Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
Lời nói đầu
Trong xu thế nhất thể hoá nền kinh tế thế giới hiện nay, vấn đề cải cách,
mở cửa và hội nhập nói chung, phát triển kinh tế quốc gia nói riêng đang là vấn
đề thời sự, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn. Nó có ý nghĩa lớn lao
đối với các nớc đang phát triển - đặc biệt là các nớc nông nghiệp lạc hậu - trong
việc định hớng phát triển nền kinh tế của nớc mình trớc bối cảnh quốc tế mới
hiện nay.
Trung Quốc là quốc gia xã hội chủ nghĩa (XHCN) sớm nhận rõ ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc của vấn đề cải cách, mở cửa. Ngay từ cuối thập kỷ 70
của thế kỷ XX, trong khi phần đông các nớc XHCN còn đang luẩn quẩn trong
mô hình chung của chủ nghĩa xã hội (CNXH) thì Trung Quốc đã sớm xác định
phải cải cách, mở cửa nền kinh tế hớng ra thế giới, đi con đờng riêng của mình,
xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề
ra đờng lối cải cách, mở cửa đúng đắn, thúc đẩy nền kinh tế đất nớc phát triển
mạnh mẽ với tốc độ cha từng thấy kể từ ngày thành lập nớc đến nay. Trong đó
đặc biệt phải kể đến việc xác định ngay từ đầu phơng hớng u tiên áp dụng mô
hình kinh tế mới - Đặc khu kinh tế - nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
vững chắc, thúc đẩy nền kinh tế đất nớc phát triển. Quá trình cải cách, mở cửa
nói chung, phát triển mô hình Đặc khu kinh tế nói riêng trong hơn 20 năm qua
đã đạt đợc những thành tựu đáng khẳng định và có tác dụng to lớn đối với những
bớc đi tiếp theo trong sự nghiệp công nghiệp hoá của đất nớc Trung Hoa rộng
lớn này.
Việt Nam cũng đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
thế giới. Để đạt đợc những mục tiêu kinh tế nh đã đề ra nhằm đa nớc ta cơ bản
trở thành một nớc công nghiệp vào năm 2020, chúng ta phải tiếp tục tiến hành
đổi mới trên mọi lĩnh vực, tăng cờng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh quá trình công
5
Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
nghiệp hoá, hiện đại hoá hớng về xuất khẩu. Tuy nhiên, sự nghiệp công nghiệp
hóa hiện đại hoá ở nớc ta hiện nay yêu cầu một lợng vốn đầu t rất lớn, trong
khi khả năng chủ động về vốn của Việt Nam là có hạn, đồng thời với nó là sự
suy giảm của các nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và sự cạnh tranh
ngày càng quyết liệt trong thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Tất cả những nhân tố đó
đòi hỏi chúng ta phải tìm ra những hình thức thích hợp để thu hút đầu t về vốn,
công nghệ kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý từ nớc ngoài, nhằm phát triển nền kinh
tế đất nớc.
Trung Quốc là một đất nớc có nhiều điểm tơng đồng với Việt Nam về chế
độ kinh tế, chính trị, xã hội. Qua việc nghiên cứu chiến lợc phát triển mô hình
Đặc khu kinh tế của Trung Quốc, chúng ta sẽ phần nào rút ra đợc những bài học
kinh nghiệm cần thiết đối với công cuộc cải cách, mở cửa, thực hiện sự nghiệp
công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ ý nghĩa trên, đề tài: Mô hình Đặc khu kinh tế của Trung
Quốc và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam hớng đến một số mục tiêu
sau: Thứ nhất, tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của mô hình Đặc khu
kinh tế trên thế giới; thứ hai, nghiên cứu về mô hình Đặc khu kinh tế của Trung
Quốc, qua đó rút ra những kinh nghiệm xây dựng thành công các Đặc khu kinh
tế ở Trung Quốc; thứ ba, đa ra một số kiến nghị có giá trị thực tiễn đối với việc
xây dựng mô hình Đặc khu kinh tế ở Việt Nam trong tơng lai.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của bản khoá luận gồm ba
chơng:
Chơng I : Giới thiệu chung về mô hình Đặc khu kinh tế trên thế giới.
Chơng II : Mô hình Đặc khu kinh tế của Trung Quốc.
Chơng III: Kinh nghiệm xây dựng Đặc khu kinh tế của Trung Quốc và
một số kiến nghị nhằm phát triển mô hình Đặc khu kinh tế
ở Việt Nam.
6
Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ công tác tại Trung tâm
nghiên cứu Trung Quốc, Viện nghiên cứu Kinh tế thế giới, Th viện Quốc gia
Việt Nam, Th viện Hà nội, Th viện trờng Đại học Ngoại Thơng, và đặc biệt là
Tiến sỹ Nguyễn Hữu Khải giảng viên Khoa Kinh tế Ngoại thơng trờng
Đại học Ngoại Thơng Hà nội, ngời đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bản khóa
luận tốt nghiệp này.
Do kinh nghiệm và trình độ còn nhiều hạn chế, bản khoá luận chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của
ngời đọc.
Hà nội tháng 12 - 2003
Sinh viên thực hiện:
Đỗ Trần Minh Trang
Chơng 1
7
Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
Giới thiệu chung về mô hình
Đặc khu kinh tế trên thế giới
I. Khái quát về Đặc khu kinh tế:
1. Lịch sử hình thành Đặc khu kinh tế trên thế giới:
Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, các Đặc khu kinh tế (ĐKKT) đã
đợc hình thành từ xa xa, bắt nguồn từ các khu mậu dịch tự do cổ đại tồn tại cách
đây 2500 năm ở một số nớc thịnh vợng nh La Mã, Hy Lạp, Trung Quốc
Những khu này thờng nằm ở các vùng biên giới hoặc những trung tâm buôn bán
náo nhiệt nhất thế giới.
Cùng với sự ra đời của ngành hàng hải và kèm theo đó là vận tải hàng hoá
bằng đờng biển, việc giao lu buôn bán giữa các quốc gia ngày càng đợc tăng c-
ờng. Năm 1228, một khu mậu dịch tự do đã đợc thành lập ở cảng Marseille
miền Nam nớc Pháp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá nớc ngoài nhập
khẩu vào khu vực đặc biệt này, sau đó lại xuất đi các nớc khác mà không phải
nộp bất kỳ một khoản thuế nào. Đến cuối thế kỷ XV, một vài thành phố tự do ở
miền Bắc nớc Đức đã liên kết với nhau, thành lập liên minh mậu dịch tự do với
tên gọi là Koln. Nh vậy, có thể thấy rằng, sự hình thành các khu mậu dịch tự do
và các hải cảng tự do đã xuất hiện ngay từ giai đoạn cuối của xã hội phong kiến.
Thế kỷ XVI với sự ra đời của Chủ nghĩa t bản đã tạo tiền đề vững chắc cho
tơng lai phát triển ngày càng mạnh mẽ của các hải cảng và khu mậu dịch tự do.
Cũng trong thời gian này, nền sản xuất hàng hoá bắt đầu hình thành và phát
triển. Quá trình chuyên môn hoá gắn liền với việc linh hoạt khai thác các lợi thế
trong phân công lao động quốc tế đã tạo nên sự cách biệt về mức độ phát triển
kinh tế giữa các quốc gia. Các nớc có nền kinh tế kém phát triển tích cực áp
dụng các biện pháp bảo hộ đối với nền sản xuất trong nớc. Sự bảo hộ này đã
thúc đẩy hoạt động tại các hải cảng tự do ngày càng mạnh mẽ hơn, bởi vì hàng
8
Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
hoá đợc trao đổi ở đây không phải chịu ảnh hởng của bất kỳ biện pháp bảo hộ
nào. Chính vì vậy, những quốc gia chiếm u thế trong mậu dịch quốc tế nh Hà
Lan, Anh, Đức đã biến một số hải cảng dọc bờ biển Châu Âu, Địa Trung Hải,
Trung Đông, Đông Nam á và một số cảng dọc bờ biển Caribê thành các thơng
cảng nổi tiếng thế giới, nh Rotecdam, Liverpool, Hamburg, Ađen, Gibuti,
Singapore, Hồng Kông, Ma Cao
Tuy nhiên, các hải cảng tự do và khu mậu dịch tự do chỉ thực sự phát triển
và đóng vai trò quan trọng trong buôn bán quốc tế kể từ đầu thế kỷ XX. Năm
1934, những khu mậu dịch tự do đầu tiên của Mỹ đã đợc thành lập trên cơ sở
Luật về các khu mậu dịch tự do. Đặc biệt, từ sau Đại chiến thế giới II, trên
những tuyến đờng vận chuyển hàng hoá quan trọng của thế giới đã xuất hiện
một loạt những cảng tự do và các khu thơng mại tự do mới, trong đó lớn nhất là
khu mậu dịch tự do Côlônhơ - Panama ở Nam Mỹ. Không chỉ phát triển nhanh
chóng về mặt số lợng, những khu vực buôn bán tự do này còn mở rộng cả hình
thức hoạt động. Bên cạnh các công việc thuần tuý về kinh doanh thơng mại, trao
đổi hàng hoá, tại các khu thơng mại này đã xuất hiện các hoạt động kinh tế khác
nh gia công, lắp ráp. Sự phát triển của các khu mậu dịch tự do đã kéo theo sự ra
đời một loạt các hình thức kinh doanh miễn thuế khác nh kho ngoại quan, kho
bảo thuế, cửa hàng miễn thuế.
Cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60, một loạt khu kinh tế tự do kiểu mới - khu
gia công xuất khẩu bắt đầu xuất hiện. Năm 1959, Ireland đã xây dựng một
ĐKKT tại sân bay quốc tế Shannon, đây chính là khu gia công xuất khẩu đầu
tiên trên thế giới. Năm 1965, một ĐKKT với tên gọi Khu gia công xuất khẩu
đã đợc xây dựng tại thành phố Cao Hùng của Đài Loan. Kể từ đó, ĐKKT với
hình thức là một khu gia công xuất khẩu đã lan rộng nhanh chóng ở các quốc
gia và khu vực đang phát triển.
9
Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
Thành công của mô hình ĐKKT đã nhanh chóng đợc phát triển, phổ biến
và áp dụng ở nhiều nớc. Với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới (WB), một loạt
các ĐKKT đã đợc thành lập ở Đông Nam á, Châu á - Thái Bình Dơng, Trung
và Nam Mỹ. Nhìn một cách khái quát sự phát triển của ĐKKT trên thế giới, có
thể thấy số lợng các ĐKKT ngày càng nhiều, tốc độ phát triển nhanh chóng, từ
phạm vi Tây Âu đã lan ra khắp toàn cầu. Lúc đầu, chức năng của các ĐKKT chỉ
là thơng mại đơn thuần, sau phát triển thành hình thức kết hợp giữa công nghiệp
và thơng nghiệp. Lĩnh vực kinh doanh cũng chuyển từ trao đổi hàng hoá sang
sản xuất hàng hoá, rồi mở rộng thành nghiên cứu chế tạo hàng hoá. Cơ cấu sản
xuất cũng đợc điều chỉnh từ các ngành sử dụng nhiều sức lao động sang các
ngành sử dụng nhiều vốn, kỹ thuật và tri thức. Xu thế chung là từ hình thái sơ
cấp phát triển lên hình thái cao cấp.
Trớc Đại chiến thế giới II, có khoảng 26 nớc và khu vực xây dựng 75 cảng
tự do và khu mậu dịch tự do. ĐKKT lúc bấy giờ có chức năng tơng đối đơn nhất,
chủ yếu là phát triển ngoại thơng thông qua các biện pháp miễn giảm thuế xuất
nhập khẩu. Sau chiến tranh, ĐKKT mới thực sự bớc vào giai đoạn phát triển
hoàng kim của mình. Đây là thời kỳ mà các khu gia công xuất khẩu rất thịnh
hành. Đến cuối thập kỷ 70, tổng số ĐKKT trên thế giới đã tăng lên 328 khu. Từ
thập kỷ 80 của thế kỷ XX trở lại đây, ĐKKT mang tính tổng hợp và quy mô lớn
bắt đầu xuất hiện. Hình thức ĐKKT mới này đã phá vỡ mô hình cảng tự do và
khu mậu dịch tự do truyền thống. Nó không chỉ coi trọng công nghiệp gia công
xuất khẩu và thơng mại quốc tế, mà còn chú ý đến nông nghiệp, lâm nghiệp và
ng nghiệp, đồng thời cũng tập trung mọi nguồn lực cho sự phát triển các ngành
du lịch, bảo hiểm, tài chính, dịch vụ ăn uống, giao thông vận tải, bu chính viễn
thông, văn hoá giáo dục. Chính mô hình mới này đã thúc đẩy ĐKKT thế giới
chuyển từ hình thức mậu dịch gia công xuất khẩu sang loại hình đa ngành công-
nông- thơng nghiệp. Hình thức tổng hợp của sự phát triển toàn diện ba ngành
10
Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
trên đã đi vào quỹ đạo phát triển của xã hội, làm cho tác dụng đa chức năng của
nó đợc phát huy rộng hơn nữa.
Cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60, ở Mỹ đã xuất hiện một mô hình mới của
ĐKKT: khu Công nghệ kỹ thuật cao. Đặc điểm của mô hình ĐKKT này là tri
thức, nhân tài, kỹ thuật đợc tập trung cao độ, và giáo dục, nghiên cứu khoa học,
kinh doanh đợc nhất thể hoá. Đến thập niên 70, mô hình này đã đợc nhân rộng
trên phạm vi toàn thế giới. Thập niên 80 là giai đoạn phát triển nhanh chóng,
nhng thập niên 90 mới là giai đoạn phát triển mạnh nhất. Cho đến nay, các khu
kinh tế mở kỹ thuật cao tơng đối thành công trên thế giới đã vợt qua con số 400.
Trong hơn 10 năm trở lại đây, ĐKKT phát triển nhanh chóng, tính đến nay
đã có khoảng hơn 700 ĐKKT, tăng gấp đôi so với 10 năm trớc đó. Theo thống
kê, tỷ lệ giữa tổng kim ngạch mậu dịch của các ĐKKT trên thế giới với tổng
kim ngạch trong buôn bán quốc tế là 7,7% (năm 1979), đến năm 1985 đã tăng
lên đến 20%, năm 1990 tăng vọt lên 33%, và đến năm 1994 đã đạt 35%. Tổng
kim ngạch mậu dịch của các ĐKKT trên thế giới đạt hơn 1000 tỷ USD. Những
con số trên đã phản ánh sự phát triển thần kỳ đợc tạo nên từ mô hình Đặc Khu
Kinh Tế sản phẩm của nền kinh tế thế kỷ XX.
2. Khái niệm về Đặc khu kinh tế:
Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về ĐKKT.
Xét theo nghĩa rộng, tất cả các vùng địa lý nhất định do một quốc gia hoặc một
khu vực xác lập trong phạm vi của mình và ở đó thi hành các chính sách kinh tế
đặc biệt đều có thể gọi là ĐKKT. Song nếu xét theo nghĩa hẹp, ĐKKT là một
khu vực địa lý riêng biệt nhằm thu hút vốn đầu t nớc ngoài, công nghệ tiên tiến,
kỹ thuật quản lý để phát triển kinh tế với một cơ cấu ngành nghề đầy đủ của nền
kinh tế quốc dân, gồm: công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, y tế, du lịch, dịch
vụ , trong đó u tiên phát triển công nghiệp hớng về xuất khẩu, nhng cũng
11
Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
không bỏ qua thị trờng nội địa, mục đích là làm cho kinh tế của khu vực đó và
các vùng lân cận trở nên phồn thịnh, tăng thu nhập và tăng thu ngoại tệ. Chính
vì vậy, xây dựng ĐKKT là chính sách quan trọng của một quốc gia khi thực
hiện chính sách mở cửa hớng ra bên ngoài và khuyến khích mở rộng xuất khẩu.
Tính chất tổ chức cao của ĐKKT còn đợc thể hiện qua mô hình khu
trong khu, nghĩa là trong ĐKKT bao gồm tổng hợp các loại hình khác nhau
của khu kinh tế tự do nh Khu thơng mại tự do, Cảng tự do, Khu công nghiệp,
Khu chế xuất, Khu chứa hàng miễn thuế. Với cách tổ chức nh vậy, sự liên kết
hoàn chỉnh giữa các loại hình này đã tạo nên một bức tranh tổng thể thống nhất,
thúc đẩy sự phát triển của ĐKKT.
Theo quan điểm của Trung Quốc, ĐKKT là một khu vực địa lý đợc ngăn
cách với bên ngoài bởi hai hàng rào quản lý: hàng rào thứ nhất để quản lý quan
hệ giữa ĐKKT với thị trờng thế giới, hàng rào thứ hai là hàng rào ngăn cách
ĐKKT với thị trờng nội địa thông qua sự kiểm soát chặt chẽ của lực lợng hải
quan.
Trong Luật về khu kinh tế đặc biệt của Philippin, ĐKKT đợc định nghĩa
nh sau: Các đặc khu kinh tế trong luật này sẽ đợc gọi là các khu kinh tế, là các
vùng lãnh thổ đợc lựa chọn, đã từng là hoặc có khả năng trở thành các trung tâm
công nông nghiệp, du lịch, vui chơi giải trí, thơng mại, ngân hàng, đầu t và tài
chính. Một khu kinh tế có thể bao gồm một hoặc nhiều thành tố sau: khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu mậu dịch tự do, trung tâm du lịch, khu vui chơi giải
trí.
Từ những cách định nghĩa nh trên và qua thực tiễn hoạt động của các
ĐKKT, chúng ta có thể rút ra kết luận chung về ĐKKT nh sau: ĐKKT là một
vùng lãnh thổ quốc gia đặc biệt, có ranh giới địa lý xác định, có dân c sinh sống,
ở đó áp dụng những chính sách đặc biệt, thích hợp cho việc phát triển kinh tế tự
do theo cơ chế thị trờng với một cơ cấu kinh tế tổng hợp giữa các ngành công
12
Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
nghiệp, nông nghiệp, thơng mại, tài chính, ngân hàng, du lịch, nhằm đạt đợc
những mục tiêu nhất định của quốc gia thành lập.
3. Đặc điểm của Đặc khu kinh tế:
a, ĐKKT đợc xây dựng tại các khu vực có vị trí địa lý và môi trờng tự nhiên t-
ơng đối thuận lợi, giao thông thuận tiện, tài nguyên thiên nhiên dồi dào và dễ
khai thác, khí hậu ôn hoà, phong cảnh tơi đẹp. Chính những thuận lợi về điều
kiện tự nhiên sẽ tạo tiền đề vững chắc cho quá trình hoạt động của ĐKKT. Thực
tế cho thấy rằng, những quốc gia áp dụng mô hình ĐKKT trên thế giới đều lựa
chọn địa điểm xây dựng đặc khu ở những nơi xung yếu của đất nớc, có điều
kiện tự nhiên thuận lợi, đồng thời lại có tiềm năng về phát triển kinh tế. Ví dụ
nh ĐKKT Clack của Philippin, đặc khu này đợc xây dựng ở một vị trí chiến lợc
hết sức quan trọng, trớc đây đã từng đợc Mỹ sử dụng làm căn cứ quân sự (khu
quân sự Subic). Chính phủ Philippin đã tận dụng những lợi thế về vị trí địa lý
của khu cảng này để thành lập ĐKKT. Hay nh ĐKKT Thâm Quyến của Trung
Quốc, đợc xây dựng ở vùng đất phía Nam có khí hậu ôn hoà, lại nằm đối diện
với con rồng Châu á là Hồng Kông đang phát triển rất nhanh, nên đặc khu
này đã sớm gặt hái đợc nhiều thành công ngay sau khi thành lập.
b, ĐKKT đợc thành lập ở các nớc có nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển
đổi, nó là phần đệm giữa nền kinh tế bảo hộ và nền kinh tế tự do, là nơi kết hợp
hài hoà các nhân tố quốc gia và quốc tế cho mục đích phát triển chung. Chính vì
vậy, ĐKKT có nhiệm vụ kép gồm ngoại diên (đa đầu t từ nớc ngoài vào) và
nội liên (thiết lập quan hệ với các xí nghiệp nội địa), có nghĩa là những kỹ
thuật tiên tiến và kinh nghiệm quản lý du nhập từ nớc ngoài, thông qua tiêu hoá,
hấp thụ, truyền đạt, sẽ đợc chuyển vào nội địa để phát triển kinh tế nội địa theo
mô hình hớng ra bên ngoài. Nói cách khác, ĐKKT là cửa sổ nhìn ra thế giới,
là cầu nối giữa thị trờng quốc gia và thị trờng quốc tế.
13
Đỗ Trần Minh Trang Khoá luận tốt nghiệp
c, Mục đích chủ yếu khi xây dựng ĐKKT là nhằm mở rộng xuất khẩu, phát triển
kinh tế và nâng cao trình độ kỹ thuật, tăng thu ngoại tệ. Để thực hiện mục tiêu
này, các nớc đặc biệt chú trọng phát triển ngành gia công xuất khẩu, thu hút đầu
t nớc ngoài và thiết bị kỹ thuật tiên tiến, qua đó phát triển kinh tế khu vực và các
vùng lân cận, nâng cao trình độ kỹ thuật của nền sản xuất trong nớc. Bên cạnh
đó, để phát triển đồng bộ cơ cấu kinh tế đa ngành, ĐKKT cũng khuyến khích
dòng vốn đầu t nớc ngoài vào những lĩnh vực khác nh công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ
d, ĐKKT có môi trờng đầu t thông thoáng. ở đây, Nhà nớc áp dụng các chính
sách u đãi và các biện pháp hỗ trợ đặc biệt cho nhà đầu t và thơng nhân nớc
ngoài, đơn giản hoá thủ tục hành chính, tạo điều kiện tối u cho mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh trong đặc khu đợc thuận lợi. Chính vì vậy, ĐKKT luôn là
nơi tập trung đợc nhiều vốn đầu t nhất trong cả nớc.
e, ĐKKT có điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật tơng đối hoàn chỉnh và hiện đại,
bao gồm: hệ thống điện, nớc, cầu, cống, đờng giao thông, nhà xởng, kho tàng,
bệnh viện, trờng học, hệ thống thông tin liên lạc, bu chính viễn thông, và các
công trình văn hoá xã hội khác. Những cơ sở hạ tầng này có thể đã có sẵn từ tr-
ớc khi quyết định thành lập ĐKKT, cũng có thể đợc xây dựng sau khi thành lập
đặc khu.
II. Vai trò của Đặc khu kinh tế:
1. Vai trò của Đặc khu kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân:
Các ĐKKT giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chúng
đợc thành lập nhằm giải quyết những nhiệm vụ kinh tế trớc mắt và lâu dài của
đất nớc.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét