm con người. Tức là, dù
văn học có miêu tả thế giới bên ngoài như thiên nhiên, lịch sử, chiến tranh, hòa bình , văn
học cũng chỉ chú ý tới quan hệ của chúng đối với con người. Văn học, nghệ thuật nhìn thấy
trong các hiện tượng đời sống những ý nghĩa “quan hệ người kết tinh trong sự vật”
2
.
Thế giới khách quan trong văn học là thế giới được kết cấu trong các mối liên hệ với con
người. Người ta gặp tất cả các hình thức đời sống trong văn học, từ những hiện tượng tự
nhiên “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”, tiếng sấm rền vang, giọt mưa rơi tí tách, tiếng
sóng ào ạt xô bờ, một tiếng chim ban mai đến những biến cố lịch sử lớn lao. Nhưng cái văn
học chú ý là kết quả, ý nghĩa của tất cả những hiện tượng đời sống đó đối với con người.
Văn học không nhìn thiên nhiên như một nhà sinh học, một nhà khí tượng học, mà thấy ở
đó tâm trạng, số phận, vận mệnh con người: tiếng chim ban mai là âm thanh của niềm vui
sống, đám mây trắng vô tận là hình ảnh của sự hư vô, cái hư ảo, phù du của kiếp người.
Ngay cả các hiện tượng lịch sử cũng được văn học nhìn nhận dưới góc độ khác biệt. Sau
những những biến cố dữ dội của cách mạng Nga tháng Hai và tháng Mười năm 1917, Rôtsin
đã nói với Katia: “Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, cách mạng sẽ thôi gào thét, chỉ còn
tấm lòng em dịu dàng ngàn đời bất diệt” (Con đường đau khổ - A. Tônxtôi). Khi nhìn thấy
ngôi sao chổi trên bầu trời Matxcơva năm 1812, trong lòng Pie Bêdukhốp tràn ngập những
tình cảm cao thượng và mới mẻ (Chiến tranh và hòa bình - L. Tônxtôi). Điều văn học quan
1
Tsécnưsépki. Quan hệ thẩm mĩ của nghệ thuật đối với hiện thực, tập 2, Nxb Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, Matxcơva,
1949, trang 64 (tiếng Nga). Theo Phương Lựu, Trần Đình Sử Lí luận văn học. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, trang 124
2
Theo Phương Lựu, Trần Đình Sử. Lí luận văn học (sách đã dẫn), trang 125
9
1.1. Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học
tâm là tác động của những biến cố lịch sử, của tự nhiên, của thế giới xung quanh tới tâm
hồn con người chứ không phải bản thân những biến cố ấy.
Như vậy, đối tượng của văn học là hiện thực mang ý nghĩa người. Văn học không miêu
tả thế giới trong ý nghĩa chung nhất của sự vật. Điều mà văn học chú ý chính là một “quan
hệ người kết tinh trong sự vật”: dòng sông là nơi lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ, đầm sen
là nơi gặp gỡ, giao duyên, con đê làng là ranh giới của hồn quê và văn minh thị thành Đó
chính là những giá trị nhân sinh thể hiện trong sự vật. Có thể nói, đối tượng của văn học
nói riêng, nghệ thuật nói chung, là toàn bộ thế giới hiện thực có ý nghĩa đối với sự sống con
người, mang tư tưởng, tình cảm, khát vọng của con người. “Nghệ thuật được tác thành bởi
con người. Nó là sự biểu đạt của con người trước thế giới tự nhiên và đời sống” (Bách khoa
toàn thư Comtorp’s). Trong toàn bộ thế giới hiện thực đó, con người với toàn bộ các quan
hệ của nó là đối tượng trung tâm của văn học.
Toàn bộ thế giới khi được tái hiện trong tác phẩm đều được tái hiện dưới con mắt một
con người cụ thể. Đó có thể là người kể chuyện, là nhân vật hoặc nhân vật trữ tình Con
người trong văn học trở thành những trung tâm giá trị, trung tâm đánh giá, trung tâm kết
tinh các kinh nghiệm quan hệ giữa con người và thế giới. Khi lấy con người làm hệ quy
chiếu, làm trung tâm miêu tả, văn học có một điểm tựa nhìn ra thế giới, bởi văn học nhìn
thế giới qua lăng kính của những con người có cá tính riêng. Do đó, miêu tả con người là
phương thức miêu tả toàn thế giới
3
.
Văn học không miêu tả con người như một nhà triết học, chính trị học, đạo đức học, y
học, giải phẫu học , mà thấy đó là con người có lịch sử cá nhân, có tính cách, có tình cảm,
có số phận với những quan hệ cụ thể, cá biệt. Khi nhà thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ: Cha
đã đi đày đau nỗi riêng, Còn nghe dưới gót nặng dây xiềng, Mẹ nằm dưới đất hay chăng
hỡi, Xin sáng lòng con ngọn lửa thiêng (Theo chân Bác) ta thấy hiện lên hình ảnh Bác Hồ
không phải như một nhà chính trị trừu tượng mà là một con người có tâm hồn, tình cảm và
số phận riêng.
Con người trong văn học còn tiêu biểu cho những quan hệ xã hội nhất định, vì vậy, con
người được miêu tả vừa như những kiểu quan hệ xã hội kết tinh trong những tính cách
(tham lam, keo kiệt, hiền lành, trung hậu ), vừa cả thế giới tâm hồn, tư tưởng của chính
họ. Có thể nói, toàn bộ lịch sử văn học của nhân loại chính là lịch sử tâm hồn con người.
Vì thế, con người trong văn học không giống với con người là đối tượng của các ngành khoa
học khác như lịch sử, đạo đức, sinh học, y học Điều đó khẳng định tính không thể thiếu
được của văn học trong lịch sử ý thức nhân loại.
Bên cạnh con người là đối tượng chính, văn học còn hướng tới đời sống trong toàn bộ
tính phong phú và muôn vẻ của các biểu hiện thẩm mĩ của nó. Đó là toàn bộ đời sống trong
tính cụ thể, sinh động, toàn vẹn, với mọi âm thanh, màu sắc, mùi vị vô cùng sinh động và
gợi cảm. Văn học cũng như nghệ thuật luôn hướng tới cái đẹp của đời sống, đặc biệt là cái
đẹp về hình thức của sự vật: ánh chiều tà đỏ ối, một lá ngô đồng rụng, giọt sương mai long
lanh. Nhưng tất cả cái đẹp này của cuộc sống cũng đều được tái hiện dưới con mắt của một
con người cụ thể với những kinh nghiệm, ấn tượng và sự tinh tế. Có những bài thơ chỉ như
bức tranh thiên nhiên, thiếu vắng con người:
Lạc hà dữ cô lộ tề phi,
3
Theo Phương Lựu, Trần Đình Sử. Lí luận văn học (sách đã dẫn), trang 126
10
1.1. Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
(Ráng chiều vạc lẻ cùng bay,
Nước thu cùng với trời thu một màu)
(Vương Bột)
Nhưng bức tranh thực sự vẫn bộc lộ gián tiếp về cái nhìn của con người về tự nhiên,
một tự nhiên giàu màu sắc và nhịp điệu, giàu sức sống và sức biểu hiện, làm thư thái tâm
hồn con người. Đúng như Hêghen nhận xét “Đối tượng của thơ không phải là mặt trời, núi
non, phong cảnh mà là những hứng thú về tinh thần”
4
, hoặc “Thiên nhiên là mẫu mực vĩnh
hằng của nghệ thuật, và trong thiên nhiên thì đẹp đẽ và cao quý nhất vẫn là con người”
(Biêlinxki)
5
. Vì vậy, có thể khẳng định, đối tượng của văn học là toàn bộ thế giới mà đời
sống của con người là trung tâm. M. Gorki nhận xét “Văn học là nhân học” chính vì những
lí do đó.
1.1.2 Nội dung của văn học
Nội dung của văn học thống nhất với đối tượng của nó. Nội dung văn học cũng chính là con
người với những quan hệ của nó ở một bình diện phức tạp hơn: Nội dung văn học là toàn
bộ đời sống đã được ý thức, cảm xúc, đánh giá và phán xét phù hợp với một tư tưởng về đời
sống, một cảm hứng và một lí tưởng thẩm mĩ và xã hội nhất định. Đó là một nội dung hòa
quyện giữa hai mặt khách quan và chủ quan, vừa có phần khái quát, tái hiện đời sống khách
quan vừa có phần bắt nguồn từ nhận thức, cảm hứng và lí tưởng của nghệ sĩ.
Nội dung khách quan của văn học là toàn bộ đời sống hiện thực được tái hiện, từ các
vấn đề lịch sử, con người, phong tục, đạo đức, xã hội, từ các chi tiết hiện thực đời sống nhỏ
nhặt đến những biến cố xã hội lớn lao. Song như Lênin đã phát biểu về L. Tônxtôi “Nếu
trước mắt chúng ta là một nghệ sĩ thực sự vĩ đại, thì chí ít trong tác phẩm của anh ta
cũng phản ánh được vài ba khía cạnh căn bản của cuộc cách mạng”
6
. Điều đó có nghĩa là
nội dung của đời sống khi đi vào tác phẩm văn học còn phải phản ánh được những chiều
rộng, chiều sâu hiện thực và tầm cao tư tưởng của thời đại mình. Theo Lênin, Tônxtôi sở
dĩ vĩ đại, bởi ông đã chỉ ra được sự bất bình, phẫn nộ của hàng triệu nông dân Nga khi
bắt đầu cuộc cách mạng tư sản Nga. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã phơi bày một bức
tranh hiện thực đầy rẫy những bất công, oan trái của xã hội phong kiến, mà thậm chí màn
đoàn viên cũng là “bản cáo trạng cuối cùng” theo lời đánh giá của Xuân Diệu. Các nghệ sĩ
lớn mọi thời đại đều là những người đứng giữa trung tâm của các vấn đề rộng lớn của hiện
thực. Từ Khuất Nguyên đến Đỗ Phủ, từ Thi Nại Am đến Tào Tuyết Cần, từ Secxpia đến
Bairơn, Đichken, Tháccơrây, Bandắc, Huygô, Đôtxtôiépxki, Puskin, Tônxtôi, Gôgôn, Gorki,
Hêminguê, Sôlôkhốp, Macket không ai đứng bên lề các cơn bão táp của lịch sử và số phận
của nhân dân. Các tác phẩm của họ đều đề cập đến số phận rộng khắp của nhân dân trên
các vấn đề trung tâm của thời đại mình: niềm khao khát tự do, hạnh phúc, sự bạo ngược
của cường quyền, quá trình làm giàu của tư sản và sự bần cùng hóa con người, các cuộc
chiến tranh giành quyền bính của các tập đoàn phong kiến, các cuộc khởi nghĩa của nông
dân, số phận con người trong dòng thác lịch sử cách mạng
4
Hêghen. Mĩ học, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999, trang 484
5
Biêlinxki. Nhận định về văn học Nga năm 1847, Tư liệu khoa Ngữ văn ĐHSPHN, 2000, trang 38
6
Lênin. Bàn về Văn hóa Văn học, Nxb Văn học, Hà Nội, 1979, trang 249
11
1.1. Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học
Bên cạnh đó, còn có những nội dung khách quan không mang những tầm vóc hiện thực
lớn lao song ít nhiều đều chứa đựng ý nghĩa nhân sinh. Cứ tưởng rằng thế giới trong tác
phẩm của Sêkhốp nằm bên lề những con đường lớn của lịch sử, những xung đột phức tạp
của thời đại, nhưng nó lại đụng chạm đến lịch sử ở bề sâu tâm hồn và đời sống, qua những
nỗi chán chường, sự đơn điệu, cuộc đời ngưng đọng
7
. Thơ ca trữ tình, từ những bài ca dân
gian giản dị, mộc mạc đến những bài thơ tâm tình đều có những ý nghĩa nhân sinh đặc biệt:
niềm yêu cuộc đời, nỗi xót xa thân phận, niềm mơ ước và khát vọng về hạnh phúc, tình cảm
thiết tha nồng thắm về tình mẹ con, nghĩa vợ chồng Tất cả những nội dung đó đều góp
phần bộc lộ thế giới tinh thần vô cùng phong phú của con người.
Văn học phản ánh nội dung ý thức xã hội của thời đại mình. Văn học là sự vật thể hóa,
ngưng kết hóa đời sống lịch sử với cấu trúc tâm lí thẩm mĩ của con người thuộc các thời đại
là như thế.
Không chỉ miêu tả đời sống khách quan (nội dung mang tính khách quan, gắn liền với đối
tượng), trong văn học còn thể hiện những tình cảm xã hội, ước mơ, khát vọng, cảm hứng,
lí tưởng thẩm mĩ, những chân lí được thể nghiệm, những thiên hướng đánh giá của chính
tác giả. Toàn bộ đời sống hiện thực đi vào tác phẩm đã hóa thành nỗi niềm, khát vọng. Đọc
Truyện Kiều, ta đâu chỉ thấy bộ mặt đời sống hiện thực xã hội phong kiến mà còn cảm nhận
“tấm lòng sáu cõi, rộng nghìn đời” của Nguyễn Du thấm từng con chữ. Người xưa nói “viết
như máu chảy đầu ngọn bút” chính là nói đến phần nội dung đầy cảm xúc chủ quan mãnh
liệt này của chính bản thân con người sáng tác. Như vậy, nội dung chủ quan của văn học là
hiện thực được nhìn nhận dưới con mắt nghệ sĩ, được khái quát theo kiểu nghệ thuật, được
phơi bày dưới ánh sáng một thế giới quan, một lí tưởng thẩm mĩ và những thiên hướng tình
cảm nhất định.
Nội dung chủ quan có những khi được phát biểu trực tiếp, nhưng phần lớn ẩn đằng sau
cách miêu tả hiện thực đời sống.
Trong cấu trúc chủ quan của các yếu tố nội dung, yếu tố tình cảm là quan trọng nhất.
Tình cảm, là thái độ, là phản ứng của con người đối với hiện thực. Đó là sự nhạy cảm và
chiều sâu của những rung động tâm hồn, là sự phong phú của của các cung bậc cảm xúc,
là sự mãnh liệt, say mê của lí tưởng, là sự phẫn nộ của con tim và khối óc Tình cảm, do
đó, vừa là đối tượng mô tả, vừa là nội dung biểu hiện của nghệ thuật nói chung, là động
cơ sáng tạo, làm cho cảm xúc, ý nghĩ, tư tưởng trở thành bức tranh, lời thơ, nốt nhạc, pho
tượng. Tình cảm được thể hiện qua nhiệt tình, qua trực giác, qua cảm xúc thấm đẫm câu
văn, lời thơ: Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán, Phá vòng vây bạn với Kim ô (Chim
trong lồng - Nguyễn Hữu Cầu), Gìn vàng giữ ngọc cho hay, Cho đành lòng kẻ chân mây cuối
trời (Truyện Kiều - Nguyễn Du). Có những câu ca dao, lời lẽ rất đơn giản, nhưng vẫn là
tác phẩm văn học bởi sức nặng của tình cảm chứa đựng trong đó: Chiều chiều ra đứng ngõ
sau, ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều. Không có yếu tố tình cảm không thể có tác phẩm
văn học.
Tình cảm trong văn học là tình cảm mang tính xã hội. Đó là loại tình cảm dù là của
cá nhân nhưng vẫn hướng tới mẫu số chung trong tình cảm nhân loại: tình yêu quê hương,
niềm thương cha nhớ mẹ, lòng chung thuỷ, khát vọng tự do, hạnh phúc, chí khí bất khuất
trước cường quyền Chính những tình cảm như vậy mới có khả năng chia sẻ và “lây lan
7
Pôxpêlốp. Những vấn đề phát triển lịch sử văn học, Nxb Giáo dục, Matxcơva, 1971, trang 25 (tiếng Nga)
12
1.1. Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học
tình cảm” (L. Tônxtôi), làm cho văn học không chỉ là tiếng nói riêng của một người mà trở
thành tiếng nói chung của mọi người, thể hiện sâu sắc dấu ấn tinh thần thời đại và dân tộc.
Tình cảm trong văn học còn thấm đượm màu sắc thẩm mĩ: đó là những tình cảm hướng
tới những giá trị thẩm mĩ. Thơ ca cổ điển hướng tới cái đẹp hài hòa, tĩnh lặng; thơ ca lãng
mạn thiên về hai thái cực: rực rỡ và u buồn; thơ ca cách mạng chiêm ngưỡng vẻ đẹp anh
hùng, cao cả như những tiêu chuẩn của lí tưởng thẩm mĩ từng thời đại.
Tuy nhiên, nghệ thuật không chỉ là tiếng nói tình cảm. Biêlinxki cho rằng, bản thân tình
cảm chưa tạo thành thi ca. Bên cạnh tình cảm, nghệ thuật còn mang sức mạnh của tư tưởng
và nó dùng tiếng nói của tình cảm để thể hiện quan niệm, lí tưởng thẩm mĩ của nghệ sĩ.
Nghệ thuật bởi vậy không chỉ là tiếng nói tâm sự, giãi bày mà còn là tiếng nói của những
tình cảm lớn, những tư tưởng lớn.
Giá trị của tác phẩm còn nằm ở tầm tư tưởng của nó. Những nghệ sĩ lớn bao giờ cũng là
nhà tư tưởng lớn. Qua tác phẩm, người nghệ sĩ thể hiện nguyện vọng, tư tưởng, tâm tư, yêu
cầu xã hội. Tính cấp bách, chiều sâu, tầm cỡ và khuynh hướng xã hội - lịch sử của những
tư tưởng và vấn đề được nêu ra xác định giá trị tác phẩm. Giá trị của những tác phẩm
như Chiến tranh và hòa bình (L. Tônxtôi), Con gái viên đại úy (Puskin), Hội chợ phù hoa
(Tháccơrây), Tấn trò đời (Bandắc), Con đường đau khổ (A. Tônxtôi), Chuông nguyện hồn
ai (Hêminguê) nằm ở nội dung tư tưởng của những tác phẩm đó.
Nhưng, tư tưởng tác phẩm không đơn thuần khô khan, thuần lí mà phải biến thành khát
vọng, cảm hứng, thấm đượm tình cảm. Tư tưởng về nhân đạo trước hết phải gắn liền với
nỗi đau về số phận con người, lòng thông cảm sâu xa (Truyện Kiều - Nguyễn Du), niềm tự
hào về sức mạnh và khả năng con người (Hămlét - Sếchxpia). Tư tưởng về tự do thường gắn
liền với nỗi đau về sự ràng buộc, về những giới hạn của con người (thơ Puskin). Tất nhiên,
cũng có tác phẩm nghệ thuật mà ta thấy ở đó chủ yếu là kinh nghiệm, tư tưởng, như những
câu tục ngữ, những loại thơ triết lí (thơ hai ku chẳng hạn), nhưng về cơ bản, những loại
nghệ thuật đó cũng không tách rời được tình cảm ở phương thức biểu đạt, ở động cơ sáng
tạo
Tác phẩm văn học luôn mang khát vọng thiết tha muốn thể hiện một quan niệm về chân
lí đời sống (chân lí về cái đẹp, cái thật, thể hiện trong các hiện tượng tự nhiên, trong tính
cách và phẩm chất con người, trong các quan hệ người với người ). Đó là những chân lí
đời sống mà nghệ sĩ đã thể nghiệm và muốn thuyết phục mọi người thấu hiểu. Trong thiên
truyện Số phận con người của Sôlôkhốp là chân lí: lòng nhân ái có thể giúp con người vượt
lên trên số phận bất hạnh. Trong cảnh sống khốn cùng vì đói khát, con người vẫn khát khao
hạnh phúc và có quyền được hạnh phúc là chân lí của tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
Gắn liền với khẳng định chân lí là cảm hứng mãnh liệt, một trạng thái tình cảm mạnh
mẽ, khẳng định phủ định một điều gì đó. Cảm hứng tự do trong những câu chuyện thời kì
sáng tác đầu tay của M. Gorki được thể hiện với hình ảnh chàng trai Đancô giơ cao trái
tim mình làm ngọn đuốc tỏa ánh sáng dẫn đường cho mọi người đến với tự do, với cô gái
Rátđa thà bị người yêu giết chết chứ không muốn chàng từ bỏ giấc mơ tự do của mình. Tất
cả những nhiệt tình khẳng định đó biểu hiện thành một khuynh hướng tư tưởng nhất định,
phù hợp với những xu hướng tư tưởng đang tồn tại trong đời sống.
Thực ra, trong văn học, hai nội dung khách quan và chủ quan này không hề tách bạch,
mà xuyên thấm trong hình tượng. Khi chúng ta chiêm ngưỡng một hình tượng nghệ thuật,
13
1.2. Hình tượng văn học
trong đó đã bao hàm sự phản ánh, đánh giá, cũng nhưng sự lí giải đời sống một cách trọn
vẹn.
Tóm lại, nội dung của văn học là cuộc sống được ý thức về mặt tư tuởng và giá trị, gắn
liền với tình cảm, với một quan niệm về chân lí đời sống, với cảm hứng thẩm mĩ và thiên
hướng đánh giá. Nhận thức nội dung của văn học, ý thức được những ưu thế riêng của văn
học, cho phép khẳng định, văn học có thể đáp ứng những nhu cầu xã hội phổ biến mà các
hình thái ý thức xã hội khác không đáp ứng được.
1.2 Hình tượng văn học
1.2.1 Khái niệm
Văn học nhận thức đời sống, thể hiện tư tưởng tình cảm, khát vọng và mơ ước của con người
thông qua hình tượng nghệ thuật. Hình tượng chính là phương thức phản ánh thế giới của
văn học.
Khái niệm hình tượng có những cội nguồn khác nhau. Trong tiếng la tinh, imago có nghĩa
là chân dung, hình ảnh. Trong tiếng Nga, obraz có nghĩa là sự là sự lột tả theo mẫu nào đó.
Trong tiếng Hán, tượng có nghĩa là hình vẽ để biểu đạt. Kinh Dịch, thiên Hệ từ truyện có
câu: Thánh nhân lập tượng để tận ý (nghĩa là thánh nhân làm ra hình tượng để nói hết ý
mình). Trong lí luận văn học cổ Trung Quốc, hình tượng thường được gọi là ý tượng hoặc
đơn giản là tượng.
Theo L. I. Timôphêép, hình tượng là bức tranh về đời sống con người vừa cụ thể vừa khái
quát, được sáng tạo bằng hư cấu và giàu ý nghĩa thẩm mĩ
8
. Đây là định nghĩa quen thuộc
và phổ biến nhất.
Tuy nhiên không nên hiểu đơn giản hình tượng chỉ là những bức tranh đời sống, những
hình ảnh (tượng). Vì thế, ở đây cần phân biệt hai khái niệm hình ảnh và hình tượng. Hình
ảnh chính là những bức tranh đời sống mà chúng ta gặp trong tác phẩm: cây đa, giếng nước,
con đò, và cả con người Nhưng tất cả mới chỉ là hình ảnh khi chúng chỉ mang ý nghĩa
biểu vật cho chính nó. Thí dụ, cây tre chỉ cây tre, giếng nước chỉ giếng nước. Nhưng nếu
những hình ảnh đó đã mang những ý nghĩa khác ngoài nó, những ý nghĩa mới, kết tinh,
chứa đựng tư tưởng tình cảm của con người, tức những ý nghĩa nhân sinh, khi đó hình ảnh
mới trở thành hình tượng. Các nhà mĩ học phương Tây cho rằng hình tượng có chức năng
biểu ý, còn người Trung Hoa thường dùng khái niệm ý tượng (hình ảnh có ý) là vì thế. Cây
tre trong bài thơ Tre Việt Nam (Nguyễn Duy) là hình tượng bởi ngoài nghĩa cụ thể, nó còn
mang ý nghĩa khái quát về con người Việt Nam bất khuất, kiên cường, bền bỉ trong khó
khăn, vất vả, đói nghèo. Cô Tấm (Tấm Cám) là hình tượng, bởi vì nhân vật đó đã thể hiện
ước mơ về hạnh phúc, công lí của người xưa.
Bên cạnh đó, văn học chuyển những cảm thụ và nhận thức đời sống không chỉ bằng những
lời lẽ đơn thuần mà chủ yếu bằng những đối tượng cảm tính. Theo Lưu Hi Tái: Tinh thần
của núi không bút nào tả được, phải lấy sương khói mà tả, tinh thần của mùa xuân không
tả được, lấy cây cỏ mà tả
9
. Đó chính là việc phải dùng tới những hình thức đời sống như
hình ảnh thiên nhiên, đồ vật, con người để chuyển tải tư tưởng và cảm xúc.
8
L. I. Timôphêép. Nguyên lí lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Matxcơva, 1976, trang 60
9
Dẫn theo Lưu An Hải, Tôn Văn Hiến. Lí luận văn học, Nxb ĐHSP Hoa Trung, Vũ Hán, 2002, Nguyễn Ngọc Minh dịch,
trang 54
14