Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.docx

LỜI NÓI ĐẦU
rong những năm vừa qua, tình hình kinh tế xã hội đất nước
đã có nhiều chuyển biến tích cực, mọi mặt đời sống xã hội
được cải thiện, chúng ta đã ký được hiệp định thương mại
Việt - Mỹ và đang trong quá trình gia nhập tổ chức thương
mại thế giới WTO. Vì vậy, trước mắt các doanh nghiệp Việt Nam đang là
những thời cơ và thách thức mới đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn trong
cạnh tranh. Không nằm ngoài xu thế chung đó, ngành ngân hàng Việt Nam
nói chung và Sở giao dịch I - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói
riêng cũng có những thời cơ và thách thức trong tình hình mới.
T
Thực tế cho thấy, môi trường kinh doanh ngân hàng trong thời gian qua
ngày càng trở nên khó khăn, lãi suất trên thị trường thế giới liên tục giảm
gây áp lực lên hệ thống ngân hàng Việt Nam. Mặt khác, bản thân các ngân
hàng trong nước cũng có sự cạnh tranh quyết liệt với nhau nên càng gây ra
nhiều khó khăn, buộc các ngân hàng phải nới lỏng các yêu cầu khi cho vay
cũng như cắt giảm lãi suất tạo ra nhiều nguy cơ rủi ro trong hoạt động tín
dụng. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp và do đó gián tiếp ảnh hưởng đến các ngân
hàng. Các doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận có thể sử dụng vốn vay của
ngân hàng không đúng mục đích hoặc đầu tư không hiệu quả, thu nhập
không đủ bù đắp chi phí dẫn đến không thể trả được nợ ngân hàng khi
đến hạn, tất cả những điều đó đều có thể gián tiếp gây ra rủi ro cho ngân
hàng đặc biệt là rủi ro đối với hoạt động tín dụng. Vì vậy, trong thời gian
tới việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là thực sự có ý nghĩa và luôn
là một đề tài bức xúc đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Tìm
được các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng để tăng hiệu quả
trong kinh doanh ngân hàng là mong muốn của tất cả các nhà kinh doanh
tiền tệ khi phải đối đầu với sự cạnh tranh quyết liệt, giành giật thị phần để
mang lại lợi nhuận.
Nhận thức được điều đó, cùng với mong muốn sử dụng những kiến thức
đã học cũng như các kết quả quan sát học hỏi từ thực tiễn hoạt động tại Sở
5
giao dịch I - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam em đã lựa chọn đề
tài nghiên cứu là: “Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Sở giao
dịch I - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”.
Trong bài luận văn này, em sẽ trình bày các vấn đề lý luận cũng như
thực trạng và nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch. Từ đó
đưa ra một số giải pháp và kiến nghị góp hạn chế rủi ro tín dụng đối với các
Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và đối với Sở giao dịch I - Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng.
Kết cấu luận văn gồm 3 phần:
Chương I: Lý luận chung về tín dụng và rủi ro tín dụng.
Chương II: Thực trạng tín dụng và rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch I -
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng
tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Do điều kiện thời gian và trình độ có hạn nên bài luận sẽ không tránh
khỏi có những thiếu sót nhất định cần được bổ sung. Em rất mong nhận
được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và các cán bộ tín dụng để bài luận văn
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Hoàng Xuân Quế cùng các thầy cô
trong Khoa Ngân hàng - Tài chính đã tận tình hướng dẫn giúp em làm tốt
đề tài này. Em cũng xin cảm ơn tập thể cán bộ Phòng tín dụng I - Sở giao
dịch Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện cho em trong quá trình thực tập tại quý cơ quan.
6
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng:
Tín dụng là mối quan hệ kinh tế trong đó các chủ thể chuyển cho nhau quyền
sử dụng về một lượng giá trị hoặc hiện vật với những điều kiện mà hai bên thoả
thuận như số lượng, thời hạn, lãi suất theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi.
Như vậy, tín dụng có thể được hiểu đơn giản là một quan hệ vay mượn lẫn
nhau dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Đối tượng vay mượn có thể là tiền hoặc tài sản. Nguyên tắc hoàn trả khẳng
định người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng tiền hoạc tài sản của mình cho
người đi vay trong một khoảng thời gian nhất định. Hết thời hạn đó người đi vay
sẽ phải hoàn trả cho người cho vay một số tiền hay tài sản nhất định theo thoả
thuận. Thông thường giá trị khoản hoàn trả sẽ lớn hơn giá trị khoản cho vay.
Với cùng bản chất như vậy, tín dụng Ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn
nhau giữa một bên là ngân hàng và bên kia là các chủ thể kinh tế khác như các
đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội, dân cư dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc
và lãi trong một khoảng thời gian nhất định. Việc hoàn trả có thể thực hiện một
lần hay nhiều lần tuỳ theo thoả thuận giữa hai bên.
Một ngân hàng khi tham gia vào các quan hệ tín dụng có thể đóng vai trò là
người đi vay hoặc người cho vay. Khi ngân hàng nhận tiền gửi, phát hành trái
phiếu, kỳ phiếu để huy động vốn, vay vốn từ Ngân hàng Trung Ương, từ các tổ
chức tín dụng khác thì nó đóng vai trò là người đi vay. Còn khi ngân hàng thực
hiện việc cho vay trực tiếp, chiết khấu thương phiếu thì nó đóng vai trò là
người cho vay. Tuy nhiên, trong thực tế do tính phức tạp của hoạt động cho vay
so với hoạt động đi vay và cũng là do thói quen nên khi nói đến tín dụng Ngân
hàng người ta thường chỉ đề cập đến hoạt động cho vay mà ít khi đề cập đến
hoạt động đi vay.
2. Phân loại tín dụng Ngân hàng:
Các khoản cho vay của Ngân hàng có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức
khác nhau. Tuỳ vào mục đích nghiên cứu mà người ta có thể phân loại tín dụng
ngân hàng theo mục đích sử dụng tiền vay, theo thời hạn trong quan hệ tín dụng,
theo tính chất bảo đảm hoặc theo thành phần kinh tế.
Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay, tín dụng được chia thành:
- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức cho vay phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng
cá nhân.
- Tín dụng nông nghiệp: là hình thức cho vay phục vụ cho mục đích sản
xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Tín dụng công nghiệp: là hình thức cho vay phục vụ cho mục đích sản
xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp.
- Tín dụng xuất nhập khẩu: là hình thức cho vay nhằm tài trợ cho hoạt động
xuất nhập khẩu.
Căn cứ vào tính chất bảo đảm, tín dụng có thể chia thành:
- Tín dụng có bảo đảm là hình thức cho vay có cầm giữ các vật thế chấp cụ
thể nào đó như xe cộ hoặc một hình thức nào đó về tài sản cá nhân.
- Tín dụng không có bảo đảm: khác với tín dụng có bảo đảm, tín dụng
không có bảo đảm được dựa trên cơ sở uy tín, tình hình tài chính của người vay,
lợi tức có thể được trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây.
Căn cứ vào thời hạn trong quan hệ tín dụng có thể chia thành:
- Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn dưới 1 năm nhằm
đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của người vay như nhu cầu về vốn lưu động.
- Tín dụng trung hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm
phục vụ nhu cầu sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định của các doanh nghiệp, cải
tiến kỹ thuật hoặc xây dựng những công trình loại nhỏ, thời hạn thu hồi vốn
không dài.
- Tín dụng dài hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trên 3 năm, phục
vụ nhu cầu trang bị tài sản cố định cho sản xuất kinh doanh, hay xây dựng
những công trình lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn.
Căn cứ vào thành phần kinh tế có thể chia thành:
- Tín dụng kinh tế quốc doanh: là những khoản tín dụng cung cấp cho các
doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, các khoản tín dụng này có thể được thực
hiện trực tiếp giữa Ngân hàng với các doanh nghiệp hoặc theo kế hoạch Nhà
nước.
- Tín dụng kinh tế ngoài quốc doanh: là những khoản tín dụng cung cấp cho
các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân như các công ty TNHH, công ty cổ
phần
3. Vai trò của tín dụng Ngân hàng:
Trong nền kinh tế thị trường, tồn tại rất nhiều hình thức tín dụng khác nhau
như tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng, tín dụng nặng lãi, tín dụng thuê
mua Trong đó tín dụng Ngân hàng là loại hình tín dụng giữ vai trò quan trọng
nhất và cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng giúp lưu thông luồng tiền tệ, dẫn vốn từ nơi
thừa đến nơi thiếu, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Mặt
khác, tín dụng cũng là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của
các Ngân hàng thương mại. Trong thời gian dài, tín dụng luôn là hoạt động
mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các Ngân hàng thương mại kể cả các Ngân hàng
thương mại trong nước và các Ngân hàng thương mại trên thế giới.
Ngày nay, khi công nghệ Ngân hàng phát triển đến trình độ cao, các dịch vụ
Ngân hàng đã bắt đầu thể hiện rõ ưu thế của mình và ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn hơn trong hoạt dộng của các Ngân hàng thương mại, tín dụng vẫn là hoạt
động không thể thiếu được của các Ngân hàng. Tín dụng vẫn tạo ra nguồn thu
nhập cơ bản cho các Ngân hàng thương mại, nó bảo đảm cho hoạt động của các
Ngân hàng thương mại được thông suốt. Chính vì vậy, tín dụng Ngân hàng luôn
luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với bản thân mỗi Ngân hàng nói
riêng và đối với nền kinh tế nói chung.
1. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế:
Tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia giữ một vai trò hết
sức quan trọng. Xét trên nhiều mặt, hoạt động tín dụng Ngân hàng góp phần
thúc đẩy mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển, tài trợ cho các thành
phần kinh tế kém phát triển và các ngành mũi nhọn của quốc gia. Đồng thời hoạt
động tín dụng Ngân hàng cũng tạo điều kiện để phát triển kinh tế đối ngoại, hội
nhập với nền kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động tín dụng, mối
quan hệ giữa Ngân hàng với khách hàng mà cụ thể là các doanh nghiệp được
củng cố và tăng cường, ngân hàng và doanh nghiệp sẽ hỗ trợ nhau cùng phát
triển. Với mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra, đến năm 2020 đưa nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp, đồng thời với lộ trình gia nhập AFTA
tiến tới gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của nước ta thì tín dụng
Ngân hàng càng có vai trò quan trọng. Cụ thể, vai trò của tín dụng Ngân hàng
đối với nền kinh tế được thể hiện trên một số mặt như sau:
Thứ nhất, hoạt động tín dụng Ngân hàng giúp điều hoà vốn trong nền kinh
tế, cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất, tái sản xuất mở rộng. Như chúng ta đã
biết, vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế vận động liên tục
và biểu hiện các hình thái khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất
tạo thành chu kỳ tuần hoàn và luân chuyển vốn, điểm xuất phát và kết thúc của
một vòng tuần hoàn này được thể hiện dưới dạng tiền tệ.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn
của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ - sản xuất -
lưu thông. Từ đó xảy ra hiện tượng thừa hoặc thiếu vốn tạm thời tại các doanh
nghiệp. Đây chỉ là hiện tượng mang tính chất tạm thời nhưng xảy ra thường
xuyên và phổ biến, làm nảy sinh yêu cầu phải giải quyết cho được vấn đề điều
hoà vốn trong nền kinh tế. Với nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ tín dụng,
các Ngân hàng thương mại đã giải quyết được vấn đề này. Ngân hàng thương
mại đứng ra tập trung và phân phối lại vốn, điều hoà cung - cầu vốn trong nền
kinh tế, góp phần điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn.
Mặt khác, để mở rộng sản xuất đối với các doanh nghiệp thì yêu cầu về vốn
là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra. Các doanh nghiệp
không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có, mà còn phải biết dựa vào nhiều nguồn
vốn khác nhau trong xã hội. Ngân hàng thương mại với tư cách là nơi tập trung
đại bộ phận vốn nhàn rỗi sẽ đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư phát triển.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời
gian tích luỹ vốn nhanh chóng cho đầu tư mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy
nhanh tốc độ tập trung và tích luỹ vốn cho nền kinh tế.
Thứ hai, tín dụng Ngân hàng là công cụ vĩ mô của Nhà nước để tài trợ cho
các ngành mũi nhọn và các thành phần kinh tế kém phát triển. Trong tiến trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, tín dụng Ngân hàng được xem như một
công cụ vĩ mô quan trọng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, phát huy tối
đa lợi thế so sánh của đất nước. Mặc dù các ngành này có tỷ lệ sinh lời thấp, thời
gian thu hồi vốn chậm, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn nhưng đây là các ngành
kinh tế mũi nhọn, là xương sống của nền kinh tế, là cơ sở đề phát triển đất nước.
Chính vì vậy, việc đầu tư phát triển các ngành này là một yêu cầu không thể
thiếu và tín dụng Ngân hàng được xem như một trong những nguồn vốn quan
trọng tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn.
Bên cạnh đó, quá trình phát triển và hội nhập quốc tế còn đòi hỏi phải vực
dậy một số ngành kinh tế kém phát triển để có đủ khả năng cạnh tranh với các
nước trên thế giới. Muốn vậy, cần phải có vốn đầu tư lớn đối với các ngành kinh
tế này. Vốn đầu tư có thể được huy động từ nhiều nguồn nhưng quan trọng nhất
vẫn là nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng.
Thứ ba, tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại. Trong
những năm tới, khi hàng rào thuế quan giữa các nước trong khu vực được dỡ bỏ,
các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đứng trước một thách thức to lớn là phải đối đầu
với các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực kinh tế mạnh, có kỹ thuật và công
nghệ tiên tiến. Khi đó, các doanh nghiệp của Việt Nam cần phải không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời hạ giá thành sản xuất, đa dạng mẫu mã
chủng loại hàng hoá, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường trong nước cũng như thị
trường nước ngoài. Có như vậy mới cạnh tranh được với hàng hoá của nước
ngoài, củng cố và mở rộng thị phần của các doanh nghiệp Việt Nam. Để làm
được điều đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải có vốn đầu tư để mở rộng
sản xuất, đổi mới công nghệ và nguồn vốn vay của Ngân hàng là thực sự cần
thiết.
2. Vai trò của nghiệp vụ tín dụng đối với các Ngân hàng thương mại:
Bên cạnh vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế, nghiệp
vụ tín dụng còn giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với bản thân mỗi Ngân
hàng thương mại. Tín dụng là hoạt động cơ bản, có ý nghĩa quyết định đối với
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.
Bản chất của một Ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ
yếu là “đi vay để cho vay”. Nguồn vốn mà Ngân hàng huy động, trước tiên được
sử dụng vào hoạt động cho vay và đây cũng là hoạt động mang lại phần lớn lợi
nhuận cho Ngân hàng. Khi các Ngân hàng không thực hiện được duy trì và mở
rộng tín dụng thì phần vốn mà Ngân hàng huy động được sẽ bị ứ đọng, Ngân
hàng sẽ phải trả lãi cho phần vốn đó trong khi không có thu nhập từ lãi cho vay,
điều này sẽ dẫn Ngân hàng tới chỗ bị thua lỗ và có khả năng bị phá sản. Hơn
nữa, việc nâng cao chất lượng và mở rộng hoạt động tín dụng sẽ tạo điều kiện để
Ngân hàng phát triển đa dạng thêm các hoạt động dịch vụ khác. Do đó, việc duy
trì và mở rộng tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với các Ngân hàng thương
mại.
2. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1. Quan điểm chung về rủi ro tín dụng:
Mọi hoạt động kinh doanh đều có thể gặp rủi ro, rủi ro và kinh doanh là hai
mặt đối lập nhau trong một thể thống nhất của quá trình kinh doanh, chúng luôn
tồn tại và mâu thuẫn với nhau. Muốn cho quá trình kinh doanh tồn tại và phát
triển thì kinh doanh phải khống chế được rủi ro.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về rủi ro. Có ý kiến cho rằng, khi
nói tới rủi ro là nói tới điều gì đó đã xảy ra.
Ví dụ, trong Ngân hàng khi nói tới rủi ro tín dụng, thông tin mà người nghe
nhận được sẽ là “số nợ quá hạn” của Ngân hàng. Điều này cũng có nghĩa là
trong tổng số các khoản cho vay của Ngân hàng đến hạn thu nợ có một số khoản
Ngân hàng chưa thể thu được nợ theo thời hạn ghi trong hợp đồng.
Có ý kiến lại cho rằng, nói tới rủi ro không chỉ dừng lại ở mức liệt kê đơn
thuần về điều đã xảy ra mà còn phải bao hàm cả những thiệt hại mà những điều
đã xảy ra mang lại. Theo đó khi nói tới rủi ro tín dụng có nghĩa là những khoản
cho vay bị mất - không thể thu hồi.
Những người theo quan niệm rủi ro là điều tất yếu xảy ra khi tiến hành bất cứ
một công việc nào lại cho rằng “rủi ro” là những khả năng xảy ra sự cố có thể
dẫn tới tổn thất về cái gì đó. Theo quan điểm này, gắn với hoạt động tín dụng
của Ngân hàng, rủi ro đã hàm chứa ngay từ khi bắt đầu thực hiện cho vay chứ
không phải “chờ đợi” sự trả chậm hay không trả của người vay mới coi là rủi ro.
Ý kiến chung nhất cho rằng rủi ro là một khái niệm chỉ khả năng xảy ra
những biến cố mang lại kết quả xấu khi tiến hành một công việc nào đó.
Như vậy, cần hiểu rủi ro bao gồm những nội dung như sau:
- Trước hết, rủi ro là một hiện tượng có thể xảy ra ngoài mong muốn khi
tiến hành bất cứ một công việc nào. Với quan niệm như vậy, mỗi khi bắt đầu tiến
hành một công việc nào đó cần lường trước những rủi ro có thể xảy ra.
- Thứ hai, mặc dù rủi ro là hiện tượng tiềm ẩn và không phải bao giờ cũng
xảy ra khi tiến hành các hoạt động nhưng trong nhiều trường hợp, do tính lặp lại
của rủi ro nên người ta có thể nhận biết được tính quy luật của nó. Chính vì điều
này mà người ta có thể tìm những biện pháp nhằm hạn chế rủi ro.
- Thứ ba, rủi ro dù ít xảy ra nhưng khi đã xảy ra thường gây nên những tổn
thất. Ý thức được điều này, người ta luôn tìm các biện pháp để hạn chế tổn thất
khi rủi ro xảy ra.
Trong các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại, thì nghiệp vụ tín dụng là
nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Với đặc trưng của hoạt động tín dụng
Ngân hàng - chủ thể là Ngân hàng và người vay, đối tượng là tiền, với các điều
kiện về thời hạn vay, lãi suất - với quan điểm như trên về rủi ro, ta có thể hiểu
rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không hoàn trả được nợ đúng thời hạn
hoặc không trả nợ cho Ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là một tất yếu trong kinh doanh Ngân hàng, nó được thể hiện
trên hai mặt:
Thứ nhất, với đặc điểm kinh doanh tín dụng, có sản phẩm độc quyền là tiền
tệ, kinh doanh tín dụng Ngân hàng bán “quyền sử dụng tiền tệ” với thời hạn cho
vay và giá bán là lãi suất. Hoạt động tín dụng Ngân hàng có liên quan tới rất
nhiều chủ thể trong nền kinh tế, có tính xã hội hoá cao, chính vì thế, nó cũng
chịu tác động rất lớn từ nhiều phía như cơ chế chính sách, môi trường kinh
doanh. Do vậy, khi có sự biến động trong nền kinh tế, sự thay đổi về cơ chế
chính sách hay môi trường kinh doanh đều có ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng
Ngân hàng và có thể dẫn đến rủi ro. Mặt khác, Ngân hàng hoạt động theo
phương châm “đi vay để cho vay”, do đó, hiệu quả kinh tế của người đi vay
cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.
Thứ hai, thực tế cho thấy, những năm 1989 - 1990 ở nước ta hàng loạt hợp
tác xã tín dụng sụp đổ, nền tài chính trong trạng thái khủng hoảng ảnh hưởng
đến kinh tế xã hội. Trong thời gian gần đây, tình trạng nợ quá hạn tại các Ngân
hàng trong nước cũng không tốt, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ còn cao, đòi
hỏi phải có những biện pháp để giải quyết. Không chỉ riêng trong nước mà ngay
cả ở một số nước có nền kinh tế phát triển như Nhật, Anh, Pháp với các hệ
thống Ngân hàng hiện đại có quy mô dự phòng rủi ro lớn vẫn xảy ra những tổn
thất đáng kể.
Như vậy, có thể nói rủi ro trong tín dụng là một tất yếu khách quan trong hoạt
động của các Ngân hàng thương mại. Vấn đề là làm sao để hạn chế tối đa những
rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động tín dụng Ngân hàng. Muốn vậy, trước hết
cần phải đánh giá được mức độ của rủi ro tín dụng thông qua một số chỉ tiêu đo
lường rủi ro tín dụng.
2. Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng:
1. Nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá rủi ro tín dụng
của một Ngân hàng. Nợ quá hạn được hiểu là các khoản nợ mà người vay không
có khả năng thanh toán đầy đủ hoặc đúng hạn như đã cam kết với Ngân hàng khi
đến hạn trả nợ. Để xem xét mức độ rủi ro tín dụng thông qua nợ quá hạn, ở nước
ta sử dụng chỉ tiêu sau:
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ Nợ quá hạn = x 100%
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này phản ánh lượng đơn vị tiền tệ Ngân hàng không thể thu hồi đúng
hạn trong 100 đơn vị tiền tệ Ngân hàng đã cho vay tại thời điểm xác định.
Nước ta hiện đang sử dụng phổ biến chỉ tiêu này để đánh giá chất lượng tín
dụng của các Ngân hàng thương mại. Hiện nay, nhiều nhà kinh tế cho rằng tỷ lệ
nợ quá hạn < 5% là có thể chấp nhận được trong hoạt động tín dụng và được coi
là ngưỡng an toàn đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng và của nền kinh tế.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng do dư nợ quá hạn và tổng dư nợ được đo tại một
thời điểm nhất định nên tỷ lệ nợ quá hạn không phản ánh đúng thực chất chất
lượng tín dụng của Ngân hàng. Tỷ lệ này chỉ phản ánh các khoản nợ đã quá thời
hạn thanh toán chứ chưa phản ánh được mức độ rủi ro của các khoản nợ chưa
đến thời hạn thanh toán. Một số các khoản nợ loại này có thể còn chứa đựng
nhiều rủi ro hơn các khoản nợ đã được xác định là nợ quá hạn.
Nợ quá hạn có thể chia ra thành nhiều loại tuỳ theo tiêu thức đã chọn. Việc
phân loại nợ quá hạn có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng theo
các khía cạnh khác nhau. Đồng thời, phân loại nợ quá hạn cũng giúp tìm ra các
giải pháp trong phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.
Theo khả năng thu hồi, có thể chia nợ quá hạn thành:
- Nợ quá hạn thông thường: là các khoản nợ đến ngày đáo hạn người vay
chưa trả được nợ cho Ngân hàng nhưng khả năng hoàn trả là khá cao, sự chậm
trễ trong việc trả nợ là ngắn.
- Nợ quá hạn khó đòi (nợ khó đòi): là những khoản nợ đã quá hạn một thời
gian dài mà con nợ không có khả năng thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi cho Ngân
hàng, khả năng thu hồi khoản nợ này là thấp và quá trình thu nợ thường gặp khó
khăn, phức tạp.
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi (mất vốn): là những khoản nợ quá
hạn mà Ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp để thu nợ nhưng không thể thu
đựoc toàn bộ hoặc một phần nợ gốc. Con nợ không còn nguồn để trả nợ cho
Ngân hàng cả hiện tại và trong tương lai, khả năng thu hồi nợ của Ngân hàng là
bằng không và Ngân hàng xác định khoản nợ này là không thu hồi được.
Việc phân loại các khoản nợ quá hạn theo khả năng thu hồi phản ánh rõ nhất
về mức độ rủi ro tín dụng của Ngân hàng. Nợ quá hạn không có khả năng thu
hồi càng cao thì nguy cơ mất vốn của Ngân hàng càng lớn.
Theo thời gian quá hạn, có thể chia nợ quá hạn thành:
- Nợ quá hạn dưới 6 tháng: là các khoản nợ mà tại thời điểm thống kê, thời
gian quá hạn thanh toán là dưới 6 tháng và người vay vẫn chưa thanh toán đầy
đủ nợ gốc cho Ngân hàng.
- Nợ quá hạn từ 6 tháng đến 12 tháng: là các khoản nợ mà tại thời điểm
thống kê, thời gian quá hạn thanh toán là từ 6 tháng đến 12 tháng và người vay
vẫn chưa thanh toán đầy đủ nợ gốc cho Ngân hàng.
- Nợ quá hạn trên 12 tháng: là các khoản nợ mà tại thời điểm thống kê, thời
gian quá hạn thanh toán là trên 12 tháng và người vay vẫn chưa thanh toán đầy
đủ nợ gốc cho Ngân hàng.
Những khoản nợ quá hạn dưới 6 tháng được coi là có độ rủi ro thấp, nợ quá
hạn từ 6 - 12 tháng được coi là có độ rủi ro trung bình còn nợ quá hạn trên 12
tháng được coi là có độ rủi ro cao, có khả năng gây mất vốn cho Ngân hàng.
2. Tổn thất tín dụng:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét