c) Sự chuyển hoá của các mặt đối lập
Nh chúng ta đã biết, không phải bất kì sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến
sự chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến
một mức độ nhất định, hội tụ tất cả các điều kiện cần thiết thì mới dẫn đến sự
chuyển hoá, bài trừ phủ định lẫn nhau.
Khi có sự chuyển hoá của các mặt đối lập, thì lúc đó mâu thuẫn đợc giải quyết,
sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Quá trình này diễn ra hết sức phức tạp, phong
phú nhiều vẻ.
Nói tóm lại, trong thế giới vô vàn sự vật, hiện tợng, sự vật hiện tợng nào cũng
chứa đựng mâu thuẫn đợc thể hiện ở những mặt, những thuộc tính, khuynh hớng
phát triển trái ngợc nhau. Khi mâu thuẫn này đợc giải quyết thì sự vật mới ra đời
kéo theo mâu thuẫn mới tồn tại trong sự vật đó Cứ nh vậy thế giới vật chất của
chúng ta luôn vận động biến đổi. Với câu nói nổi tiếng của Hêra crít càng minh
chứng rõ điều này: Không ai có thể tắm trên cùng một dòng sông .
2. Vai trò của qui luật mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn của con ng ời
Mâu thuẫn là hiện tợng phổ biến, nó tồn tại trong mọi mặt của đời sống xã hội dới
nhiều hình thức khác nhau: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài, mâu
thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ
yếu, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
Trong hoạt động thực tiễn, mâu thuẫn tồn tại dới nhiều hình thức khác nhau, việc
phân tích mâu thuẫn có ý nghĩa rất quan trọng. Nh chúng ta đã biết, trong mỗi một
sự vật, hiện tợng, không chỉ có một mâu thuẫn mà cùng một lúc có thể có rất nhiều
mâu thuẫn. Việc giải quyết mâu thuẫn là điều tất yếu, nhng không thể cùng một
lúc chúng ta giải quyết đợc tất cả các mâu thuẫn. Chính vì thế mà phải xác định
xem mâu thuẫn nào cần phải giải quyết trớc.
Ví dụ: Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội
hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là: Tiến hành cải tổ không theo một trình tự rõ
5
ràng, đã có sự phê phán đối với sự trì trệ nhng không xác định đợc mâu thuẫn
nào cần đợc giải quyết trớc, và chúng đợc thực hiện theo sự nhất quán nào, vào thời
gian nào,trong điều kiện nào. Từ đó dẫn đến hiện tợng luống cuống, hỗn độn, mất
ổn định của nhà nớc và xã hội.
Trong hoạt động thực tiễn, phát hiện và nhận thức mâu thuẫn là rất quan trọng,
không nên lảng tránh và che dấu mâu thuẫn. Hơn nữa, mâu thuẫn đợc giải quyết
bằng quá trình đấu tranh theo qui luật khách quan. Cho nên trong đời sống xã hội
chúng ta phải coi hành vi đấu tranh là chân chính.
6
II/ Tính tất yếu phải xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt
Nam
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế ,kiểu quan hệ kinh tế dựa trên một hình
thức sở hữu nhất định về t liệu sản xuất
Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập với nhau mà có liên hệ chặt chẽ với
nhau,tác động lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành
phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tổng
thể các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong môi trờng hợp tác và cạnh tranh
Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội,tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần là một yếu tố khách quan vì
- bớc vào thời kì quá độ,nền kinh té nớc ta còn ở trình độ kém phát triển,lực lợng
sản xuất tồn tại ở nhiều thang bậc khác nhau,do đó chế độ sở hữu về t liệu sản xuất
có nhiều hình thức
- Một số thành phần kinh tế do xã hội cũ để lại,các thành phần này vẫn có vai trò
quan trọng để phát riên kinh tế,có lợi cho đất nớc trong việc giải quyết việc
làm,tăng sản phẩm,huy động các nguồn vốn,nguồn lực để phát triên kinh tế(nh
kinh tế cá thể,tiểu chủ,t bản t nhân)
- một số thành phần kinh tế xuất hiện trong qua trình cảI tao và xây dựng chủ
nghĩa xã hội nh kinh tế nhà nớc,kinh tê tập thể,kinh tế t bản nhà nớc
Các thành phần kinh tế cũ và các thành phần kinh tế mới tồn tại khách quan và
có quan hệ với nhau,tạo thành cơ cấu kinh tế trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ơ nớc ta
III/ Những mâu thuẫn trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần ở Việt Nam.
7
Sau đại hội Đảng lần thứ IV, đất nớc ta bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới toàn
diện, và cho đến nay, sau hơn 20 năm thực hiện đã thực sự đem lại kết quả to lớn
trong mọi mặt của đời sống xã hội: đa đất nớc ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã
hội, tổng sản phẩm trong nớc tăng hàng chục lần, từ tình trạng hàng hoá khan hiếm
nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng đợc nhu cầu thiết yếu của nhân dân và hớng
sang xuất khẩu. kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội tăng nhanh. Trong GDP, tỷ trọng
nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 20%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng
lên 41.8%, dịch vụ từ 38,6% xuống38,1% Bên cạnh những kết quả mà ta đạt đợc,
là những khó khăn trong khi xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa. Trớc hết phải nói đến điểm xuất phát của ta khi chuyển dịch cơ chế, từ nền
kinh tế yếu kém, mang đậm tính tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá vận
hành theo cơ chế thị trờng đòi hỏi phải có sự tích luỹ dồi dào, khoa học công nghệ
phát triển và một nền kinh tế vững mạnh Tiếp theo đó là cơ chế quản lý của nhà
nớc, mặc dù đờng lối của Đảng đặt ra là đúng đắn, nhng việc thực hiện nó không
đồng bộ. Y thức hệ còn cha đợc rõ ràng, tác phong cá nhân yếu kém Chính
những khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trờng, đã nảy
sinh nhiều mâu thuẫn kìm hãm bớc phát triển.
1. Mâu thuẫn giữa lực l ợng sản xuất và quan hệ sản xuất
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, thì vấn đề lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp. xét trên phơng diện triết
học, thì lực lợng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là ý thức, lực lợng sản
xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi, và là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất.
Khi lực lợng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất lúc
này tỏ ra không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm. Để mở đờng cho lực
lợng sản xuất phát triển thì cần thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất
mới phù hợp với lực lợng sản xuất.
8
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, nó là
thớc đo để đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ơ Việt Nam, mặc dù
nhà nớc đã có rất nhiều chính sách để cân đối sao cho LLSX QHSX phát triển
song song đồng bộ. Nhng thực tế cho thấy, khi bắt tay vào xây dựng và phát triển
nền kinh tế thị trờng thì LLSX luôn tỏ ra mâu thuẫn với QHSX.
Tính cạnh tranh và năng động là một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh
tế thị trờng, thì ngợc lại chúng ta lại chậm tháo gỡ các vớng mắc về cơ chế, chính
sách để tạo động lực và điều kiện cho doanh nghiệp nhà nớc nâng cao hiệu quả
hoạt động, phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Việc thí điểm cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nớc còn làm chậm. Cha quan tâm tổng kết thực tiễn,
kịp thời chỉ ra phơng hớng, biện pháp đổi mới kinh tế hợp tác, để hợp tác xã nhiều
nơi tan rã hoặc chỉ còn là hình thức, cản trở sản xuất phát triển, cha kịp thời đúc
kết kinh nghiêm, giúp đỡ các hình thức kinh tế hợp tác mới phát triển. Cha giải
quyết tốt một số chính sách để khuyến khích kinh tế t nhân phát huy tiềm năng,
đồng thời cha quản lý tốt thành phần kimh tế này. Quản lý kinh tế hợp tác liên
doanh với nớc ngoài còn nhiều sơ hở. Kinh tế vĩ mô còn những yếu tố thiếu vững
chắc. Công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch hoá, qui hoạch xây dựng,
quản lý đất đai còn yếu kém, thủ tục đổi mới hành chính chậm. Quản lý xuất nhập
khẩu còn nhiều sơ hở, tiêu cực, một số trờng hợp gây ra tác động xấu với sản xuất.
Chế độ phân phối thu nhập còn bất hợp lý, bội chi ngân sách và nhập siêu còn
lớn Đó là một số hạn chế của QHSX kìm hãm LLSX phát triển và điều đó làm
cho quá trình xây dựng đất nớc của ta gặp nhiều khó khăn.
Một trong những vấn đề bức xúc đối với chúng ta hiện nay đó là việc làm, tình
trạng thất nghiệp là một biểu hiện rõ ràng để chứng tỏ đợc rằng giữa LLSX
QHSX có sự mất cân đối.
Khi QHSX phù hợp, nó không những giải phóng đợc sức sản xuất mà còn tạo tiền
đề để thúc đẩy bớc phát triển của LLSX. Vì vậy vấn đề đặt ra cần đặt ra là làm thế
nào để giải quyết đợc mâu thuẫn này?
9
Cần đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính
sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho
phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở
hữu khác nhau. Mọi doanh nghiệp, mọi công dân đợc đầu t kinh doanh theo hình
thức do luật định và đợc pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình
thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều đợc khuyến khích phát triển lâu
dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và
vừa, từng bớc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.
Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nớc để thức hiện tốt vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế. Phát triển doanh nghiệp nhà nớc trong những sản xuất và dịch vụ
quan trọng: Xây dựng các tổng công ty nhà nớc đủ mạnh để làm nòng cốt trong
những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và quốc
tế
Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của
doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp nhà nớc kinh doanh sang hoạt động theo
cơ chế công ty trách nhiệm hũ hạn hoặc công ty cổ phần. Bảo đảm quyền tự chủ và
tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, cạnh
tranh bình đẳng trớc pháp luật,xoá bỏ bao cấp của nhà nớc đối với doanh nghiệp.
Thực hiện chủ trơng cổ phần hoá những doanh nghiệp mà nhà nớc không nắm giữ
100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động thúc
đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng, phát triển hợp tác xã
kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất kinh doanh, dịch vụ,
tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị tr-
ờng
Hình thành đồng bộ và tiếp tục phát triển, hoàn thiện các loại thị trờng đi đôi với
việc xây dựng khuôn khổ pháp lý thể chế, để thị trờng hoạt động năng động, có
10
hiệu quả. có trật tự, kỉ cơng trong môi trờng cạnh tranh lạnh mạnh, công khai minh
bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh, tổ chức và vận hành an toàn,
hiệu quả thị trờng chứng khoán, thị trờng thị trờng vốn, tiền tệ nhằm hỗ trợ tối đa
cho sản xuất
Và điều cuối cùng là việc đổi mới chế độ sở hữu, đó là mấu chốt quan trọng nhất
trong việc cân bằng mối quan hệ giữa LLSX và QHSX. . Hiện nay ở nớc ta, một số
hình thức sở hữu đã đợc hình thành, một số hình thức khác đang đợc khôi phục
hoặc mới bắt đầu hình thành. Chế độ nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế là
hoàn toàn có cơ sở khách quan. Đó là những thay đổi diễn ra trong suốt quá trình
phát triển kinh tế. Trình độ phát triển LLSX và xã hội hoá sản xuất trong các khu
vực kinh tế quốc dân không giống nhau. Có những khoảng cách đáng kể trong phát
triển kỹ thuật ở các xí nghiệp, các ngành, các vùng khác nhau. Chính vì vậy mà
cần điều chỉnh lại cơ cấu QHSH.
Trong việc đổi mới các quan hệ sở hữu, xác lập nhiều hình thức sở hữu, cần phải
xem xét, đánh giá đúng, tăng cờng vai trò chủ đạo của các hình thức sở hữu nhà n-
ớc, bằng cách cải tổ khu vực này: những xí nghiệp nào cần đợc duy trì, những xí
nghiệp nào cần đợc giải thể và việc giải thể đó ra sao, là những vấn đề hết sức phức
tạp đó là vấn đề then chốt nhắm đảm bảo tiền đề phát triển kinh tế thị trờng định h-
ớng xã hội chủ nghĩa.
2. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội
Trong hoạt động kinh tế, lợi ích là mục tiêu hàng đầu, vì vậy để thực hiện tăng tr-
ởng kinh tế cần phải coi trọng mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể vầ lợi ích
xã hội. Trong nền kinh tế hàng hoa nhiều thành phần mà quan hệ sản xuất đó là
quan hệ hàng hoá-tiền tệ, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội chẳng
những không bị mất đi mà còn có những diễn biến phức tạp hơn. Trớc hết là phải
nói đến u điểm của nền kinh tế hàng hoá, phân công lao động và chuyên môn hóa
trong sản xuất làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên,hàng hoá tạo ra
11
nhiều,kích thích sự cạnh tranh trên thị trờng ,điều kiện cho mọi cá nhân phát huy
năng lực, trí tuệ, tuy nhiên sự phát triên của thị trơng có sự quản lý cua nhà nớc đã
tạo ra mâu thuẫn.Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nếu không đợc
giải quyết đúng đắn sẽ biểu hiện thành những hiện tợng bất công bằng xã hội.
Trong mối quan hệ này, nếu lợi ích cá nhân bị vi phạm thì xã hội sẽ mất đi một
động lực to lớn của sự phát triển xã hội. Còn ngợc lại, nếu các nhân có lợi, nhng lợi
ích xã hội bị vi phạm, thì nạn nhân của sự bất công lại là cộng đồng xã hội.
Ví dụ: Vì lợi ích cá nhân mà trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngời ta có thể
phá hoại môi trờng sống, có thể làm những việc phi pháp, phi đạo đức, phi nhân
tính, để có lợi cho bản thân, làm thất thoát tài sản của nhà nớc Trong trờng hợp
này hậu quả do cá nhân đó tạo ra làm ảnh hởng đến cộng đồng xã hội.
Chúng ta cần biệt lợi ích chính đáng với lợi ích ích kỉ cá nhân. Lợi ích chính đáng
của cá nhân là động lực phát triển của xã hội, là cái mà xã hội phải tôn trọng và
phát huy, còn lợi ích ích kỉ của cá nhân là nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân, là
nguyên nhân dân đến sự thoái hoá, biến chất, trộm cắp, tham nhũng của một số cá
nhân trong bộ máy của nhà nớc. Nếu xã hội không có những biện pháp tích cực và
có hiệu quả thì những tệ nạn này chẳng những không giảm đi, mà trái lại càng gia
tăng, vì cùng với sự phát triển kinh tế, của cải xã hội, phúc lợi tập thể sẽ tăng lên và
những thứ này lại đợc giao cho cá nhân trực tiếp quản lý.
Thực tế cho thấy rằng ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng và phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa thì
tình trạng tham nhũng, suy thoái về t tởng chính trị, đạo đức và lối sống ở một bộ
phận không nhỏ cán bộ đảng viên là rất nghiêm trọng. Sở dĩ có tình trạng trên là do
nguyên nhân chủ quan trong quá trình thực hiện đờng lối của Đảng:
Việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trơng, chính sách của Đảng cha tốt, kỉ
luật, kỉ cơng cha nghiêm. Tình trạng tuỳ tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỉ luật và tinh
thần trách nhiệm, không chấp hành chỉ thị, nghị qyuết của Đảng, pháp luật, chính
sách của nhà nớc, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho đờng lối của
12
Đảng khó đi vào cuộc sống. Công tác chỉ đạo, điều hành ở các cấp, các ngành còn
bất cập, thiếu kiểm tra, đôn đốc và cha có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu lực và hiệu
quả cha cao. Nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật và Điều lệ của Đảng còn
cha đợc xử lý thật kiên quyết.
Một số quan điểm, chủ trơng cha rõ, cha có sự nhận thức thống nhất và cha đợc
thông suốt ở các cấp, các ngành. Cải cách hành chínhtiến hành chậm, thiếu kiên
quyết, hiệu quả thấp. Tổ chức bộ máy nhà nớc còn công kềnh, trùng lặp chức năng
với nhiều tầng nấc trung gian và những thủ tục hành chính phiền hà, không ít trờng
hợp trên và dới, trung ơng và địa phơng hành động không thống nhất, gây khó
khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội và là giảm động lực phát triển. Một số ngời
và cơ quan do lợi ích cá nhân, cục bộ không muốn đẩy mạnh cải cách hành chính,
cải cách tổ chức bộ máy nhà nớc
Trên đây là những tiêu cực của một số cá nhân có chức quyền và lạm dụng nó để
tiến hành mu lợi riêng cho mình, gây tổn thất nặng nề cho nền kinh tế quốc dân.
Còn đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh bất chấp pháp luật để chạy theo lợi
nhuận. Hiện tợng làm hàng giả, hàng lậu vẫn tiếp tục phát triển làm ảnh hởng đến
chất lợng sản phẩm.
Nh vậy, chính mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nảy sinh trong nền
kinh tế thị trờng, càng cho thấy rõ đợc tầm quan trọng trong vai trò quản lý của nhà
nớc đối với việc phát triển kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tiêu cực
trong xã hội đó là sự quản lý yếu kém, không đồng bộ của nhà nớc. Chính vì vậy
mà trong nghị quyết trung ơng Đảng lần thứ IX, chủ trơng chỉnh đốn Đảng, tạo ra
sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng, lãnh đạo tổ chức
thực hiện, xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nớc trong sạch, vững mạnh. Cần nhận
thức rằng: Đ ờng lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự
nghiệp đổi mới .
13
3. Mâu thuẫn giữa kinh tế thị tr ờng và mục tiêu xây dựng con ng ời xã hội chủ
nghĩa
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội tr ớc hết phải
có con ngời XHCN. Yêu tố con ngời giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp
cách mạng, bởi con ngời là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật
chất và văn hoá. Con ngời phát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về thể chất,
phung phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây
dựng xã hội mới, là mục tiêu của CNXH. Chúng ta phải bắt đầu từ con ngời làm
điểm xuất phát .
Kinh tế hàng hoá là một loại hình kinh tế mà trong đó sản phẩm sản xuất ra với
mục đích để trao đổi,mua bán,do vậy, các mối quan hệ kinh tế giữa con ngời với
con ngời đợc biểu hiện thông qua thị trờng, tức là thông qua việc mua bán, trao đổi
hàng hoá tiền tệ trên thị trờng. Trong kinh tế thị trờng, các quan hệ hàng hoá tiền tệ
phát triển, mở rộng, bao quát trên mọi lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với ngời
sản xuất và ngời tiêu dùng. KTTT phản ánh đầy đủ trình độ văn minh và phát triển
xã hội, là nhân tố phát triển sức sản xuất, tăng trởng kinh tế, thúc đẩy xã hôi tiến
lên. tuy nhiên KTTT cũng có những khuyết tật nh: sự cạnh tranh lạnh lùng, tính tự
phát mù quáng dẫn đến phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ
Xuất phát từ sự phân tích trên dây, chúng ta đã thấy rằng đổi mới ở nớc ta hiện
nay, không thể xây dựng con ngời nếu thiếu yếu tố KTTT. Do hậu quả của nhiều
năm chiến tranh, nền kinh tế kém phát triển, mô hình kinh tế không phù hợp, nớc
ta đã bị tụt hậu nghiêm trọng so với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Trong
bối cảnh đó, KTTT là điều kiện rất quan trọng đa nền kinh tế nớc ta ra khỏi khủng
hoảng và đi vào phục hồi, đẩy mạnh tốc độ tăng trởng, bắt kịp bớc tiến của thời
đại.
Trong những năm qua, KTTT ở nớc ta đã đợc nhân dân hởng ứng rộng rãi và đi
vào cuộc sống rất nhanh chóng, làm cho nền kinh tế sôi động hơn,. Đây là kết quả
đáng mừng và cần đợc phát huy, nó thể hiện sự vận dụng đúng đắn các quy luật
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét