số lượng lao động tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Còn xét từ góc độ
chất lượng, việc nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô, tiền vốn, tri
thức… của doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi nâng cao cầu về chất lượng sức
lao động
1.5 Thất nghiệp
Trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo do cung cầu điều chỉnh linh
hoạt theo mức tăng của tiền công thì thất nghiệp không xảy ra( tuy nhiên
mức tiền lương có thể thấp một cách tuỳ ý). Nhưng không phải lúc nào thị
trường lao động cũng vận hành suôn sẻ, sự mất cân bằng cung cầu lao động
sẽ dẫn tới hiện tượng thất nghiệp. Theo quan điểm của các nhà kinh tế, hiện
tại trong nền kinh tế thị trường thất nghiệp là hiện tượng không thể tránh
khỏi do vậy mối bận tâm của mọi chính phủ là làm sao tìm ra và duy trì một
tỷ lệ thất nghiệp hợp lý sao cho việc tăng việc làm không dẫn tới việc tăng
lạm phát và kết hợp đồng thời với mức độ tăng tiền lương thực tế cho người
lao động. Thất nghiệp - tiền lương - việc làm có mối quan hệ với nhau
thông qua chỉ số lạm phát. Theo nguyên lý của đường cong Phillips nếu thất
nghiệp thấp hơn giới hạn tự nhiên của nó( nhằm mục đích tăng việc làm) thì
lạm phát có xu hướng tăng lên, kết quả là giảm mức tiền lương thực tế của
người lao động
1.6 Mối quan hệ giữa giá cả sức lao động và cân bằng cung cầu lao
động
Kinh tế thị trường là một thể thống nhất của các thị trường: hàng hoá
tiêu dùng và dịch vụ, vật tư, vốn, tài chính, sức lao động, trong đó thị trường
sức lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong lịch sử phát triển, so với
các thị trường khác thì thị trường lao động được hình thành và phát triển
chậm hơn, có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của các thị trường nói trên.
Thị trường sức lao động là một loại thị trường gắn với các yếu tố đầu vào
5
của quá trình sản xuất – kinh doanh, là sự biểu hiện mối quan hệ tác động
giữa một bên là người sử dụng sức lao động và một bên là người có sức lao
động dựa trên nguyên tắc thoả thuận để xác định giá cả sức lao động. Và giá
cả sức lao động cũng như cũng như các loại hàng hoá khác có thể biến động
tăng giảm phụ thuộc vào quan hệ cung cầu sức lao động. Sự vận động của
cung cầu lao động sẽ chi phối số lượng người tham gia vào thị trường lao
động và mức tiền công. Nếu mức cung lao động phù hợp với mức cầu với
điều kiện mức cầu có khả năng thu hút tất cả những người có khả năng lao
động và mong muốn làm việc thì thị trường lao động vận hành tốt. Nếu cung
lớn hơn thì tiền lương sẽ giảm xuống, ngược lại nếu cung nhỏ hơn cầu, tiền
lương sẽ được nâng cao. Mặt khác giá trị sức lao động bằng giá trị các tư
liệu sinh hoạt cần thiết bù đắp lại sức lao động đã hao phí. Nếu giá cả các tư
liệu sinh hoạt thay đổi thì tiền lương danh nghĩa cũng phải thay đổi theo.
Như vậy tiền lương thường xuyên biến động nhưng nó phải xoay quanh giá
trị sức lao động. Tuy nhiên không có thị trường lao động hoàn hảo, trong đó
các yếu tố của nó hoạt động cân bằng tuyệt đối, không có tình trạng thất
nghiệp, không có bất bình đẳng về tiền công và thu nhập vì vậy Nhà nước
luôn nỗ lực tìm cách kiểm soát cung cầu lao động và tiền công sao cho giữ
chúng ở vị trí cân bằng nhưng sự cạnh tranh với mục đích tạo ra động lực lại
phá vỡ sự cân bằng. Các yếu tố thị trường lao động luôn thay đổi theo sự
phát triển kinh tế xã hội. Xã hội càng phát triển thì các yếu tố càng được
kiểm soát hiệu quả hơn và ngược lại các nước kém phát triển thì sự dao động
của các yếu tố này xung quanh vị trí cân bằng càng lớn tính tự phát của thị
trường càng lớn
6
2. Cơ sở lý luận và bản chất tiền lương trong nền kinh tế thị trường
có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
2.1 Về cơ sở lý luận
Khi phân tích quá trình sản xuất của cải vật chất K.Mark đã nêu ra ba
yếu tố của lao động đó là: lao động của con người, đối tượng lao động và
công cụ lao động. Thiếu một trong ba yếu tố đó quá trình sản xuất sẽ không
diễn ra. Trong đó xét về mức độ quan trọng thì lao động của con người là
yếu tố đóng vai trò quyết định, nếu không có sự kết hợp và tác động của sức
lao động con người thì tư liệu sản xuất không thể phát huy được tác dụng. Vì
vậy việc không đánh giá đúng vai trò quyết định của con người trong lao
động sản xuất sẽ dẫn tới hậu quả tiêu cực và ngược lại. Muốn phát huy vai
trò và tính sáng tạo của người lao động chúng ta phải tìm hiểu động cơ hoạt
động cũng như nhu cầu và lợi ích kinh tế của họ để từ đó xây dựng chính
sách tiền lương đáp ứng tốt nhu cầu và lợi ích đó. Vì vậy vấn đề quan trọng
đối với các nhà kinh tế, quản lý cũng như các nhà sản xuất là phải quan tâm
tới các nhu cầu và phải biết làm cho con người thoả mãn hợp lý các nhu cầu
để thúc đẩy họ lao động. Trong nền kinh tế thị trường nhu cầu được thể hiện
tập trung ở lợi ích kinh tế - động lực trực tiếp thúc đẩy người lao động làm
việc và làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả
2.2 Về bản chất
Trước đây quan niệm cũ cho rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không
thể là nền kinh tế thị trường mà là nền kinh tế hoạt động trên cơ sở kế hoạch
hoá tập trung và do đó về bản chất tiền lương không phải là giá cả sức lao
động mà là một phần thu nhập quốc dân được Nhà nước phân phối một cách
có kế hoạch cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động. Như
vậy tiền lương chịu sự tác động của quy luật phát triển cân đối, có kế
hoạch và chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nước. Từ đó mỗi chính sách chế
7
độ và mức lương cụ thể đều do Nhà nước thống nhất ban hành để áp dụng
cho mỗi người lao động bất kỳ họ công tác ở khu vực hành chính sự nghiệp
hay các đơn vị sản xuất kinh doanh
Theo quan điểm mới tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động
trả cho người lao động để hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ
quy định. Với khái niệm này bản chất tiền lương là giá cả sức lao động được
hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa
người có sức lao động và người sử dụng sức lao động, đồng thời chịu sự chi
phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu. Mặt khác lương
phải bao gồm đủ các yếu tố cấu thành để đảm bảo là nguồn thu nhập, là
nguồn sống chủ yếu của bản thân và gia đình người lao động và là điều kiện
để người hưởng lương hoà nhập vào thị trường xã hội. Khái niệm về tiền
lương nêu trên đã khắc phục được quan niệm cho rằng tiền lương là một
phần thu nhập quốc dân được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho
người lao động. Đồng thời khái niệm mới về tiền lương đã nghiêng về việc
thừa nhận sức lao động là hàng hoá đặc biệt và đòi hỏi phải trả lương cho
người lao động theo sự đóng góp và hiệu quả cụ thể.
Để phù hợp với khái niệm mới về bản chất tiền lương trong nền kinh tế
thị trường ở nước ta, có một yêu cầu mới là phải làm cho tiền lương thực
hiện đầy đủ các chức năng của nó: chức năng thước đo giá trị - là cơ sở để
điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả biến động. Chức năng tái sản
xuất sức lao động nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả trên
cơ sở tiền lương bảo đảm bù đắp được sức lao động đã hao phí cho người
lao đông. Chức năng kích thích bảo đảm khi người lao động làm việc có
hiệu quả, có năng suất cao thì về mặt nguyên tắc tiền lương phải được nâng
lên và ngược lại. Chức năng tích luỹ đảm bảo tiền lương của người lao đông
không những duy trì cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc mà còn
để dụ phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hoặc gặp
bất trắc rủi ro
8
Thêm vào đó khi xây dựng các chế độ tiền lương và tổ chức trả lương
phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Trả lương ngang nhau cho các lao động ngang nhau
- Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân
- Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao
động làm việc trong các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân
Trên đây là một số vấn đề cơ bản thuộc cơ sở lý luận và bản chất kinh
tế của tiền lương. Ngoài bản chất kinh tế, tiền lương còn mang bản chất xã
hội vì nó gắn liền với người lao động và cuộc sống của họ. Sức lao động của
con người không giống với hàng hoá khác mà là tổng thể các mối quan hệ xã
hội. Vì vậy trong quá trình nghiên cứu xây dựng chính sách, chế độ tiền
lương lần này không những chỉ tính về mặt kinh tế mà còn đề cập và tính
toán đầy đủ cả về mặt xã hội của tiền lương
2.3 Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
Tiền lương danh nghĩa được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao
động trả cho người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào
năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào
trình độ, kinh nghiệm làm việc ngay trong quá trình lao động
Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng
và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua
được bằng tiền lương danh nghĩa của họ
Như vậy, tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lương
danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và
các loại dịch vụ cần thiết mà họ muốn mua. Mối quan hệ giữa tiền lương
thực tế và tiền lương danh nghĩa được thể hiện qua công thức sau đây:
9
Itltt = Itldn / Igc
Ta có thể thấy rõ nếu giá cả tăng lên thì tiền lương thực tế giảm đi.
Điều này có thể xảy ra ngay cả khi tiền lương danh nghĩa tăng lên( do có
những thay đổi, điều chỉnh trong chính sách tiền lương). Đây là một quan hệ
rất phức tạp do sự thay đổi của tiền lương danh nghĩa, của giá cả và phụ
thuộc những yếu tố khác nhau. Trong xã hội tiền lương thực tế là mục đích
trực tiếp của người lao động hưởng lương. Đó cũng là đối tượng quản lý trực
tiếp trong các chính sách về thu nhập, tiền lương và đời sống
3. Tiền lương tối thiểu
3.1 Phương pháp luận xác định tiền lương tối thiểu
Nhu cầu tối thiểu: được hiểu như là một sự đòi hỏi của người lao động
về điều kiện sinh hoạt tối thiểu về vật chất và tinh thần để tồn tại và làm
việc, được phân chia thành hai hệ thống là nhu cầu sinh học và nhu cầu xã
hội học. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội thì nhu cầu của con
người ngày càng tăng
Mức sống tối thiểu: là một mức độ thoả mãn những nhu cầu tối thiểu
của người lao động trong một thời kỳ nào đó được biểu hiện dưới hai dạng
hiện vật và giá trị. Mức sống tối thiểu bao gồm cơ cấu, chủng loại các tư liệu
sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động giản đơn. Về mặt giá trị,
được biểu hiện giá trị của các tư liệu sinh hoạt và công việc dịch vụ, nó liên
quan chặt chẽ với lương tối thiểu. Mức sống tối thiểu được đảm bảo thông
qua tiền lương tối thiểu và các phúc lợi công cộng
Tiền lương tối thiểu: Lương tối thiểu là mức tiền trả công (mức lương)
thấp nhất do luật định, có thể được trả theo giờ, ngày hoặc tháng cho lao
động giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường, nhằm đảm bảo
mức sống tối thiểu theo nhu cầu thiết u của người lao động và gia đình họ,
phù hợp với giá cả sinh hoạt, quan hệ cung - cầu lao động và điều kiện kinh
tế - văn hoá - xã hội của mỗi nước; được đảm bảo thực hiện bằng pháp luật,
10
không thể bị giảm bớt bởi thoả ước lao động tập thể hoặc thoả thuận cá
nhân. Các mức lương thấp nhất không được ấn định bằng luật thì không
được gọi là mức lương tối thiểu. Mức lương tối thiểu không bao gồm các
khoản tiền thưởng, phúc lợi xã hội, không phải là trợ cấp xã hội.
3.2 Chức năng của tiền lương tối thiểu:
Chức năng xã hội (chức năng cơ bản)
Mức lương tối thiểu là lưới an toàn đối với mọi người làm công ăn
lương, không một người sử dụng lao động nào được trả thấp hơn nhằm loại
trừ bóc lột quá đáng và ngăn cản sự đói nghèo của người lao động dưới mức
cho phép; đồng thời là một công cụ để phòng ngừa và giải quyết tranh chấp
lao động
Chức năng kinh tế
Loại bỏ cạnh tranh không công bằng, buộc chủ doanh nghiệp phải tìm
cách khác (ngoài tiền lương) để giảm chi phí sản xuất; đồng thời người lao
động được chia sẻ lợi ích từ sự phát triển, tạo động lực lao động của người
lao động.
3.3 Các phương pháp xác định mức lương tối thiểu
3.3.1 Xác định mức lương tối thiểu chung
Việc xác định mức lương tối thiểu chung trong nền kinh tế thị trường
là vấn đề rất phức tạp, phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động cho người lao
động, phù hợp với khả năng chi trả tiền lương của người sử dụng lao động
nhằm thúc đẩy thị trường lao động phát triển. Trên cơ sở khuyến nghị của
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), ở nước ta từ năm 1993 đến nay, khi cải
cách tiền lương theo yêu cầu kinh tế thị trường đã sử dụng 4 phương pháp
tiếp cận để xác định mức lương tối thiểu chung như sau:
Phương pháp 1: Xác định từ mức sống tối thiểu theo nhu cầu thiết
yếu của người lao động có nuôi con (gọi tắt là từ nhu cầu tối thiểu)
Phương pháp này được xác định trên cơ sở hệ thống nhu cầu tối thiểu
(chi cho ăn uống và nhu cầu xã hội khác) của người lao động có nuôi con để
11
người lao động hoà nhập vào thị trường lao động. Kết quả của phương pháp
này phụ thuộc vào việc xác định rổ hàng hoá lương thực, thực phẩm, hệ số
nuôi con, tỷ lệ chi cho ăn uống (lương thực, thực phẩm) và chi nhu cầu xã
hội khác trong tổng chi tiêu của gia đình người lao động (về việc xác định
các yếu tố này còn có ý kiến khác nhau).
Phương pháp 2: Xác định từ điều tra mức chi trả tiền lương đối với
lao động giản đơn (chưa qua đào tạo nghề) trên thị trường lao động
Phương pháp này được xác định trên cơ sở: (1) thống kê các mức lương
thấp nhất Chính phủ quy định áp dụng cho các đối tượng hưởng lương khác
nhau; và (2) tính bình quân các mức lương thấp nhất thực trả trên thị trường
lao động. Kết quả của phương pháp này phụ thuộc vào mẫu và các tiêu chí
điều tra tiền lương thực trả thấp nhất trên thị trường lao động (hiện chưa có
mẫu điều tra chuẩn).
Phương pháp 3: Xác định từ khả năng của nền kinh tế
Phương pháp này được xác định trên cơ sở các số liệu công bố của
Tổng cục Thống kê về quỹ tiêu dùng cá nhân dân cư trong GDP, lao động
làm việc trong nền kinh tế, quy mô hộ gia đình, thời gian làm việc hưởng
lương, năng suất lao động xã hội và tương quan về thu nhập giữa các tầng
lớp dân cư. Kết quả của phương pháp này phụ thuộc vào việc xác định hệ số
nuôi con, tỷ trọng tiền lương trong tổng thu nhập, quan hệ giữa lương bình
quân so với lương thấp nhất (về các hệ số điều chỉnh này còn có ý kiến
khác nhau).
Phương pháp 4: Xác định từ chỉ số tăng giá tiêu dùng
Kết quả của phương pháp này là tính đủ trượt giá tiêu dùng vào
lương tối thiểu hiện áp dụng để giữ tiền lương thực tế bằng thời kỳ trước
(chưa tính tăng trưởng GDP và mức tăng năng suất lao động xã hội). Trước
năm 2001, bù đủ trượt giá vào lương là mục tiêu của chính sách tiền lương ở
nước ta, nhưng từ năm 2001 mức lương tối thiểu chung đã được điều chỉnh
cao hơn mức tăng giá tiêu dùng do Tổng cục Thống kê công bố. Tuy nhiên,
12
đến nay mức lương tối thiểu chung (450.000 đồng/tháng), theo nhiều chuyên
gia đánh giá là vẫn chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao
động, chưa thực hiện được các chức năng của tiền lương tối thiểu. Vì vậy,
phương pháp này chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi tiền lương tối thiểu đã đảm
bảo được mức sống tối thiểu theo nhu cầu thiết yếu của người lao động.
Căn cứ kết quả của 4 phương pháp tiếp cận xác định mức lương tối
thiểu chung nêu trên, từ năm 1993 đến nay khi trình Chính phủ ấn định mức
lương tối thiểu chung, chúng ta đều đưa ra một miền xác định lương tối
thiểu, với sự chênh lệch nhau nhiều lần giữa mức cao nhất so với mức thấp
nhất (thấp nhất bằng mức bù trượt giá; cao nhất là nhu cầu tối thiểu, theo
những tính toán thời gian gần đây đó là mức lương thấp nhất được áp dụng ở
doanh nghiệp nhà nước 1.050.000 đồng/tháng). Với cách làm này và trong
điều kiện ngân sách khó khăn thì đương nhiên quyết định chính sách là ấn
định mức lương tối thiểu thuộc miền xác định gần cận dưới. Đây là nhược
điểm cơ bản của việc xác định tiền lương tối thiểu ở nước ta từ năm 1993
đến nay; đồng thời do mức lương tối thiểu chung là “nền” của chế độ tiền
lương đã dẫn đến chính sách tiền lương rất lạc hậu so với thực tiễn, gây khó
khăn cho cải cách cơ bản chính sách tiền lương theo yêu cầu của nền kinh tế
thị trường.
3.3 .2 Xác định mức lương tối thiểu vùng
Mức lương tối thiểu vùng có thể được xác định theo 5 yếu tố: (1)
mức sống tối thiểu của người lao động trong vùng; (2) mức sống chung đạt
được trong vùng (vùng mức sống); (3) mặt bằng tiền lương trong vùng; (4)
giá cả tiêu dùng trong vùng; và (5) các yếu tố về vị trí, vai trò, mức độ hấp
dẫn của vùng.
3.3.3 Xác định mức lương tối thiểu ngành
Mức lương tối thiểu ngành có thể được xác định theo 3 yếu tố: (1)
chất lượng và điều kiện lao động theo yêu cầu của ngành; (2) quan hệ cung
13
cầu lao động của ngành; và (3) các yếu tố về vị trí, vai trò, mức độ hấp dẫn
của ngành.
I. Thực trạng
1.Cải cách tiền lương ở Việt Nam
Từ năm 1993 trở lại đây, Nhà nước quy định mức lương tối thiểu và
được điều chỉnh từng năm theo mức độ trượt giá để bù đắp tiền lương thực
tế và cải thiện đời sống theo mức độ tăng trưởng GDP. Cụ thể là:
+) Năm 1993 : 120.000đ/tháng
+) Năm 1997: 144.000đ/tháng
+) Năm 1999: 180.000đ/tháng
+) Năm 2001: 210.000đ/tháng
+) Năm 2003: 290.000đ/tháng
+) Từ 01/10/2005 đến 01/10/2006: 350.000đ/tháng
+) Từ 01/10/2006 đến nay: 450.000đ/tháng
Như vậy tính ra từ năm 1993 đến tháng 10/2006 đã có đến 7 lần điều
chỉnh mức lương tối thiểu. Tính bình quân, chưa đến 2 năm thì lại có một
lần điều chỉnh tiền lương tối thiểu.
Đặc biệt từ năm 2000 đến năm 2006, chỉ trong vòng 6 năm, Nhà nước
đã phải thực hiện 5 lần điều chỉnh tiền lương tối thiểu. Xét về mặt bản chất,
việc điều chỉnh lương tối thiểu trong thời gian qua có cả yếu tố tăng thu
nhập thực tế cho người lao động, và có cả yếu tố bù đắp phần thu nhập thực
tế bị mất đi do giá của nhiều mặt hàng thiết yếu tăng lên. Tất nhiên, đây là cả
một sự nỗ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo đời sống của
người lao động trong khu vực Nhà nước.
Tuy nhiên, nhìn vào diễn biến của chỉ số lạm phát tiền tệ trong những
năm gần đây thì chỉ số giá hàng tiêu dùng vẫn cao; do vậy, tác động làm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét