Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Hoàn thiện và phát triển cty chứng khoán tại VN

nhiều lợi nhuận.
Với các trình độ phát triển khác nhau của thị trờng, các công ty chứng khoán
phải có cơ cấu tổ chức đặc thù để đáp ứng những nhu cầu riêng.
1.2.2. Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán.
Nhìn chung có ba nghiệp vụ kinh doanh chính là:
- Nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
- Nghiệp vụ tự doanh.
- Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
Ngày nay, do thị trờng ngày càng phát triển và do nhu cầu của bản thân công
ty chứng khoán ngày càng mở rộng nên đã phát sinh nhiều nghiệp vụ nh: cho
vay kí quĩ, t vấn đầu t, quản lí danh mục đầu t, quản lí thu nhập chứng khoán.
Đồng thời các công ty chứng khoán ngày nay còn hoạt động trên cả lĩnh vực
tiền tệ, ngân hàng, bảo hiểm.
1.2.2.1. Nghiệp vụ môi giới
Bản chất nghiệp vụ.
Công ty chứng khoán tiến hành nghiệp vụ môi giới sẽ đại diện cho khách
hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng
khoán hoặc thị trờng OTC.
Qui trình giao dịch.
Quá trình môi giới của công ty chứng khoán thờng qua các bớc chủ yếu thể
hiện ở sơ đồ sau:
Bớc 1: Mở tài khoản (1).
Bớc 2: Nhận lệnh (2).
Bớc 3: Chuyển lệnh tới thị trờng phù hợp để thực hiện lệnh (3).
Bớc 4: Xác nhận kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng (4).
Bớc 5: Thanh toán và giao hàng.
Công ty chứng khoán
B ớc 1: Mở tài khoản.
Công ty chứng khoán yêu cầu khách hàng mở tài khoản giao dịch (tài khoản
tiền mặt hoặc tài khoản kí quĩ). Tài khoản kí quĩ dùng cho giao dịch kí quĩ còn
tài khoản giao dịch dùng cho các giao dịch thông thờng.
B ớc 2 : Nhận đơn đặt hàng.
Khách hàng ra lệnh mua, bán cho công ty chứng khoán dới nhiều hình thức:
Điện thoại, telex, phiếu lệnh
Nếu là lệnh bán, công ty chứng khoán sẽ yêu cầu khách hàng xuất trình số
chứng khoán muốn bán trớc khi thực hiện đơn hàng hoặc đề nghị phải kí quĩ
một phần số chứng khoán cần bán theo một tỉ lệ do uỷ ban chứng khoán qui
định.
Nếu là lệnh mua, công ty sẽ đề nghị khách hàng mức tiền kí quĩ nhất định
trên tài khoản kí quĩ của khách hàng tại công ty. Khoản tiền này thờng bằng
40% trị giá mua theo lệnh.
B ớc 3 : Chuyển lệnh tới thị trờng phù hợp để thực hiện.
Trớc đây, ngời đại diện của công ty gửi tất cả lệnh mua, bán của khách hàng
tới bộ phận thực hiện lệnh hoặc phòng kinh doanh giao dịch của công ty. ở đây,
một ngời th kí sẽ kiểm tra xem chứng khoán đợc mua bán ở thị trờng nào (tập
trung, phi tập trung ). Sau đó, ngời th kí sẽ gửi lệnh đến thị trờng đó để thực
hiện.
Ngày nay, các công ty chứng khoán có mạng lới thông tin trực tiếp từ trụ sở
chính tới phòng giao dịch. Do vậy, các lệnh mua, bán đợc chuyển trực tiếp tới
Khách hàng
Công ty chứng khoán
(4)
(1)
(2)
(3)
(5)
phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán mà không cần chuyển qua
phòng thực hiện lệnh.
B ớc 4 : Xác nhận cho khách hàng.
Sau khi thực hiện lệnh xong, công ty chứng khoán sẽ gửi cho khách hàng một
phiếu xác nhận đã thi hành xong lệnh.
B ớc 5 : Thanh toán bù trừ giao dịch.
Hoạt động này bao gồm việc đối chiếu giao dịch và bù trừ các kết quả giao
dịch.
Hiện nay các nớc áp dụng việc đối chiếu cố định: Sở giao dịch chứng khoán
sẽ tiến hành bù trừ trên cơ sở nội dung lệnh của các công ty chứng khoán
chuyển vào hệ thống. Những sai sót của công ty chứng khoán sẽ do công ty
chứng khoán tự sửa chữa.
Việc bù trừ các kết quả giao dịch kết thúc bằng việc in ra các chứng từ thanh
toán. Chứng từ này đợc gửi cho công ty chứng khoán. Nó là cơ sở để thực hiện
thanh toán và giao chứng khoán.
B ớc 6 : Thanh toán và giao hàng.
Đến ngày thanh toán, ngời mua sẽ giao tiền thông qua ngân hàng chỉ định
thanh toán; ngời bán sẽ giao chứng khoán thông qua hình thức chuyển khoản tại
trung tâm lu kí chứng khoán. Sau khi hoàn tất các thủ tục tại Sở, công ty sẽ
thanh toán tiền và chứng khoán cho khách hàng thông qua hệ thống tài khoản
khách hàng mở tại công ty chứng khoán.
1.2.2.2 Nghiệp vụ bảo lãnh.
Bản chất bảo lãnh.
Bảo lãnh phát hành là việc hỗ trợ đơn vị phát hành huy động vốn bằng cách
bán chứng khoán trên thị trờng. Có ba hình thức bảo lãnh phát hành mà thế giới
thờng áp dụng:
Một là, bảo lãnh chắc chắn: công ty bảo lãnh phát hành nhận mua toàn bộ số
chứng khoán trong đợt phát hành của công ty phát hành và sau đó sẽ bán ra
công chúng.
Hai là, bảo lãnh cố gắng tối đa: là hình thức mà công ty bảo lãnh phát hành
hứa sẽ cố gắng tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho công ty phát
hành.
Ba là, bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không: trờng hợp này đợc áp dụng khi
công ty phát hành chứng khoán cần một số vốn nhất định.
1.2.2.3 Nghiệp vụ tự doanh.
Đây là nghiệp vụ kinh doanh trong đó công ty chứng khoán dùng kinh phí
của mình để mua và bán chứng khoán, họ tự chịu mọi rủi ro và có thể làm thêm
nhiệm vụ tạo thị trờng cho một loại chứng khoán nào đó.
1.2.2.4. Các nghiệp vụ phụ trợ.
* Nghiệp vụ tín dụng.
ở các thị trờng phát triển thì đây là một hoạt động thông dụng. Còn ở những
thị trờng cha phát triển thì hoạt động này bị hạn chế, chỉ các định chế tài chính
đặc biệt mới đợc phép cấp vốn vay. Một số nớc còn qui định không đợc phép
cho vay kí quỹ.
Cho vay kí quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho khách
hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật
thế chấp cho khoản vay.
Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải dàn xếp với ngân
hàng và phải chịu trách nhiệm về khoản vay đó.
* T vấn đầu t và t vấn tài chính công ty.
Đây là việc cung cấp các thông tin về đối tợng chứng khoán, thời hạn, các
vấn đề mang tính quy luật của hoạt động đầu t chứng khoán Nó đòi hỏi nhiều
kiến thức, chuyên môn kỹ năng và yêu cầu vốn không cao. Tính trung thực của
cá nhân hay công ty t vấn có ý nghĩa quan trọng.
* Nghiệp vụ quản lí danh mục đầu t.
Đây là một dạng t vấn đầu t nhng ở mức độ cao hơn vì khách hàng uỷ thác
cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu t theo những nguyên
tắc mà khách hàng yêu cầu. Thông thờng nghiệp vụ này tuân thủ theo bốn bớc
cơ bản:
Bớc 1: Công ty chứng khoán và khách hàng tiếp xúc tìm hiểu khả năng của
nhau.
Bớc 2: Công ty và khách hàng tiến hành kí hợp đồng quản lí.
Bớc 3: Thực hiện hợp đồng quản lí.
Bớc 4: Khi đến hạn kết thúc hợp đồng công ty phải cùng khách hàng bàn bạc,
quyết định xem gia hạn hay thanh lí hợp đồng. Khi công ty bị phá sản, tài sản
uỷ thác của khách hàng phải đợc tách riêng và không đợc dùng để trả nghĩa vụ
nợ cho công ty chứng khoán.
Khoản phí mà công ty chứng khoán nhận đợc dựa trên số lợi nhuận thu về
cho khách hàng.
* Nghiệp vụ quản lí thu nhập chứng khoán (quản lí cổ tức).
Nghiệp vụ này xuất phát từ nghiệp vụ lu kí chứng khoán. Công ty phải thực
hiện hoạt động theo dõi tình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu hộ rồi
gửi báo cáo cho khách hàng. Trên thực tế, các công ty chứng khoán không trực
tiếp quản lí mà sẽ lu kí tại trung tâm lu giữ chứng khoán.
Ngoài các nghiệp vụ trên, công ty chứng khoán còn có thể tiến hành một số
hoạt đông khác nh: cho vay chứng khoán, quản lí quỹ đầu t, quản lí vốn, kinh
doanh bảo hiểm
1.2.3. Điều kiện thành lập công ty chứng khoán.
Hoạt động của công ty chứng khoán có ảnh hởng nhiều tới lợi ích của công
chúng nên nó phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Nhìn chung, qui định về
điều kiện thành lập, cấp phép hoạt động cho công ty chứng khoán đợc thể hiện
ở hai khía cạnh sau:
Điều kiện về vốn: Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng
vốn pháp định. Vốn pháp định đợc qui định cụ thể cho từng loại nghiệp vụ.
Điều kiện nhân sự: Những ngời quản lí hay nhân viên của công ty chứng
khoán phải có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và độ tín nhiệm. Thông thờng, các
nhân viên của công ty chứng khoán phải có giấy phép hành nghề.
Nh vậy, điều kiện thành lập công ty chứng khoán có sự khác nhau ở các nớc
trên thế giới. Tùy theo đặc thù mỗi quốc gia, các công ty chứng khoán cũng đợc
tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau.
Chơng II: Thực tiễn hoạt động của các công ty
chứng khoán ở Việt nam hiện nay.
1. Quá trình thành lập các công ty chứng khoán ở Việt Nam.
ở Việt Nam, trong giai đoạn đầu phát triển TTCK, vì quy mô thị trờng còn
nhỏ nên số lợng các công ty chứng khoán hiện nay còn ít. Điều này là phù hợp
nhằm giảm sự cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh chi phí ban đầu của các công
ty khi mới thành lập là rất lớn mà thu nhập còn nhỏ, cha đủ khả năng bù đắp chi
phí. Ngoài ra, để đảm bảo nguyên tắc xây dựng thị trờng chứng khoán hiệu quả
và an toàn ngay từ giai đoạn đầu, hiện nay chúng ta đã chọn ra các công ty có
quy mô lớn và chất lợng cao tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán để
giảm thiểu rủi ro. Khi thị trờng đã phát triển hiệu quả, quy mô và dung lợng thị
trờng đã lớn, số lợng công ty chứng khoán có thể sẽ tăng lên để đáp ứng nhu
cầu thị trờng. Hiện nay có 07 công ty chứng khoán đã thành lập và đi vào hoạt
động.
Bảng 1: Danh sách các công ty chứng khoán.
Số thứ
tự
Tên công ty Vốn
ĐL (tỷ
VNĐ)
Các HĐ nghiệp vụ Số GP
HĐKDCK
Số NV
hành
nghề
01 CTCPCK Bảo
Việt
43 - Môi giới
- Tự doanh
- Quản lý DMĐT
- Bảo lãnh phát hành
- T vấn đầu t CK
01/GPHĐKD
26/11/1999
12
02 CTTNHHCK-
NHĐT và PT
Việt Nam
50 - Môi giới
- Tự doanh
- Quản lý DMĐT
- Bảo lãnh phát hành
- T vấn đầu t CK
02/GPHĐKD26/
11/1999
08
03 CTCPCK- Sài
Gòn
06 - Môi giới
- T vấn đầu t C K
03/GPHĐKD05/
04/2000
08
04 CTCPCK-Đệ
Nhất
43 - Môi giới
- Tự doanh
- Quản lý DMĐT
- Bảo lãnh phát hành
- T vấn đầu t CK
04/GPHĐKD08/
04/2000
09
05 CTTNHHCK-
Thăng Long
09 - Môi giới
- Quản lý DMĐT
- T vấn đầu t CK
05/GPHĐKD11/
05/2000
07
06 CTTNHHCK-
ACB
43 - Môi giới
- Tự doanh
- Quản lý DMĐT
- Bảo lãnh phát hành
- T vấn đầu t CK
06/GPHĐKD29/
06/2000
03
07 CTTNHHCK-
NHCTVN
55 - Môi giới
- Tự doanh
- Quản lý DMĐT
- Bảo lãnh phát hành
- T vấn đầu t CK
- Lu ký chứng khoán
07/GPHĐKD06/
10/2000
20
1.1. Mô hình công ty chứng khoán ở Việt Nam.
Qua nghiên cứu mô hình công ty chứng khoán của các nớc ta có thể nhận
thấy hầu nh các thị trờng từ các thị trờng phát triển đến các thị trờng mới nổi
đều cho phép các ngân hàng tham gia vào kinh doanh chứng khoán ở mức độ và
phạm vi khác nhau. Ngay cả những thị trờng phát triển nh Mỹ, Nhật trớc đây
không cho phép các ngân hàng tham gia vào hoạt động chứng khoán hiện đều
có các quy định nới lỏng và có xu hớng chuyển dần từ mô hình công ty chứng
khoán chuyên doanh thuần tuý sang mô hình đa năng kiểu Anh, tức là các ngân
hàng đợc phép tham gia kinh doanh chứng khoán thông qua các công ty con
độc lập.
ở Việt Nam hiện nay, ngành chứng khoán cũng nh hoạt động kinh doanh
chứng khoán là hoàn toàn mới mẻ không những đối với dân chúng mà ngay cả
đối với các tổ chức kinh doanh ở nớc ta. Việc tham gia của các tổ chức tín dụng
cụ thể là các ngân hàng thơng mại vào kinh doanh chứng khoán trong giai đoạn
đầu của thị trờng nh hiện nay là hết sức cần thiết. Với đội ngũ cán bộ đã đợc
đào tạo và đã thông thạo việc kinh doanh các công cụ của thị trờng tiền tệ, có
kinh nghiệm trong việc đánh giá các dự án đầu t và với mạng lới hoạt động rộng
rãi trên khắp cả nóc, việc tham gia của các ngân hàng sẽ góp phần phát triển thị
trờng chứng khoán tại Việt Nam. Có thể nhận thấy mô hình công ty chứng
khoán ở Việt Nam hiện nay chính là sự kết hợp giữa mô hình ngân hàng đa
năng một phần và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán. Chúng ta đã
học tập và rút kinh nghiệm từ mô hình các nớc và hạn chế tiêu cực có thể phát
sinh từ đó không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty chứng
khoán.
Các công ty chứng khoán với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề
nghiệp và bộ máy tổ chức thích hợp là ngời trung gian môi giới, mua bán, bão
lãnh phát hành chứng khoán, t vấn đầu t và thực hiện một số dịch vụ khác cho
cả ngời đầu t và ngời phát hành trên thị trờng chứng khoán. Hoạt động của các
công ty chứng khoán có ảnh hởng lớn tới lợi ích của đông đảo công chúng. Do
đó, yêu cầu pháp lý đối với các công ty chứng khoán là rất chặt chẽ.
1.2. Phòng giao dịch (Phòng kinh doanh):
Thực hiện các giao dịch tại Sở giao dịch. Thông thờng phòng giao dịch gồm
3 bộ phận:
- Bộ phận môi giới cho khách hàng.
- Bộ phận giao dịch cho bản thân công ty.
- Bộ phận nghiên cứu và phân tích chứng khoán.
1.2.1. Phòng Tài chính- Kế toán:
Đợc chia thành hai bộ phận chủ yếu:
Bộ phận Kế toán
Bộ phận Tài chính
1.2.2. Phòng Marketing:
Chức năng chủ yếu là quan hệ với khách hàng của công ty, nhận lệnh từ
khách hàng sau đó chuyển qua phòng giao dịch để thực hiện, nghiên cứu phát
triển thị trờng.
1.2.3. Phòng quản trị hành chính-tổng hợp: Có nhiệm vụ:
+ Duy trì cơ sở kinh doanh, văn phòng làm việc, trang thiết bị và đồ dùng văn
phòng nói chung, cung cấp văn phòng phẩm, duy trì điện nớc, nhà ăn
+ Tổ chức gặp gỡ, làm việc với các cơ quan hữu quan, các tổ chức quốc
tế, các tổ chức kinh doanh khác.
+ Ký kết và quản lý các hợp đồng tuyển dụng lao động, quản lý nhân sự
1.2.4. Phòng đăng ký, lu ký và lu trữ thông tin:
Thực hiện các công việc liên quan đến lu ký, đăng ký chứng khoán và lu trữ
thông tin về giao dịch chứng khoán, về tài khoản của khách hàng
1.3. Hoạt động của TTGDCK.
1.3.1. Giao dịch chứng khoán
Tính đến 31/01/2001 TTGDCK TP Hồ Chí Minh đã thực hiện đợc 76 phiên
giao dịch với tổng khối lợng chứng khoán đợc giao dịch là: 4.481.200 cổ phiếu,
26.280 trái phiếu, đạt tổng giá trị 124.603 tỷ đồng. Giao dịch cổ phiếu chiếm
98% tổng giá trị giao dịch, giao dịch trái phiếu chiếm 2% tổng giá trị giao dịch.
- Tính theo từng loại cổ phiếu, giá trị giao dịch của REE là 24.516 tỷ đồng
chiếm 19,6%; SAM là 76.313 tỷ đồng chiếm 61,2%; HAP là 20.142 tỷ đồng
chiếm 16,1%; TMS là 833 triệu đồng chiếm 0,67%; LAF là 228 triệu đồng
chiếm 0,18%.
- Khối lợng trái phiếu Chính phủ đợc giao dịch là 390 trái phiếu đạt trị giá
39,2 triệu đồng, chiếm 0,03%.
- Khối lợng trái phiếu Ngân hàng đầu t và phát triển Việt nam đợc giao dịch
là 25.890 trái phiếu đạt trị giá 2,28 tỷ đồng chiếm 2%.
Bảng 2: Giá trị giao dịch của một số loại trái phiếu và cổ phiếu.
(Đơn vị: Triệu đồng)
Chứng khoán Giá trị giao dịch Tỷ trọng (%)
REE 24516 19,68
SAM 76313 61,25
HAP 20142 16,17
TMS 833 0,67
LAF 228 0,18
Trái phiếu Chính phủ 39,2 0,03
Trái phiếu NHĐT và PT 2528 2,03
Tổng 124599,2 100
1.3.2. Tình hình giá giao dịch chứng khoán.
* Giá cổ phiếu:
Diễn biến giá của 5 loại cổ phiếu:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét