Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB

liệu của WB). Đối với tổng cầu, tác động của đầu t là ngắn hạn, khi tổng cung cha kịp thay
đổi, sự tăng lên của đầu t làm cho tổng cầu tăng, kéo theo sản lợng cân bằng tăng theo và
dẫn đến giá và các đầu vào của đầu t cũng tăng theo. Điểm cân bằng cung-cầu dịch chuyển
đi lên.
Về mặt cung: Khi thành quả của đầu t phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào
hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản lợng tiềm năng
tăng và do đó giá cả sản phẩm giảm. Sản lợng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng.
Tăng tiêu dùng đến lợt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là
nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho ngời lao
động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Đầu t tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế:
Sự tác động không đông thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng cầu và đối với
tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu t, dù là tăng hay giảm đều cùng
một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của
mọi quốc gia.
Chẳng hạn, khi đầu t tăng sẽ tăng công ăn việc làm dẫn đến giảm thất nghiệp, nâng
cao đời sống của nhân dân, do đó góp phần làm giảm tệ nạn xã hội Nhng bên cạnh đó thì
do tăng đầu t đến mức nào đó sẽ dẫn đến lạm phát, ảnh hởng tiêu cực đến xã hội.
Giảm đầu t: hạn chế đợc lạm phát, đời sống nhân dân ổn định, nhng việc giảm đầu t,
ngợc lại cũng làm giảm công ăn việc làm, tình trạng thất nghiệp tăng, làm ảnh hởng tiêu cực
đến xã hội.
Vì vậy trong quản lý cần thấy hết tác động hai mặt này để đa ra các chính sách nhằm
hạn chế tác động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
Đầu t tác động tới tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế:
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trởng ở mức
trung bình thì tỷ lệ đầu t phải đạt đợc từ 15-25% so với GDP, tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của
mỗi nớc. Hệ số ICOR của mỗi nớc phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ phát
triển kinh tế, phụ thuộc mạnh vào cơ cấu kinh tế, vào hiệu quả đầu t trong các nghành, các
vùng lãnh thổ cũng nh hiệu quả của cơ chế chính sách kinh tế của nớc đó nói chung. Nh
công thức (3) ở trên thì, nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn
đầu t.
Đầu t ảnh hởng đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Đầu t làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với qui luật phát triển, với chiến
lợc phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. Từ đó đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh của
toàn bộ nền kinh tế.
- Tạo ra đợc sự cân đối trong phát triển kinh tế-xã hội giữa các ngành các vùng,
các lĩnh vực.
- Phát huy đợc lợi thế cạnh tranh của từng vùng, từng ngành.
Đầu t tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ của đất nớc:
Công nghệ về nội dung gồm 4 yếu tố: trang thiết bị, kỹ năng của con ngời, thông tin,
tổ chức thể chế. Do đó xét về nội dung thì để tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ
của đất nớc cần phải đầu t mua sắm trang thiết bị, thu thập thông tin, đào tạo nguồn nhân
lực
Xét về phơng thức để có công nghệ chúng ta cũng thấy có hai cách đó là tự nghiên
cứu triển khai hoặc đi mua, cả hai cách đều phải yêu cầu có vốn để đầu t.
Nh vậy, đầu t có quan hệ chặt chẽ đối với quá trình cải tạo, đổi mới, tăng cờng khả
năng khoa học và công nghệ của lực lợng sản xuất xã hội, của đất nớc.
2.3.2/ Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ:
Đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Đầu t, trớc hết có vai
trò tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào-vị lợi hay vô vị lợi.
Trong quá trình hoạt động các cơ sở vật chất-kỹ thuật này bị hao mòn, h hỏng và phải đổi
mới để duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thờng, đồng thời phải luôn đổi mới cho thích ứng
với sự tiến bộ của khoa học-kỹ thuật, chống lại những hao mòn vô hình, đáp ứng lại những
nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội. Câu trả lời là tiến hành đầu t.
Đầu t trong các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ là một công cụ cạnh tranh và hơn
thế nữa quyết định sự thành bại của cơ sở. Đầu t làm tăng hiệu quả sản xuất, hạ giá thành
sản phẩm, mở rộng thị trờng, tăng lợi nhuận cho đơn vị.
Đối với các cơ sở vô vị lợi (hoạt động công ích, không vì mục tiêu lợi nhuận), việc
tiến hành đầu t là tất yếu để duy trì và tăng cờng các cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ cho
mục tiêu hoạt động bình thờng của mình.
II. đầu t xây dựng cơ bản:
1. Khái niệm và vai trò của đầu t xây dựng cơ bản:
1.1/ Khái niệm:
Đầu t xây dựng cơ bản ( XDCB ) là hoạt động sử dụng vốn đầu t để tiến hành thực
hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế thông
qua các hình thức: xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá và khôi phục các tài sản cố
định.
Đầu t XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu t nói chung, đầu t phát triển nói
riêng. Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản (từ việc khảo sát, quy
hoạch đầu t, thiết kế và xây dựng cho đến khi lắp đặt thiết bị để hoàn thiện việc tạo ra cơ sở
vật chất-kỹ thuật) nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định
cho nền kinh tế.
Nh vậy, đầu t XDCB không phải là hoạt động sản xuất vật chất mà là phạm trù kinh
tế tài chính xuất hiện trong quá trình tái sản xuất các tài sản cố định. Nhng, XDCB là một
nghành sản xuất vật chất, tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật cho xã hội, nó quyết định đến sự
phát triển đất nớc và quy mô sản xuất của các nghành có liên quan.
1.2/ Vai trò: Đối với bất kỳ một phơng thức sản xuất xã hội nào, ở mọi thời kỳ phát
triển đều tơng ứng với một cơ sở vật chất-kỹ thuật nhất định và dựa trên cơ sở vật chất-kỹ
thuật ấy. Sự hiện đại hoá liên tục cơ sở vật chất-kỹ thuật là điều kiện ban đầu, là cơ sở của
mọi biến chuyển kinh tế-xã hội. Quá trình hiện đại hoá cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền sản
xuất xã hội có đợc nhờ việc tiến hành các hoạt động đầu t XDCB.
Đầu t XDCB dù ở lĩnh vực nào, ở nớc ta hay trên thế giới, tốc độ và tỷ lệ đầu t
XDCB ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong đầu t. Quá trình đầu t XDCB vô cùng phức tạp, liên
nghành, do đó đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các cơ quan chức năng,
ban nghành và của nhiều lĩnh vực.
Sản phẩm đầu t XDCB và quá trình đầu t, do bản chất là hoạt động đầu t phát triển
nên có tác dụng làm thay đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cờng đổi mới công nghệ, tạo
ra và liên tục hiện đại hoá cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền sản xuất xã hội. Những thành quả
của đầu t XDCB làm tăng năng lực sản xuất, tạo điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học-
kỹ thuật và công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tạo công ăn việc làm,
đáp ứng các yêu cầu chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc, thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc; tạo điều kiện tăng cờng hội nhập kinh tế với các nớc trong
khu vực và trên thế giới.
Đầu t XDCB còn là điều kiện để tạo ra một sự đổi mới trong cơ chế quản lý nền kinh
tế-xã hội thích hợp với từng giai đoạn phát triển, và nói chung, đầu t XDCB còn là một trong
những nhân tố quan trọng nhất của quá trình chuyển biến phơng thức sản xuất cũng nh hình
thái kinh tế-xã hội của xã hội.
2. Quá trình hình thành công trình xây dựng và các lực lợng tham gia
có liên quan:
2.1/ Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa rộng:
Theo nghĩa rộng, quá trình hình thành công trình xây dựng đợc bắt đầu từ giai đoạn
lập chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh thổ đến giai đoạn
đa công trình vào vận hành, sử dụng. Quá trình này bao gồm các giai đoạn sau:
Nhà nớc tiến hành lập chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch tổng thể
sử dụng lãnh thổ cho các mục đích sản xuất-kinh doanh, dịch vụ và các mục đích sinh hoạt
xã hội khác.
Trên cơ sở quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh thổ, Nhà nớc tiến hành quy hoạch
tổng thể về mặt xây dựng các công trình trên toàn lãnh thổ, bao gồm các khu công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ, các cụm đô thị và nông thôn, các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế và
văn hoá-xã hội
Dựa trên chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh thổ,
quy hoạch tổng thể về mặt xây dựng, nhu cầu thị trờng và khả năng, thực lực của Nhà nớc,
của các doanh nghiệp cũng nh của các tầng lớp dân c sẽ hình thành nên các dự án đầu t xây
dựng của Nhà nớc, của các doanh nghiệp và dân c.
Nh vậy, theo nghĩa rộng, quá trình hình thành công trình xây dựng có thể đợc mô tả
nh sau:
Sơ đồ: Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa rộng.
2.2/ Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa hẹp:
Theo nghĩa hẹp, quá trình hình thành công trình xây dựng bắt đầu từ giai đoạn chuẩn
bị đầu t đến giai đoạn thực hiện đầu t xây dựng và đa công trình vào vận hành, sử dụng.
Theo Quy chế quản lý đầu t và xây dựng hiện hành thì quá trình đầu t xây dựng gồm các
giai đoạn sau: ( trình tự, thủ tục đầu t và xây dựng)
2.2.1/ Giai đoạn chuẩn bị đầu t, các nhiệm vụ phải thực hiện nh sau:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu t và quy mô đầu t.
- Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trờng trong nớc hoặc ngoài nớc để tìm nguồn cung
ứng vật t, thiết bị, nơi tiêu thụ sản phẩm, khả năng cạnh tranh, xem xét các khả năng có thể
huy động các nguồn vốn đầu t và lựa chọn hình thức đầu t.
- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng.
- Lập dự án đầu t.
- Thẩm đinh dự án để quyết định đầu t.
- Gửi hồ sơ dự án đến nơi quy định.
2.2.2/ Giai đoạn thực hiện đầu t, bao gồm các nhiệm vụ:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nớc (đối với các dự án có sử
dụng đất).
- Xin giấy phép xây dựng (nếu cần phải có giấy phép xây dựng) và giấy phép khai
thác tàI nguyên (nếu có).
- Tổ chức đền bù giảI phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch di dân, phục hồi và chuẩn
bị mặt bằng xây dựng (nếu có).
- Mua sắm thiết bị và công nghệ.
- Thực hiện khảo sát, thiết kế xây dựng.
Kết thúc xây dựng đa
công trình vào
sử dụng
Thực hiện đầu t (xây
dựng công trình)
Chuẩn bị
đầu t
Nhà nước lập quy hoạch tổng thể về mặt
xây dựng
Nhà nước lập chiến lược phát triển kinh tế-
xã hội và quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh
thổ.
Hình thành các dự án
đầu tư và xây dựng cơ
bản
Khả năng đầu tư của
Nhà nước, các doanh
nghiệp và xã hội
Nhu cầu của thị trư
ờng, Nhà nước và xã
hội
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình.
- Tiến hành thi công, xây lắp công trình.
- Theo dõi, kiểm tra và thực hiện các hợp đồng.
- Quản lý kĩ thuật, chất lợng thiết bị và chất lợng xây dựng.
- Vận hành thử nghiệm, nghiệm thu, quyết toán vốn đầu t, bàn giao và thực hiện bảo
hành sản phẩm.
2.2.3/ Giai đoạn kết thúc xây dựng và đa dự án vào khai thác, sử dụng:
- Nghiệm thu, bàn giao công trình.
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình.
- Vận hành công trình và hớng dẫn sử dụng công trình.
- Bảo hành công trình.
- Quyết toán vốn đầu t.
- Phê duyệt quyết toán. Đối với dự án xây dựng các khu tập trung, dự án BOT, BT,
BTO, ngoàI các bớc trên thì chủ đầu t còn phảI làm thủ tục `chuyển giao sau khi kết thúc
xây dựng hoặc sau khi hết thời gian khai thác sử dụng theo hợp đồng kinh doanh.
2.3/ Các lực lợng tham gia vào quá trình hình thành công trình
xây dựng:
Có các lực lợng sau đây tham gia vào quá trình hình thành công trình xây dựng:
- Chủ đầu t (đóng vai trò chính).
- Các doanh nghiệp t vấn.
- Các doanh nghiệp xây lắp.
- Các doanh nghiệp cung ứng thiết bị và vật t cho dự án.
- Các tổ chức tài trợ, ngân hàng.
- Các cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t và xây dựng.
- Các tổ chức khác
3. Phân biệt một số kháI niệm về các lĩnh vực và các nghành có liên
quan đến đầu t và xây dựng:
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu các vấn đề kinh tế và quản lý xây dựng cơ bản,
cần phảI phân biệt một số kháI niệm về các lĩnh vực và các nghành có liên quan đến đầu t
và xây dựng sau đây:
3.1/ Lĩnh vực đầu t và xây dựng:
Lĩnh vực đầu t xây dựng là một lĩnh vực hoạt động liên nghành, bao gồm tất cả các
bộ phận có liên quan đến việc lập và thực hiện các dự án đầu t xây dựng, trong đó bao gồm
các lực lợng tham gia chủ yếu nh: chủ đầu t, các tổ chức t vấn đầu t xây dựng, các nhà thầu
xây dựng, các tổ chức cung ứng vật t, thiết bị cho dự án, các tổ chức ngân hàng và tài trợ
cho dự án, các cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t và xây dựng.
3.2/ Nghành công nghiệp xây dựng:
Nghành công nghiệp xây dựng bao gồm các doanh nghiệp xây dựng chuyên nhận
thầu thi công xây dựng cho các chủ đầu t xây dựng ở mọi lĩnh vực. ở Việt Nam hiện nay
nghành công nghiệp xây dựng bị phân tán và do nhiều nghành và Bộ sản xuất quản lý, trong
đó Bộ Xây dựng đợc Nhà nớc giao cho nhiệm vụ quản lý chủ yếu.
3.3/ Nghành t vấn đầu t và xây dựng:
Nghành t vấn đầu t và xây dựng chuyên nhận thầu thực hiện các công việc của chủ
đầu t giao nh lập dự án đầu t xây dựng, khảo sát, thiết kế, giám sát công việc xây dựng Đây
cũng là một lĩnh vực đòi hỏi những kiến thức chuyên nghành tổng hợp.
3.4/ Các nghành sản xuất cung cấp đầu vào cho dự án đầu t xây
dựng:
Các nghành sản xuất cung cấp đầu vào cho dự án đầu t xây dựng bao gồm các
nghành chủ yếu sau:
3.4.1/ Nghành công nghiệp vật liệu xây dựng: Có nhiệm vụ chuyên sản xuất các loại
vật liệu xây dựng, bán thành phẩm và cấu kiện xây dựng để bán cho nghành công nghiệp
xây dựng. Về bản chất nghành này phải đợc coi là một nghành sản xuất riêng biệt. ở Việt
Nam, nghành này hiện còn đợc quan lý chung với nghành công nghiệp xây dựng.
3.4.2/ Nghành cơ khí xây dựng: Có nhiệm vụ sản xuất các máy móc và thiết bị xây
dựng (bao gồm cả công việc sủa chữa máy móc xây dựng) để cung cấp cho nghành công
nghiệp xây dựng.
3.4.3/ Các nghành cung ứng vật t, thiết bị cho dự án đầu t xây dựng: ở đây phải kể
đến các nghành tài chính, ngân hàng, thông tin, đào tạo phục vụ đầu t xây dựng.
4. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng:
4.1/ Đặc điểm của sản phẩm xây dựng:
Trớc hết ta phân biệt các kháI niệm có liên quan sau đây đến sản phẩm xây dựng:
4.1.1/ Sản phẩm đầu t xây dựng: Sản phẩm đầu t xây dựng là các công trình đã hào
chỉnh (bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị, công nghệ ở bên trong). Sản phẩm đầu t xây dựng là
kết tinh của các thành quả khoa học-công nghệ và tổ chức sản xuất của xã hội ở một thời kỳ
nhất định. Nó là một sản phẩm có tính chất liên nghành, trong đó có những lực lợng tham
gia tạo thành sản phẩm chủ yếu: chủ đầu t; các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp; các doanh
nghiệp t vấn đầu t xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào cho dự án nh
thiết bị công nghệ, vật t thiết bị xây dựng; các tổ chức tổ chức dịch vụ ngân hàng và tàI
chính; các cơ quan quản lý Nhà nớc có liên quan.
4.1.2/ Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng:
Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng chỉ bao gồm phần kiến tạo các
kết cấu xây dựng làm chức năng bao che, nâng đỡ và phần lắp đặt các thiết bị, máy móc cần
thiết của công trình để đa chúng vào hoạt động.
Trong khi đơn vị đo của sản phẩm đầu t xây dựng là tổng vốn đầu t thực hiện (nếu
tính theo giá trị) hoặc là công suất sản xuất hay năng lực dịch vụ hoặc phục vụ đã đa vào sử
dụng (nếu tính theo hiện vật), thì đơn vị đo của sản phẩm xây dựng của doanh nghiệp xây
dựng là giá trị dự toán xây lắp đã hoàn thành bàn giao (nếu tính theo giá trị) hoặc là số
2
m

hay
3
m
khối tích xây dựng (nếu tính theo hiện vật) đã hoàn thành và bàn giao.
Vì các công trình xây dựng thờng rất lớn và phảI xây dựng trong nhiều năm, nên để
phù hợp với công việc thanh, quyết toán và cấp vốn ngời ta phân ra sản phẩm xây dựng
trung gian và sản phẩm xây dựng cuối cùng. Sản phẩm xây dựng trung gian có thể là các gói
công việc xây dựng, các giai đoạn hay đợt xây dựng đã hoàn thành, đã bàn giao thanh toán.
Sản phẩm xây dựng cuối cùng là các công trình xây dựng hay hạng mục công trình xây
dựng đã hoàn thành và có thể bàn giao đa vào sử dụng.
Để phản ánh thực chất và nỗ lực đóng góp của bản thân các doanh nghiệp xây dựng,
sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng còn đợc tính theo chỉ tiêu giá trị sản
phẩm thuần tuý của các doanh nghiệp này, tức là đem giá trị dự toán xây lắp trừ đI chi phí
vật liệu, năng lợng và khấu hao ở tất cả các khoản mục của giá trị dự toán xây lắp.
4.1.3/ Công trình xây dựng:
Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp, đợc tạo thành bởi vật liệu
xây dựng, thiết bị công nghệ, lao động và gắn liền với đất, khoảng không, mặt nớc, mặt biển
hay thềm lục địa.
4.1.4/ Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng:
Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hởng lớn đến phơng thức tổ chức
sản xuất và quản lý kinh tế trong nghành xây dựng, làm cho các công việc này có nhiều đặc
điểm khác biệt so với các nghành khác. Sản phẩm xây dựng với t cách là các công trình xây
dựng hàon chỉnh thờng có các đặc điểm sau:
Sản phẩm xây dựng là những công trình, nhà cửa đợc xây dựng và sử dụng tại chỗ
và phân bố tản mạn ở nhiều nơi trên lãnh thổ. Điều này làm cho sản xuất xây dựng có tính lu
động cao và thiếu ổn định.
Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phơng nơI đặt công trình
xây dựng. Do đó, nó có tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng, cách cấu tạo và cách chế tạo.
Sản phẩm xây dựng thờng có kích thớc và chi phí lớn, có thời gian kiến tạo và thời
gian sử dụng lâu dài. Do đó, những sai lầm về xây dựng có thể gây nên các lãng phí lớn, tồn tại
lâu dàI và khó sửa chữa.
Sản phẩm xây dựng thuộc phần kết cấu xây dựng chủ yếu đóng vai trò nâng đỡ và
bao che, không tác động trực tiếp lên đối tợng lao động trong quá trình sản xuất, trừ một số loại
công trình đặc biệt nh đờng ống, công trình thuỷ lực, lò luyện gang thép
Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều nghành cả về phơng diện cung cấp các
yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phơng diện sử dụng sản phẩm của xây dựng
làm ra.
Sản phẩm xây dựng có liên quan nhiều đến cảnh quan và môI trờng tự nhiên, do đó
liên quan nhiều đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân c địa phơng nơI dặt công trình.
Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá
nghệ thuật và quốc phòng. Tuy nhiên lại mang tính cá biệt về ý tởng thiết kế, giá thành
4.2/ Đặc điểm của sản xuất xây dựng:
Sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định, có tính lu động cao theo vùng lãnh thổ: vì
trong xây dựng, khác với nhiều nghành khác, con ngời và công cụ lao động luôn phảI di
chuyển theo các công trờng, còn sản phẩm xây dựng thì cố định một nơi.
Vì sản phẩm xây dựng có tính đa dạng, cá biệt cao, có chi phí lớn, nên sản xuất
xây dựng phảI tiến hành theo đơn đặt hàng của chủ đầu t thông qua đấu thầu hoặc chỉ định
thầu cho từng công trình một.
Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thờng dài.
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp đòi hỏi phảI có nhiều lực lợng hợp tác
tham gia thực hiện. Khác với nhiều nghành khác, trong nghành xây dựng, các đơn vị tham
gia xây dựng công trình phảI cùng nhau đến công trờng với một diện tích làm việc thờng là
bị hạn chế để thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và không
gian.
Sản xuất xây dựng phảI tiến hành ngoàI trời và chịu nhiều ảnh hởng của thời tiết
và các điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội nơI diễn ra quá trình thi công xây dựng.
Sản xuất xây dựng chịu ảnh hởng của lợi nhuận chênh lệch do địa điểm xây dựng
đem lại. Cùng một công trình xây dựng nhng nếu tiến hành xây dựng ở những nơI có sẵn
nguồn vật liệu xây dựng, nhân công và các cơ sở cho thuê may xây dựng thì nhà thầu trong
trờng hợp này có cơ hội cao hơn để thu đợc lợi nhuận so với các địa điểm xây dựng khác.
Công nghệ xây lắp chủ yếu là quá trình áp dụng các quá trình cơ học để giảI quyết
vấn đề vận chuyển ngang và vận chuyển lên cao, hoặc để xâm nhạp vào trong lòng đất. Việc
áp dụng tự động hoá qúa trình xây lắp phát triển chậm, tỷ lệ lao động thủ công chiếm cao.
Những đặc điểm của sản xuất xây dựng trong điều kiện tự nhiên và xã hội của Việt
Nam:
-Về điều kiện tự nhiên: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam đợc tiến hành trong điều kiện
khí hậu nhiệt đới ẩm, điều kiện địa chất, thuỷ văn phức tạp, đất nớc dàI, hẹp và còn nhiều
nơI cha đợc khai phá, có một số nguồn vật liệu xây dựng phong phú. Do đó, các giảI pháp
xây dựng ở Việt Nam chịu ảnh hởng mạnh của các yếu tố này.
-Về điều kiện kinh tế: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam đợc tiến hành trong điều kiện
của một nền kinh tế đang phát triển, còn nhiều mặt yếu kém so với các nớc trên thế giới.
Trong bối cảnh hợp tác quốc tế hiện nay, nghành xây dựng của Việt Nam đang đứng trớc
nhiều cơ hội phát triển, nhng cũng có nhiều nguy cơ và thách thức.
-Đờng lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị tr-
ờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa đang quyết định phơng h-
ớng và tiến độ phát triển của nghành xây dựng Việt Nam.
III. vốn đầu t xây dựng cơ bản:
1. Khái niệm vốn đầu t XDCB :
Vốn đầu t xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí để đạt đợc mục đích đầu t, bao gồm:
Chi phí cho việc khảo sát, qui hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu t, chi phí cho thiết kế và

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét