ý thức ra đời trong quá trình con ngời hoạt động cải tạo thế giới, cho nên
quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc ngời là quá trình năng động
sáng tạo thống nhất ba mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tợng phản ánh. Sự trao đổi
này mang tính chất hai chiều, có định hớng, có chọn lọc các thông tin cần thiết.
Hai là, mô hình hóa đối tợng trong t duy dới dạng hình ảnh tinh thần.
Thực chất, đây là quá trình sáng tạo lại hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã
hóa các đối tợng vật chất thành các ý tởng tinh thần phi vật chất.
Ba là, chuyển mô hình từ t duy ra hiện thức khách quan, tức quá trình
hiện thực hóa t tởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái
thực tại, biến các ý tởng phi vật chất trong t duy thành các dạng vật chất ngoài
hiện thực. Trong giai đoạn này, con ngời lựa chọn những phơng pháp, phơng
tiện, công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích
của mình.
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo
của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự
phản ánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần. Sáng tạo và
phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức. ý thức là sj phản ánh vào chính thực
tiễn xã hội của con ngời tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ
óc.
ý thức là một hiện tợng xã hội. Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với
hoạt động thực tiễn lịch sử, chịu sự chi phối không chỉ các quy luật sinh học mà
chủ yếu là của quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh
hoạt hiện thực của con ngời quy định. ý thức mang bản chất xã hội.
c. Nguồn gốc của ý thức
Nguốc gốc tự nhiên
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trớc, vật chất có sau, ý thức sinh ra
vật chất, chi phối sự tồn tại và vận động của thế giới vật chất. Học thuyết triết
học duy tâm khách quan và triết học duy tâm chủ quan có quan niệm khác nhau
5
nhất định về ý thức, song về thực chất họ giống nhau ở chỗ tách ý thức ra khỏi
vật chất, lấy ý thức làm điểm xuất phát để suy ra giới tự nhiên.
Các nhà duy vật trớc Mác đã đấu tranh phê phán lại quan điểm trên của
chủ nghĩa duy tâm, không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, đã chỉ ra
mối liên hệ khăng khít giữa vật chất và ý thức, thừa nhận vật chất có trớc ý thức,
ý thức phụ thuộc vào vật chất. Do khoa học cha phát triển, do ảnh hởng của quan
điểm siêu hình - máy móc nên họ đã không giải thích đúng nguồn gốc và bản
chất của ý thức.
Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học
thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, ý thức không phải có nguồn
gốc siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vật chất nh các nhà thần học và
duy tâm khách quan đã khẳng định mà ý thức là một thuộc tính của vật chất, nh-
ng không phải là của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật
chất có tổ chức cao là bộ óc con ngời. Bộ óc ngời là cơ quan vật chất của ý
thức. ý thức là chức năng của bộ óc con ngời. ý thức phụ thuộc vào hoạt động
bộ óc ngời, do đó khi óc bị tổn thơng thì hoạt động của ý thức sẽ không bình th-
ờng. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc. ý thức
không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc ngời.
Khoa học đã xác định, con ngời là sản phẩm cao nhất của quá trình phát
triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của vật chất vận động, đồng thời
đã xác định bộ óc của con ngời là một tổ chức sống đặc biệt có cấu trúc tinh vi
và phức tạp bao gồm khoảng 14-15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào này có liên hệ
với nhau và với các giác quan, tạo thành vô số những mối liên hệ thu nhận, điều
khiển hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua các phản xạ
không điều kiện và có điều kiện. Quá trình ý thức và quá trình sinh lý trong bộ
óc không đồng nhất, không tách rời, không song song mà là hai mặt của một
quá trình sinh lý thần kinh mang nội dung ý thức. Khi khoa học - kỹ thuật tạo ra
những máy móc thay thế cho một phàn lao động trí óc của con ngời thì không có
nghĩa là máy móc có ý thức nh con ngời. Máy móc là một kết cấu kỹ thuật do
6
con ngời tạo ra, còn con ngời là một thực thể xã hội. Máy không thể thay thế
cho hoạt động trí tuệ của con ngời, không thể sáng tạo lại hiện thức dới dạng
tinh thần trong bản thân nó nh con ngời. Do đó chỉ có con ngời với bộ óc của nó
mới có ý thức.
Nhng tại sao bộ óc con ngời - một tổ chức vật chất cao - lại có thể sinh ra
đợc ý thức? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải nghiên cứu mối liên hệ vật chất
giữa bộ óc với thế giới khách quan. Chính mối liên hệ vật chất ấy hình thành nên
quá trình phản ánh thế giới vật chất vào óc con ngời.
Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất. Phản ánh là sự
tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác
trong quá trình tác động qua lại của chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc
vào cả hai vật. (vật tác động và vật nhận tác động). Trong quá trình ấy, vật nhận
tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động. Đây là điều quan trọn
để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Trong quá trình tiến hóa của thế giới vật chất. Các vật thể càng ở bậc
thang cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu.
Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trng cho giới tự nhiên vô sinh là những
phản ánh vật lý, hóa học. Những hình thức phản ánh này có tính chất thụ động,
cha có định hớng sự lựa chọn. Hình thức phản ánh sinh học đặc trng cho giới tự
nhiên sống là bớc phát triển mới về chất trong sự tiến hóa của các hình thức
phản ánh. Hình thức phản ánh của các cơ thể sống đơn giản nhất là biểu hiện ở
tính kích thích, tức là phản ứng trả lời tác động của môi trờng ở bên ngoài có
ảnh hởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của chúng. Hình thức phản ánh
tiếp theo của các động vật cha có hệ thần kinh là tính cảm ứng, tính nhạy cảm
đối với sự thay đổi của môi trờng. Hình thức phản ánh của các động vật có hệ
thống thần kinh là các phản xạ. Hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ
thần kinh trung ơng xuất hiện là tâm lý. Nh vậy, phản ánh sinh học trong các cơ
thể sống đã có sự định hớng, sự lựa chọn, nhờ đó các sinh vật thích nghi với môi
trờng để duy trì sự tồn tại của mình. Phản ánh sinh học đợc thực hiện thông qua
các hình thức kích thích ở thực vật, các phản xã ở động vật có hệ thống thần
7
kinh và tâm lý ở động vật cấp cao. Tâm lý động vật cha phải là ý thức, nó mới là
sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do
quy luật sinh học chi phối.
ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thức. ý thức
chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất
hiện con ngời. ý thức là ý thức con ngời, nằm trong con ngời, không thể tách rời
con ngời. ý thức bứt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tính phản ánh
- phát triển thành. ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản
ánh của vật chất. Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật
đợc phản ánh. ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài và đầu óc con ngời. Bộ
óc ngời là cơ quan phản ánh, song chỉ có riêng bộ óc thôi thì cha thể có ý thức.
Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ
óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra.
Nh vậy, bộ óc ngời [cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh]
cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của
ý thức.
Những điều đã trình bày về nguồn gốc tự nhiên của ý thức cho thấy sự
đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết
sức hạn chế: trong trờng hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ
bản là thừa nhận cái gì là cái có trớc và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó
ra, sự đối lập đó là tơng đối
(1)
. ý thức chính là đạc tính của một dạng vật chất
sống có tổ chức cao mà thôi.
Nguồn gốc xã hội
Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng,
không thể thiếu đợc, song cha đủ; điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức
là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành
bộ óc con ngời nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội.
(1)
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva, 1980, t.18, tr.173
8
Lao động theo C.Mác, là một quá trình diễn biến giữa ngời và tự nhiên,
một quá trình trong đó bản thân con ngời đóng góp vai trò môi giới, điều tiết và
giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa ngời và tự nhiên. Lao động là điều kiện
đầu tiên và chủ yếu để con ngời tồn tại. Lao động cung cấp cho con ngời những
phơng tiện cần thiết để sống, đồng thời lao động sáng tạo ra cả bản thân con ng-
ời. Nhờ có lao động, con ngời tác ra khỏi giới động vật. Một trong những sự
khác nhau căn bản giữa con ngời với động vật là ở chỗ động vật sử dụng các sản
phẩm có sẵn trong giới tự nhiên, còn con ngời thì nhờ lao động mà bắt giới tự
nhiên phục vụ mục đích của mình, thay đổi nó, bắt nó phục tùng những nhu cầu
của mình. Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan
mà con ngời mới có thể phản ánh đợc thế giới khách quan, mới có ý thức về thế
giới đó.
Sự hình thành ý thức không phải là quá trình thu nhận thụ động, mà đó là
kết quả hoạt động chủ động của con ngời. Nhờ có lao động, con ngời tác động
và thế giới khách quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những
kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tợng nhất định, và
các hiện tợng ấy tác động vào bộ óc ngời, hình thành dần những tri thức về tự
nhiên và xã hội. Nếu không có lao động thì hoàn cảnh vẫn bí ẩn, vẫn xa lạ đối
với con ngời, con ngời không có cách nào khác ngoài lao động đẻ óc thể phản
ánh đúng đắn thế giới khách quan. Nh vậy, ý thức đợc hình thành chủ yếu do
hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con ngời, làm biến đổi thế giới đó. ý
thức với t cách là hoạt động phản ánh sáng tạo không thể có đợc ở bên ngoài quá
trình con ngời lao động làm biến đổi thế giới xung quanh. Vì thế có thể nói khái
quát rằng lao động tạo ra ý thức t tởng, hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức t tởng
là sự phản ánh thế giới khách quan và đầu óc con ngời trong quá trình lao động
của con ngời.
Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang
tính tập thể xã hội. Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi t t-
ởng cho nhau xuất hiện. Chính nhu cầu đó đòi hỏi phải xuất hiện ngôn ngữ.
9
Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Ngôn
ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì
ý thức không thể tồn tại và thể hiện đợc.
Ngôn ngữ cũng cổ xa nh ý thức. Ngôn ngữ vừa là phơng tiện giao tiếp
trong xã hội, đồng thời là công cụ của t duy nhằm khái quát hóa, trừu tợng hóa
hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà con ngời tổng kết đợc thực tiễn, trao đổi thông tin,
trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. ý thức không phải thuần túy là
hiện tợng cá nhân mà là một hiện tợng xã hội, do đó không có phơng tiện trao
đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển đợc.
Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nấht quyết định sự ra đời và phát
triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. ý thức phản ánh hiện thức khách
quan vào bộ óc con ngời thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. ý
thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tợng xã hội.
2. Vai trò của tri thức khoa học công nghệ đối với việc phát triển
kinh tế ở Việt Nam hiện nay
a. Quan niệm về KH - CN
Quan niệm về khoa học
Trong lịch sử phát triển t duy của nhân loại có rất nhiều các quan niệm
khác nhau về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội;
mặt khác phụ thuộc vào trình độ nhận thức. Xét về phơng diện xã hội, khoa học
là một hiện tợng xã hội có nhiều mặt, trong đó biểu hiện sự thống nhất giữa
những yếu tố vật chất và những yếu tố tinh thần. Về phơng diện triết học, khoa
học là một hình thái ý thức xã hội đặc biêt. Đặc biệt, bởi vì khoa học không chỉ
phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, những chân lý của nó đợc
thực tiễn xã hội kiểm nghiệm mà khoa học còn là kết quả của quá trình sáng tạo
logic, của trực giác thiên tài. Còn bởi vì, khoa học (cùng với công nghệ) là
những yếu tố ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng của lực lợng sản xuất,
quyết định trình độ phát triển của lực lợng sản xuất nói riêng, của phơng thức
10
sản xuất và của xã hội nói chung. Về phơng diện nhận thức luận, khoa học là
giai đoạn cao của nhận thức - giai đoạn nhận thức lý luận.
Ngày nay, quan niệm về khoa học đợc phổ biến với những đặc trng cơ
bản sau dây:
- Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con ngời và
về t duy của con ngời. Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại, bản
chất của các sự vật, hiện tợng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy luật khách quan
của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và t duy.
- Hệ thống tri thức khoa học đợc hình thành trong quá trình nhận thức của
con ngời từ trực quan sinh động, đến t duy trừu tợng, từ t duy trừu tợng đến thực
tiễn, dới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết, Nh vậy, tri thức khoa
học không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực, mà còn đợc kiểm nghiệm qua
thực tiễn.
- Hệ thống tri thức khoa học còn có thể đợc hình thành nhờ trực giác hoặc
tuân theo những quy luật của logic học. Loại tri thức khoa học này, xét cho đến
cùng cũng là sự phản ánh thế giới hiện thực và đợc thực tiễn kiểm nghiệm. Do
đó, một hệ thống tri thức đợc coi là tri thức khoa học phải bảo đảm tính đúng
đắn, tính chân thực.
- Nhờ giáo dục, đào tạo, hệ thống tri thức khoa học có sức sống mãnh liệt,
đợc phổ biến rộng rãi và lan truyền rất nhanh chóng. Tốc độ lan truyền đó đã
tăng lên rất nhiều lần nhờ vào quá trình toàn cầu hóa và công nghệ thông tin. Nó
không chỉ là sức mạnh, là sự biến đổi mau lẹ, mà còn là biểu hiện sự giàu có,
thịnh vợng của mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân.
- Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài,
liên tục của t duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay nó đang
trở thành tài sản chung của xã hội loài ngời.
Nh vậy, qua một số những đặc trng cơ bản trên đây về quan niệm khoa
học, ta thấy nổi lên cái cốt lõi của khoa học - đó là hệ thống tri thức chân thực
về tự nhiên, xã hội và t duy. Khoa học là hệ thống tri thức chân thực, nhng có
phải mọi tri thức chân thực đều là khoa học hay không? Để hiểu rõ điều này,
11
chúng ta phải đi tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của tri thức, con đờng từ tri thức
đến khoa học.
Quan niệm về công nghệ
Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi đó là tập hợp tất cả những sự
hiểu biết của con ngời vào việc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu
sống của con ngời, sự tồn tại và phát triển của xã hội. Công nghệ trong sản xuất
là một tập hợp các phowng tiện vật chất, các phơng pháp, các quy tắc, các kỹ
năng đợc con ngời sử dụng để tác động vào đối tợng lao động nhằm tạo ra một
sản phẩm nào đó cần thiết cho xã hội.
Có ba nghĩa chủ yếu về công nghệ đợc sử dụng phổ biến nhất hiện nay:
Một là, công nghệ đợc coi nh một bộ môn khoa học ứng dụng, triển khai
(trong tơng quan với khoa học cơ bản), trong việc vận dụng các quy luật tự
nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh
thần ngày càng cao của con ngời.
Hai là, công nghệ đợc hiểu với t cách nh là các phơng tiện vật chất - kỹ
thuật, hay đó là sự thể hiện cụ thể của tri thức khoa học đã đợc vật thể hóa thành
các công cụ, các phơng tiện kỹ thuật cần cho sản xuất và đời sống.
Ba là, công nghệ bao gồm các cách thức, các phơng pháp, các thủ thuật,
các kỹ năng có đợc nhờ dựa trên cơ sở tri thức khoa học và đợc sử dụng vào sản
xuất trong các ngành khác nhau để tạo ra các sản phẩm.
Ngày nay, trong thời địa của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới,
hay cách mạng thông tin công nghệ lần thứ năm, khi mà khoa học đang trở
thành lực lợng sản xuất trực tiếp, trí tuệ con ngời đang giữ vai trò động lực trực
tiế và quyết định sự phát triển của công nghệ nói riêng, và xã hội nói chung thì
quan niệm về công nghệ, các thành phần cấu trúc của nó lại một lần nữa có sự
mở rộng và phát triển rất cơ bản.
b. Vai trò của tri thức KH - CN trong việc phát triển kinh tế ở Việt Nam
hiện nay
Công nghiệp hóa là con đờng phát triển tất yếu của tất cả các nớc trên thế
giới. Bởi vì, mục đích quan trọng nhất của công nghiệp hóa là phát triển sản xuất
12
xã hội, trớc hết là phát triển lực lợng sản xuất, nhằm thỏa mãn các nhu cầu ngày
càng tăng của con ngời và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Ngày nay, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa. Sự gắn kết chặt
chẽ giữa công nghiệp hóa với hiện đại hóa hiện nay là sự đổi mới về chất, là nhu
cầu mới của sự phát triển xã hội và cũng là quy định mới của thời đại. Điều này,
trớc tiên, đợc quyết định bởi sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của khoa học
và công nghệ và vai trò ngày càng tăng của chúng đối với nền sản xuất xã hội
nói riêng, đối với toàn bộ đời sống xã hội nói chung. Trong những giai đoạn
phát triển trớc đây của xã hội loài ngời, sản xuất còn tách rời khoa học và công
nghệ và thờng là vợt trớc sự phát triển của khoa học và công nghệ. Mói quan hệ
giữa khoa học và công nghệ với sản xuất lúc ấy tuân theo quy luật: sản xuất đi
trớc công nghệ và công nghệ lại đi trớc khoa học.
Nói cách khác, sản xuất cha thật sự gắn kết với khoa học và công nghệ,
cha đợc hiện đại hóa. Ngày nay trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại, trong lĩnh vực này đang hình thành một quy luật mới:
Những phát minh khoa học trở thành nền tảng cho những sáng chế công nghệ và
đến lợt mình, công nghệ này đợc trực tiếp đa vào sản xuất.
Điều đó chỉ có thể có đợc khi khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực
tiếp, nghĩa là những tri thức khoa học nhanh chóng đợc vật thể hóa thành công
cụ, phơng tiện sản xuất, thành hệ thống công nghệ trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất xã hội. Nhờ đó, ngày nay, sản xuất xã hội đã gắn liền với những
phát minh, sáng chế trong khoa học và công nghệ; nó luôn đợc đổi mới và hiện
đại hóa cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ. Hiện đại hóa nền sản
xuất xã hội là nền tảng để thực hiện sự hiện đại hóa toàn bộ đời sống xã hội.
Hiện đại hóa nền sản xuất trớc hết là hiện đại hóa trong lực lợng sản xuất
để đẩy nhanh sự phát triển của lực lợng sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao
động, từ đó làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu của nền kinh tế, tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nớc.
Khoa học và công nghệ là yếu tố cấu thành của lực lợng sản xuất. Tuy
nhiên, nếu nh trong những giai đoạn phát triển trớc đây, khoa học và công nghệ
13
là những yếu tố gián tiếp của lực lợng sản xuất, đứng ngoài quá trình sản xuất
trực tiếp theo nghĩa là từ khoa học, công nghệ đến sản xuất phải trải qua một
thời gian biến đổi lâu dài, tới hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm thì ngày
nay, nhìn chung, khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lợng sản xuất
trực tiếp. Trong một số nớc công nghiệp phát triển, tri thức của những phát minh
mới nhất ở một số lĩnh vực khoa học nh tin học, điều khiển học, sinh vật học
v.v đã nhanh chóng đợc đa vào công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công
nghệ vật liệu mới và từ đó, trực tiếp đi vào sản xuất và dịch vụ của xã hội.
Bằng cách này, lực lợng sản xuất xã hội không ngừng đợc bổ sung và đổi mới
theo hớng gia tăng tính hiện đại, tiên tiến.
Ngày nay xu hớng vận động chung của lực lợng sản xuất hiện đại là
không ngừng thay thế dần các trang thiết bị kỹ thuật, các quy trình, hệ thống
công nghệ cha hoàn thiện (cho năng suấtt thấp, tiêu hoa nhiều nguyên, nhiên vật
liệu, thải bỏ nhiều các chấy gây ô nhiễm môi trờng v.v ) bằng những thiết bị,
những hệ thống công nghệ cao, công nghệ làm sạch, mang nhiều hàm lợng tri
thức. Điều này chỉ có thể thực hiện đợc bằng con đờng phát triển khoa học và
công nghệ. Nh vậy, khoa học và công nghệ đã thúc đẩy sự phát triển của lực l-
ợng sản xuất theo hớng hiện đại, và đó là tiền đề, là cơ sở của hiện đại hóa nền
sản xuất xã hội, vì lực lợng sản xuất là yếu tố quyết định trong một phơng thức
sản xuất.
Con ngời với tri thức nghề nghiệp, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm sản
xuất là một yếu tố cực kỳ quan trọng của lực lợng sản xuất. Khoa học và công
nghệ cũng có vai trò to lớn, quyết định trong việc biến đổi yếu tố con ngời trong
lực lợng sản xuất theo chiều hớng hiện đại. Khoa học và công nghệ đã đến với
con ngời thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tiễn, đã trang
bị cho con ngời những tri thức lý luận và kinh nghiệm cần thiết để họ có thể
nhanh chóng vận hành tốt và thích nghi với các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại,
tiên tiến trong sản xuất, cũng nh có đủ năng lực giải quyết những tình huống
phức tạp, có vấn đề trong sản xuất và đời sống. Mặt khác, sự thờng xuyên đổi
mới theo hớng hiện đại dần của các trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ trong sản
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét