Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Thực trạng và các giải pháp đẩy mạnh hoạt động huy động vốn của các NHTM trên địa bàn Tỉnh Long An

Trang - 5 -
Các tổ chức kinh tế thường giao dịch với ngân hàng thông qua việc mở
tài khoản tiền gửi thanh toán để được cung cấp các dịch vụ thanh toán qua
ngân hàng, dịch vụ ngân quỹ và tiền gửi có kỳ hạn.
Ngược lại khách hàng thuộc tầng lớp dân cư, hoạt động giao dịch chủ
yếu với ngân hàng thông qua tài khoản cá nhân và tiền gửi tiết kiệm chiếm
tỷ trọng lớn.
1.3 Những vấn đề chung về hoạt động huy động vốn
1.3.1 Các khái niệm
Do đặc điểm tuần hoàn vốn, thu nhập và sử dụng thu nhập của các
doanh nghiệp, cá nhân trải qua các giai đoạn khác nhau, không khớp về
không gian và thời gian, có lúc khách hàng này thừa vốn chưa sử dụng
nhưng lại có những khách hàng khác thiếu vốn cần bổ sung. Do đó NHTM
với chức năng và nghiệp vụ của mình để làm cầu nối giữa nơi thừa và nơi
thiếu.
- Khái niệm vốn huy động: vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ
chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách
nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tài nguyên to
lớn nhất và quan trọng nhất của bất kỳ NHTM nào.
- Dự trữ bắt buộc: là khoản mà Ngân hàng Nhà nước buộc các ngân
hàng khác phải nộp để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Ngân hàng Nhà
nước được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong từng thời kỳ nhất
định theo quy định của Luật ngân hàng nhà nước việt Nam ( Luật số 1/1997/
QH10) khoản 1 điều 20 của luật này ghi rõ: “ Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng
và từng loại tiền gửi tại mỗi tổ chức tín dụng trong từng thời kỳ ”. Số tiền
gửi bắt buộc = (tỉ lệ dự trữ bắt buộc) * tổng nguồn vốn huy động bình quân
của ngân hàng. Mục đích của dự trữ bắt buộc là bảo vệ quyền lợi của người
gửi tiền vào ngân hàng và đảm bảo cho Ngân hàng Nhà nước có thể điều
chỉnh mức cung tiền của Ngân hàng Thương mại. Điều này khiến cho
NHTM không thể sử dụng được 100% vốn huy động được để cho vay.
* Dự trữ sơ cấp: gồm tiền mặt, tiền gửi
Trang - 6 -
Tiền mặt, các khoản coi như tiền mặt.
Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước ( tiền gửi không kỳ hạn).
Tiền gửi tại các ngân hàng khác.
Các khoản khác ( ngân quỹ đang thu).
* Dự trữ thứ cấp là dự trữ không tồn tại bằng tiền mặt và tiền gửi mà bằng
chứng khoán, nghĩa là những chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển
thành tiền một cách thuận lợi bao gồm tín phiếu kho bạc, hối phiếu đã chấp
nhận, các giấy nợ ngắn hạn khác. Gọi là dự trữ thứ cấp, bởi nó chỉ được sử
dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn kiệt.
Khi quản lý mức dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước có thể áp
dụng 1 trong 3 phương pháp:
+ Phương pháp phong tỏa: theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải
gửi vào một tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và sẽ bị phong tỏa để đảm
bảo thực hiện đúng mức dự trữ.
+ Phương pháp bán phong tỏa: theo đó một phần của mức dự trữ bắt
buộc sẽ được quản lý và phong tỏa tại một tài khoản riêng ở Ngân hàng Nhà
nước.
+ Phương pháp không phong tỏa: theo phương pháp này, tiền dự trữ
được tính và thực hiện hàng ngày trên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không
kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn.
Toàn bộ mức dự trữ sẽ không bị phong tỏa, nó có thể tồn tại dưới
hình thức tiền mặt hay tiền gửi Ngân hàng Nhà nước, hay dưới dạng chứng
khoán ngắn hạn là tuỳ NHTM. Tuy nhiên đến cuối mỗi tháng, Ngân hàng
Nhà nước cũng sẽ kiểm tra việc thực hiện dự trữ bắt buộc, nếu các ngân
hàng thương mại không thực hiện đúng sẽ bị phạt ( cảnh cáo, phạt tiền nếu
tái phạm ).
-Hệ số giới hạn huy động vốn:
H1= (Vốn tự có/Tổng nguồn vốn huy động) *100%
Hệ số này đưa ra nhằm mục đích giới hạn mức huy động vốn của ngân hàng
để tránh tình trạng khi ngân hàng huy động vốn quá nhiều vượt quá mức bảo
Trang - 7 -
vệ của vốn tự có làm cho ngân hàng có thể mất khả năng chi trả. Để tạo một
khoản cách an toàn trong hoạt động của ngân hàng trong mối tương quan
giữa vốn tự có và vốn huy động, nếu chênh lệch đó càng lớn thì hệ số an
toàn của ngân hàng sẽ càng thấp.
Trong đó:
+Vốn tự có của ngân hàng gồm: vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung
vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi
nhuận không chia.
+Tổng nguồn vốn huy động gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng
chỉ tiền gửi để huy động vốn, các khoản tiền giữ hộ và đợi thanh toán, tiền
gửi của Kho bạc Nhà nước (nếu có) .
Ở góc độ khác, một số quốc gia còn dùng hệ số này để bảo hộ các ngân hàng
trong nước đối với thị trường tiền gửi trong giai đoạn đầu của hội nhập kinh
tế quốc tế ( theo công văn số 1210/NHNN-CNH của Ngân hàng Nhà nước,
các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam được nhận tiền gửi VNĐ
từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo tỷ
lệ trên mức vốn được cấp của chi nhánh với mức tiền gửi tối đa và theo lộ
trình cụ thể: từ ngày 1/1/2007, tỷ lệ được huy động là 650 % vốn được cấp;
từ ngày 1/1/2008 là 800% vốn được cấp; từ ngày 1/1/2009: 900% vốn được
cấp; từ ngày 1/1/2010: 1000% vốn được cấp và sau ngày 1/1/2011 sẽ được
đối xử quốc gia đầy đủ. Theo Ngân hàng Nhà nước, cơ chế và lộ trình trên là
nhằm thực hiện các cam kết về dịch vụ ngân hàng tại biểu cam kết về dịch
vụ trong bộ văn kiện gia nhập tổ chức Thương mại thế giới của Việt Nam ).
1.3.2 Đặc điểm của vốn huy động và các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn
huy động
1.3.2.1 Đặc điểm
Nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Thông
thường nguồn này chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn, các ngân hàng hoạt động
được là nhờ vào nguồn vốn này và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các
ngân hàng. Nhưng vốn huy động là nguồn vốn không ổn định, vì khách hàng
Trang - 8 -
có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ
hạn chưa đến hạn nên ngân hàng cần duy trì một khoản dự trữ thanh khoản
để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Sự thay đổi đặc biệt là tiền gửi
ngắn hạn, làm thay đổi cầu thanh khoản của ngân hàng.
Vốn huy động có chi phí sử dụng vốn cao ( do ngân hàng vừa phải trả
lãi cho khách hàng gửi, vừa phải trả phí bảo hiểm tiền gửi nhưng lại không
được sử dụng hết để cho vay mà phải để lại một phần theo tỷ lệ dự trữ bắt
buộc của Ngân hàng Nhà nước quy định. ) đồng thời chiếm tỷ trọng chi phí
đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Nhưng lại là
nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng bởi vì muốn tăng
trưởng tín dụng buộc các ngân hàng phải tăng được nguồn vốn huy động. Ví
dụ trong hệ thống ngân hàng BIDV, các chi nhánh muốn tăng trưởng tín
dụng phải tuân thủ theo hệ số k ( tổng dư nợ cho vay / tổng nguồn vốn huy
động ) được Hội sở chính giao cho từng chi nhánh trong từng thời kỳ.
Đặc biệt vốn huy động chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và
bảo lãnh, các NHTM không được sử dụng nguồn vốn này để đầu tư.
Trong nguồn vốn huy động thì nguồn tiền gửi thanh toán thường biến
động mạnh ( kém ổn định ) hơn tiền gửi tiết kiệm.
1.3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn huy động
Quy mô của nguồn vốn huy động chịu sự tác động của các nhân tố chủ
quan và khách quan.
- Các nhân tố chủ quan:
+ Lãi suất: tiền gửi đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, thường nhạy cảm với
các biến động về lãi suất. Lãi suất cao là một nhân tố kích thích các doanh
nghiệp, dân cư gửi và cho vay. Trong điều kiện có lạm phát, người gửi quan
tâm tới lãi suất thực, điều đó có nghĩa lãi suất thực dương mới thực sự hấp
dẫn các nguồn tiết kiệm. Do đó việc ấn định lãi suất để thu hút, duy trì sự ổn
định lượng tiền gửi của khách hàng đồng thời cạnh tranh với các trung gian
tài chính khác là việc vô cùng khó khăn đối với nhà quản trị bởi vì nếu đưa
ra lãi suất thấp thì không huy động được ( tâm lý người gửi sẽ chọn nơi có
lãi suất cao để gửi ), còn nếu trả mức lãi suất cao thì làm gia tăng chi phí
Trang - 9 -
giảm thu nhập tiềm năng của ngân hàng. Cho nên xây dựng lãi suất cạnh
tranh trở nên cần thiết đối với các NHTM nhằm bảo đảm cho khoản thu đủ
bù đắp các khoản chi và có lãi.
+ Chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến quy mô và cấu trúc của nguồn
tiền.
Khi đánh giá chất lượng dịch vụ của ngân hàng, khách hàng xem xét
vào các yếu tố sau:
. Sự đa dạng của các dịch vụ: ngân hàng nào có nhiều sản phẩm dịch vụ
hơn sẽ có lợi thế hơn các ngân hàng có số lượng dịch vụ giới hạn do ngân
hàng có khả năng đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng, tạo cho khách
hàng có sự lựa chọn cao hơn.
. Đội ngũ nhân sự của ngân hàng: với đội ngũ nhân viên được đào tạo
chuyên nghiệp, các khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi nhận được
những lời khuyên nhủ và sự hướng dẫn của họ, và vì thế hình ảnh của ngân
hàng sẽ có sức sống lâu dài hơn trong lòng khách hàng.
. Cơ sở vật chất với một trụ sở kiên cố, các phòng gửi tiền an toàn tiện
nghi cũng tạo ưu thế cho ngân hàng đem lại sự tin cậy cho khách hàng.
+ Chính sách cơ bản trong huy động vốn của ngân hàng: chính sách tín
dụng ( khi ngân hàng mở rộng cho vay, tiền gửi của các doanh nghiệp và cá
nhân cũng gia tăng ), chính sách đầu tư, chính sách ngân quỹ… là một tiêu
chuẩn đo lường quan trọng để đánh giá năng lực, trình độ của các nhà quản
lý ngân hàng. Một ngân hàng luôn đề ra được những chính sách đúng đắn sẽ
được khách hàng tin tưởng rằng việc giao dịch tại ngân hàng này sẽ được
điều hành 1 cách chính xác và lành mạnh.
- Các nhân tố khách quan như: chính sách tiền tệ, chính sách tài chính
của Chính phủ. Thời vụ chi tiêu, động cơ của người tiêu dùng ảnh hưởng
đến qui mô, tính ổn định của nguồn tiền. Thu nhập gia tăng là điều kiện để
gia tăng qui mô và thay đổi kì hạn của nguồn tiền. Các nhân tố khách quan
cũng đóng vai trò quan trọng trong khả năng thu hút tiền gửi tại ngân hàng.
1.3.3 Nguyên tắc huy động vốn
1.3.3.1 Tuân thủ pháp luật trong huy động vốn
Trang - 10 -
Các Ngân hàng Thương mại không được huy động vốn quá nhiều so
với vốn tự có nhằm đảm bảo khả năng chi trả về sau. Bên cạnh đó các tổ
chức tín dụng phải áp dụng lãi suất huy động phù hợp với cơ chế quản lý về
lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, bởi vì lãi suất là một trong những công cụ
để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát được lượng tiền trong lưu thông, bình ổn
giá cả và chống lạm phát.
Bên cạnh đó các NHTM phải có trách nhiệm hoàn trả gốc lãi cho khách
hàng vô điều kiện ( bất kể người đi vay có sử dụng vốn có hiệu quả hay
không ) do ngân hàng không phải là tổ chức trung gian tài chính thuần túy
mà là trung gian tín dụng ( tài chính là sự tài trợ, sự cung cấp vốn, sự cấp
phát theo tính chất không có sự hoàn trả. Đối tượng nhận được sự trợ giúp
về tài chính không có nghĩa vụ hoàn trả mà chỉ có nghĩa vụ sử dụng tài chính
đúng mục đích, đúng yêu cầu. Tín dụng là sự tín nhiệm, lòng tin, là quan hệ
vay mượn theo nguyên tắc hoàn trả. ).
Ngân hàng Thương mại phải tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định
hiện hành. Với việc quy định các Ngân hàng Thương mại tham gia bảo hiểm
tiền gửi nhằm mục đính bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền gửi. Cụ thể là
nếu ngân hàng nơi người gửi tiền bị phá sản, thì người gửi tiền được công ty
bảo hiểm đền bù một khoản tiền nhất định ( hiện nay là 50.000.000 đ / tổng
tiền gửi của một khách hàng ).
Hơn nữa, ngân hàng phải giữ gìn bí mật số dư và hoạt động của tài
khoản khách hàng. Nhưng không được che dấu các khoản tiền lớn và bất
thường ( thực hiện các quy định của pháp lệnh chống rữa tiền ). Đồng thời
các ngân hàng không được cạnh tranh bất hợp lý (thông tin giả, khuyến mãi
bất hợp pháp…) gây ra tâm lý lo sợ, mất lòng tin của người dân đối với ngân
hàng. Khi niềm tin của người dân không còn thì họ sẽ rút tiền ồ ạt dẫn đến
ngân hàng sẽ gặp rủi ro thanh khoản đi đến phá sản.
1.3.3.2 Thoả mãn yêu cầu kinh doanh với chi phí thấp nhất
Mục đích hoạt động của NHTM là vì lợi nhuận, do đó các NHTM phải
đảm bảo được hai yêu cầu chi phí thấp và quy mô cao của nguồn vốn huy
động. Với chi phí thấp và quy mô cao sẽ giúp ngân hàng có nguồn vốn rẻ và
Trang - 11 -
đủ lớn để tài trợ cho các dự án qua việc cấp phát tín dụng đồng thời làm cho
biên độ chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra lớn từ đó tạo lợi nhuận cao.
Để có thể cạnh tranh với các tổ chức trung gian tài chính khác đòi hỏi
NHTM phải áp dụng đa dạng hoá phương thức trả lãi đi đôi với dự thưởng
để thu hút khách hàng và đưa ra nhiều phương thức huy động để hạn chế rủi
ro ( rủi ro thanh khoản khi sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho
vay dài hạn do không huy động được nguồn vốn dài hạn ) và phù hợp với
đặc điểm hoạt động của ngân hàng.
Do nhu cầu của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng không chỉ là
được an toàn và hưởng lãi, mà còn mong muốn sử dụng các dịch vụ của
ngân hàng ( chuyển tiền, thu tiền hộ, chi hộ ) nên NHTM cần kết hợp chặt
chẻ giữa huy động vốn với hiện đại hoá dịch vụ ngân hàng. Với sự phát triển
của dịch vụ ngân hàng sẽ làm thỏa mản nhu cầu của khách hàng từ đó thu
hút được lượng tiền gửi càng nhiều.
1.3.3.3 Ngăn ngừa sự giảm sút bất thường của nguồn vốn huy động
Hoạt động của ngân hàng dựa vào chữ tín. Có tin tưởng vào sự quản lý
và khả năng trả nợ của ngân hàng, thì người dân mới gửi tiền. Vì vậy để tạo
và giữ chữ tín của mình đối với khách hàng, ngân hàng phải đảm bảo khả
năng thanh toán, đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu rút tiền trong mọi tình
huống của người dân. Bên cạnh việc đảm bảo tốt khả năng thanh khoản,
ngân hàng cần nắm bắt kịp thời những thông tin đồn “ nhảm ” về hoạt động
kinh doanh của ngân hàng và tìm cách ngăn chặn chúng. Bởi vì nếu không
kịp thời ngăn chặn những thông tin đồn nhảm về hoạt động kinh doanh của
ngân hàng sẽ gây tâm lý sợ mất tiền trong người dân. Từ tâm lý lo sợ đó,
người dân sẽ đến rút tiền hàng loạt, khi đó ngân hàng không thể đáp ứng kịp
thời nhu cầu rút tiền của người dân ( do nguồn vốn huy động đã sử dụng cho
vay chưa thu hồi kịp ). Trong trường hợp đặc biệt khi có sự cố xảy ra, ngân
hàng phải có phương án đáp ứng nhu cầu thanh khoản kịp thời ( vay trên thị
trường tiền tệ, vay Ngân hàng Nhà nước ) để tránh tâm lý lây lan cho rằng
ngân hàng mất khả năng thanh toán càng rộng trong người dân.
1.3.4 Các hình thức huy động vốn của NHTM
Trang - 12 -
Nghị định 49/1000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của chính phủ về tổ chức
và hoạt động của NHTM nhằm cụ thể hoá việc thi hành Luật các tổ chức tín
dụng, Ngân hàng Thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau
đây:
-Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác
dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền
gửi khác.
-Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
-Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt nam và của
các tổ chức tín dụng nước ngoài.
-Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Luật
ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Sơ đồ 1: Sơ đồ về nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại
Vốn huy động
Tiền gửi của khách hàng Vốn đi vay Vốn phát
hành
Tiền Tiền Chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu,
ký gửi tiết kiệm kỳ phiếu, các giấy tờ có giá khác
Tiền gửi Tiền gửi Tiết kiệm Tiết kiệm
không kỳ hạn có kỳ hạn không kỳ hạn có kỳ hạn
Các hoạt động huy động vốn sẽ lần lượt được chi tiết hoá bằng các nghiệp
vụ huy động tiền gửi và nghiệp vụ huy động vốn qua phát hành chứng từ có
giá, đi vay.
Trang - 13 -
1.3.4.1 Nghiệp vụ huy động tiền gửi của NHTM
* Một số vấn đề liên quan đến hoạt động tiền gửi
-Vấn đề uỷ quyền: người gửi tiền có thể ủy quyền cho người khác để
thực hiện các giao dịch như gửi tiền, chuyển nhượng, thanh toán gốc và lãi
tại ngân hàng, ra công chứng làm thủ tục ủy quyền. Việc ủy quyền phải thực
hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành ( cả về nội dung lẫn hình
thức ). Căn cứ vào giấy ủy quyền, ngân hàng sẽ chi trả cho người được ủy
quyền.
-Vấn đề thừa kế: việc thừa kế tiền gửi được thực hiện theo luật quy
định: có di chúc và không có di chúc. Ngân hàng sẽ dựa vào tờ di chúc của
người gửi tiền để lại làm căn cứ chi trả nếu trong trường hợp có di chúc hoặc
dựa vào quy định của pháp luật về thừa kế để chi trả trong trường hợp không
có di chúc.
-Vấn đề phong tỏa tài khoản tiền gửi, giấy tờ có giá: ngân hàng sẽ thực
hiện việc phong tỏa tài khoản theo yêu cầu của cơ quan công quyền khi
người gửi tiền có liên quan đến việc tranh chấp nào đó. Trong thời gian
phong tỏa không được thực hiện bất kỳ một nghiệp vụ giao dịch nào với tiền
gửi này. Ngân hàng cũng thực hiện phong tỏa tiền gửi khi có yêu cầu của
phòng kinh doanh hoặc theo yêu cầu của ngân hàng khác khi chủ thẻ cầm cố
sổ tiết kiệm để vay vốn tại ngân hàng.
-Vấn đề mất sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá: nguyên tắc chung là khách
hàng hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc thất lạc mất sổ tiết kiệm, giấy tờ có
giá. Đối với khách hàng khi mất sổ, giấy tờ có giá phải thông báo ngay cho
ngân hàng nơi phát hành để ngân hàng kịp thời ngăn chặn mọi bất trắc xảy
ra cho người gửi tiền. Ngân hàng từ chối việc báo mất đối với giấy tờ có giá
vô danh.
-Vấn đề xác nhận số dư tiền gửi: ngân hàng thực hiện xác nhận số dư
theo yêu cầu khách hàng khi khách hàng đề nghị và 1 số trường hợp sẽ thu
phí dịch vụ này ( như xác nhận số dư để bổ túc hồ sơ đi du học hoặc đi du
lịch ).
* Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán
Trang - 14 -
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi mang tính đặc thù riêng có của
NHTM, là điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân
hàng. Chính vì đặc thù này, NHTM thường được gọi là tổ chức nhận tiền gửi
trong khi các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được gọi là tổ chức không nhận
tiền gửi.
-Tiền gửi thanh toán ( tiền gửi không kỳ hạn )
a/ Khái niệm:
Là loại tiền gửi mà người gửi được sử dụng một cách chủ động và linh
hoạt không bị ràng buộc về mặt thời gian, là hình thức huy động vốn của
ngân hàng thương mại bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài
khoản tiền gửi thanh toán. Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng,
cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng để
thực hiện các khoản chi trả về mua bán hàng hoá, dịch vụ, nhu cầu nhận
chuyển tiền vào tài khoản, như nhận tiền lương hàng tháng, nhận chuyển
tiền từ nước ngoài hoặc từ cá nhân khác trong nước.
Thanh toán qua ngân hàng là một loại dịch vụ thanh toán, theo đó ngân
hàng thực hiện việc trích chuyển tiền từ tài khoản của đơn vị phải trả, bằng
cách ghi Nợ vào tài khoản, sang tài khoản của đơn vị thụ hưởng, bằng cách
ghi Có vào tài khoản. Để thực hiện được nghiệp vụ thanh toán này, đòi hỏi
khách hàng phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở ngân hàng.
b/ Đặc điểm:
Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ
ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu
chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các
khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào
tiền gửi thanh toán theo yêu cầu.
Tiền gửi không kỳ hạn không phải là những khoản tiền để dành mà là
một bộ phận tiền đang chờ để thanh toán. Do đó về mặt pháp lý khi gửi tiền
không kỳ hạn theo tài khoản thanh toán đã thể hiện một hợp đồng mặc nhiên
giữa khách hàng với ngân hàng. Trong đó ngân hàng có trách nhiệm thực

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét