Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

huan luyen the thao


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "huan luyen the thao": http://123doc.vn/document/574139-huan-luyen-the-thao.htm


Như vậy, duy trì lâu dài TT SS TT sẽ gây nên những hậu quả xấu. Nhưng thực
ra không cần thiết phải làm như vậy bởi vì muốn nâng thành tích thể thao nhất thiết
phải xóa bỏ trạng thái cũ và xây dựng trạng thái mới ở mức cao hơn.
TT SS TT diễn biến theo 3 giai đoạn : hình thành, duy trì sự ổn định trạng thái
trong một thời gian nhất định và giai đoạn tiếp theo là giai đoạn mất đi tạm thời. Quy
luật của các giai đoạn phát triển của TT SS TT là cơ sở khoa học để phân chia chu kỳ
thành các thời kỳ trong quá trình HLTT.
9.1.5. Thành tích thể thao
Thành tích thể thao của VĐV là kết quả thể hiện toàn bộ khả năng của người
đó trong môn thể thao nhất định. Nó được đánh giá theo những chỉ số đã được thừa
nhận : thể lực, điểm số, bàn thắng, thời gian, cự ly, trọng lượng v.v…
- Năng khiếu cá nhân, VĐV và mức độ đào tạo để đạt thành tích.
- Hiệu quả của hệ thống đào tạo thể thao, nội dung tổ chức và các điều kiện
đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật.
- Các điều kiện đảm bảo cho thành tích phát triển.
Đó là những nhân tố và điều kiện cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
đến sự phát triển của thành tích thể thao trong xã hội.
9.2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG TIỆN CỦA HUẤN LUYỆN THỂ
THAO
9.2.1. Mục đích của huấn luyện thể thao
Thể thao bao giờ cũng có quan hệ trực tiếp đến việc xác lập các thành tích thể
thao. Thành tích thể thao không thể tự có. Bởi vậy, mục đích của HLTT là phát triển
các năng lực thể chất và tinh thần của VĐV để đạt thành tích thể thao cao nhất và sử
dụng hoạt động thể thao như là một nhân tố để hình thành hài hòa nhân cách và giáo
dục trách nhiệm đối với xã hội.
9.2.2. Nhiệm vụ của huấn luyện thể thao
HLTT phải giải quyết các nhiệm vụ chung là : đào tạo hoàn thiện tâm lý, kỹ
thuật chiến thuật và thể lực cho VĐV. Xuất phát từ các nhiệm vụ chung, trong quá
trình HLTT phải giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau :
* Các nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ, tri thức và các nhiệm vụ
chuyên môn trong lĩnh vực đào tạo tâm lý VĐV.
Giáo dục lòng yêu nước, giáo dục tính thẩm mỹ chung cũng như thẩm mỹ thể
thao, trang bị cho VĐV những kiến thức cơ bản về tâm lý TT, tâm lý chuyên môn phù
5
hợp với yêu cầu của môn thể thao chuyên sâu, có thái độ đúng đắn đối với thành tích
thể thao, đồng đội, đối phương và thậm chí cả người xem v.v…
* Các nhiệm vụ huấn luyện thể lực
Đó là giáo dục các năng lực thể chất cần thiết ở môn TT chuyên sâu (nhanh,
mạnh …) và thể lực chung nhằm đảm bảo đạt thành tích thể thao cao nhất. Việc huấn
luyện đó trước hết phải hướng vào phát triển các tố chất thể lực mà trong thi đấu môn
thể thao chuyên sâu đòi hỏi. Cơ sở để phát triển các tố chất thể lực đó là khả năng
chịu đựng LVĐ cao.
* Các nhiệm vụ huấn luyện kỹ thuật và chiến thuật thể thao nhằm giáo dưỡng
kỹ – chiến thuật thể thao hình thành và hoàn thiện các KNKX vận động, giáo dục
những kiến thức về chiến thuật cho VĐV và những phẩm chất khác có liên quan trực
tiếp đến việc hoàn thiện kỹ – chiến thuật thể thao.
9.2.3. Phương tiện huấn luyện thể thao
Phương tiện chính quan trọng nhất nhằm nâng cao thành tích thể thao trong
huấn luyện đó là BTTC, BTTC được chia thành 3 loại : BT thi đấu, BT chuẩn bị
chuyên môn và BT chuẩn bị chung.
9.2.3.1. Bài tập thi đấu
BT thi đấu là những hành động nguyên vẹn hoặc tổ hợp các hành động vận
động được dùng làm phương tiện cơ bản để tiến hành đua tài trong thể thao theo đúng
luật thi đấu.
Với nghĩa này BT thi đấu trùng với khái niệm môn thể thao. Chúng ta cần
phân biệt các BT thi đấu đích thực với việc sử dụng BT thi đấu trong tập luyện. BT
thi đấu phải được thực hiện trong thi đấu thể thao thực sự còn trong tập luyện mà sử
dụng BT thi đấu thì chỉ để giải quyết các nhiệm vụ tập luyện mà thôi.
Do khái niệm BT thi đấu tương ứng với khái niệm môn thể thao. Ví dụ : BT
thi đấu bóng đá trùng với môn bóng đá, mỗi kiểu bơi là một BT thi đấu … Xuất phát
từ dó mà Matvêep đã phân các môn thể thao thành 5 nhóm sau :
1. Bao gồm những môn TT vận động tối đa : cử tạ, đua thuyền bơi v.v…
2. Nhóm các môn điều khiển đua tài phương tiện dụng cụ : đua môtô, đua
thuyền buồm v.v…
3. Các môn bắn trúng đích : bắn súng, bắn cung v.v
4. Các môn lắp ráp mô hình
5. Các môn tư duy logic : cờ
6
Cách chia như vậy là tương đối khách quan. Ngoài ra còn có những cách chia
thuộc chương trình Olimpic thì chia thành 6 nhóm :
1. Nhóm các môn TT có chu kỳ, nhóm này được tách nhỏ thành chu kỳ SM
tốc độ (cự ly ngắn) và chu kỳ sức bền (cự ly dài)
2. Các môn SM tốc độ : nhảy, ném, cử tạ v.v…
3. Các môn phối hợp động tác : TD, trượt băng v.v…
4. Các môn bóng
5. Các môn đối kháng cá nhân
6. Các môn phối hợp : 5 môn phối hợp hiện đại
9.2.3.2. Các bài tập chuẩn bị chuyên môn
Là các BT hỗ trợ cho việc tiếp thu kỹ thuật của BT thi đấu cũng như hỗ trợ cho
việc phát triển các tố chất thể lực chuyên môn, nên người ta chia thành 02 loại : BT hỗ
trợ kỹ thuật và BT hỗ trợ thể lực.
- BT hỗ trợ cho việc tiếp thu những kỹ thuật động tác mới, khó, còn được gọi
là BT dẫn dắt.
- BT hỗ trợ thể lực chủ yếu nhằm phát triển các tố chất thể lực còn được gọi là
BT phát triển.
Các BT chuẩn bị chuyên môn rất phong phú. Chúng có thể là chi tiết của BT thi
đấu, cũng có thể là các phương án của BT thi đấu, hoặc là những động tác có hình thức
tương tự BT thi đấu. Vi dụ như : chạy các đoạn ngắn đối với VĐV chạy, các động tác
và phối hợp nhỏ ở VĐV bóng đá, VĐV nhảy cầu tập các BT nhào lộn. Như vậy một
BT chỉ có thể là BT chuẩn bị chuyên môn khi nó có những nét cơ bản giống với BT thi
đấu. Nhưng không phải tất cả các BT chạy đều là BT chuẩn bị chuyên môn của VĐV
chạy (Bởi vì còn phụ thuộc vào phương án sử dụng)
Mặt khác, BT chuẩn bị CM cũng không nhất thiết phải giống hệt BT thi đấu.
Nhưng chúng phải được lựa chọn sao cho tác động có chủ đích và có hiệu quả đến sự
phát triển các tố chất thể lực và kỹ xảo vận động ở ngay chính môn thể thao chuyên
sâu. Ví dụ : khi sử dụng các BT gánh tạ đứng lên ngồi xuống cho VĐV cử tạ.
9.2.3.3. Các bài tập chuẩn bị chung
Các BT chuẩn bị chung nhằm phát triển toàn diện khả năng của cơ thể, tạo vốn
KNKX vận động phong phú làm tiền đề cho tiếp thu kỹ thuật ở môn thể thao chuyên
sâu.
Thành phần các BTCB chung thường rộng rãi và đa dạng về tính chất BTCB
chung có thể trùng hợp hoặc không trùng hợp với BT chuẩn bị CM, nhưng khi chọn
các BTCB chung phải tuân thủ các yêu cầu sau :
7
- Phải bao gồm các phương tiện GDTC toàn diện, đặc biệt là các BT tác động
có hiệu quả đến phát triển các tố chất thể lực và làm phong phú vốn KNKX vận động
cơ bản trong cuộc sống.
- Nội dung huấn luyện khi sử dụng các BT phải phản ánh được đặc điểm của
chuyên môn hóa thể thao và tạo tiền đề cho các BT chuẩn bị chuyên môn.
Ranh giới giữa các BT đều mang tính quy ước, bởi vì, trong thực tế có những
BT đứng giữa hai loại BTCB chung và BT chuẩn bị chuyên môn (được gọi là BT
trung gian : bơi các kiểu, nhảy xa các kiểu hoặc chạy ở các cự ly khác cự ly thi đấu)
đó là những BT có hình thức giống BT thi đấu nhưng có phương thức thực hiện khác
BT thi đấu. Chính những BT này đã đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 nội dung
huấn luyện chung và chuyên môn cho VĐV. Vì vậy các BT trung gian có vai trò rất
quan trọng trong huấn luyện VĐV cấp cao.
9.3. NỘI DUNG CỦA HUẤN LUYỆN THỂ THAO
9.3.1. Giáo dục phẩm chất, nhân cách, huấn luyện về tâm lý chuyên môn và tri
thức cho VĐV
* Để đạt dược thành tích trong tập luyện và thi đấu, điều trước tiên là phải giáo
dục cho VĐV có động cơ tập luyện đúng đắn và cao đẹp như mong muốn vươn tới
những thành tích thể thao ngày càng cao làm vinh quang cho tập thể và tổ quốc.
* Một nhiệm vụ quan trọng nữa là giáo dục cho VĐV tiếp thu được những
chuẩn mực về đạo đức thể thao tuân thủ các luật lệ thi đấu, tinh thần thi đấu cao
thượng thắng không bại thua không nản, cách cư xử đúng đắn chân tình với HLV,
đồng đội, với những người hâm mộ v.v… giáo dục cho VĐV tính cần cù, chịu đựng
gian khổ, khắc phục khó khăn trong tập luyện và thi đấu.
* Huấn luyện tâm lý chuyên môn được thể hiện trong việc giáo dục tính chủ
động, sáng tạo tinh thần tự chủ, năng lực vượt qua những khó khăn tâm lý trong môn
thể thao lựa chọn điều hòa trạng thái tối ưu của mình. Song trong quá trình tập luyện
và thi đấu thể thao thường xuất hiện những trạng thái tâm lý gây ảnh hưởng xấu tới
việc đạt thành tích thể thao. Để điều chỉnh trạng thái tâm lý của VĐV, ngoài những
PP sư phạm có thể sử dụng các thủ thuật sau :
- Sử dụng các yếu tố giáo dục và tự giáo dục như tạo lòng tin trong tập luyện và
thi đấu, xây dựng tình đồng đội, tự rèn luyện những phẩm chất ý chí cần thiết.
- Sử dụng các biện pháp, PP và thủ thuật chuyên môn để điều chỉnh trạng thái
tâm lý VĐV. Điều đó giải thích chủ yếu thông qua việc sử dụng LVĐ hợp lý và
phong phú về các hình thức khởi động chuyên môn.
- Làm quen với những điều kiện thi đấu.
8
- Sử dụng các PP chuyên biệt để điều khiển và tự điều khiển trạng thái tâm lý
như tự kỷ, ám thị, những BT tư duy vận động.
Sử dụng các điều kiện môi trường tự nhiên, các điều kiện vệ sinh có tác động
giải tỏa trạng thái tâm lý.
* Đào tạo về mặt tri thức cho VĐV cần giáo dục những mặt sau :
- Những tri thức giúp hình thành thế giới quan đúng đắn, giúp hiểu ý nghĩa xã
hội và cá nhân của thể thao đối với VĐV.
- Những tri thức về các cơ sở khoa học chung của công tác đào tạo VĐV
(nguyên tắc chung đào tạo VĐV, các cơ sở khoa học tự nhiên và tâm lý của hoạt
động thể thao v.v…)
- Những tri thức hoạt động thực dụng như luật thi đấu, kỹ – chiến thuật môn
thể thao lựa chọn, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, các PP huấn luyện về thể lực và
tâm lý, PP xây dựng kế hoạch tập luyện, chế độ sinh hoạt v.v… hình thức đào tạo
phổ biến là bài giảng, thảo luận và tự đọc sách.
9.3.2. Huấn luyện thể lực
Huấn luyện thể lực luôn là cơ s73 của HLTT. Huấn luyện thể lực cho VĐV
phải phù hợp với quy luật chung của GDTC (đã được trình bày ở chương VII) và
những đặc điểm của HLTT. Một trong những đặc điểm tiêu biểu đó là kết hợp chặt
chẽ giữa HL thể lực chung với thể lực chuyên môn cho VĐV.
9.3.2.1. Huấn luyện thể lực chung
Đó là quá trình giáo dục toàn diện những năng lực thể chất của VĐV. Người ta
sử dụng các BT khác nhau để nâng cao khả năng chức phận của cơ thể làm phong phú
vốn KNKX vận động cho VĐV. Tuy nhiên do đặc điểm chuyên môn hóa khác nhau
theo đặc điểm của từng môn thể thao mà huấn luyện thể lực chung cũng được chuyên
môn hóa về nội dung và PP.
Đó là quá trình giáo dục toàn diện những năng lực thể chất của VĐV. Người ta
sử dụng các BT khác nhau để nâng cao kh3 năng chức phận của cơ thể làm phong phú
vốn KNKX vận động cho VĐV. Tuy nhiên do đặc điểm chuyên môn hóa khác nhau
theo đặc điểm của từng môn thể thao mà huấn luyện thể lực chung cũng được chuyên
môn hóa về nội dung và PP.
9.3.2.2. Huấn luyện thể lực chuyên môn
Huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV là quá trình giáo dục nhằm phát
triển và hoàn thiện những năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm môn thể thao
chuyên sâu. Nó có nhiệm vụ phát triển đến mức tối đa những năng lực dó ở VĐV.
9
Tùy theo đặc điểm của từng môn thể thao khác nhau mà huấn luyện thể lực chuyên
môn cho VĐV theo từng môn cũng khác nhau.
Mối quan hệ giữa HL thể lực chung và chuyên môn có tính biện chứng, mối
tương quan này có thay đổi trong quá trình tập luyện nhiều năm, cũng như trong mỗi
thời kỳ của chu kỳ lớn.
9.3.3. Huấn luyện kỹ thuật và chiến thuật thể thao
9.3.3.1. Huấn luyện kỹ thuật
Huấn luyện kỹ thuật bao gồm huấn luyện kỹ thuật chung và huấn luyện kỹ
thuật chuyên môn.
* Huấn luyện kỹ thuật chung là một quá trình giáo dưỡng làm tăng vốn kỹ
năng và kỹ xảo hữu ích cho cuộc sống hàng ngày và cho thể thao.
* Huấn luyện kỹ thuật chuyên môn là quá trình giáo dưỡng nhằm làm cho
VĐV nắm vững và hoàn thiện các KNKX của môn thể thao lựa chọn.
Trong quá trình huấn luyện kỹ thuật HLV phải sử dụng các phương tiện và PP
nhằm hoàn thiện kỹ thuật một cách tốt nhất và phù hợp với đặc điểm cá nhân của
VĐV.
+ Các phương tiện bao gồm : lời nói, trực quan, các dụng cụ phục vụ cho quá
trình HL kỹ thuật, các BT v.v…
+ Các PP huấn luyện kỹ thuật thể thao bao gồm :
- Các PP hướng dẫn và học tập kỹ thuật thể thao.
- Các PP đặt kế hoạch.
- Các phương pháp kiểm tra.
- Các PP đánh giá
9.3.3.2. Huấn luyện chiến thuật :
Chiến thuật thể thao là nghệ thuật tranh tài trong thi đấu thể thao.
Nội dung của huấn luyện chiến thuật thể thao cho VĐV bao gồm :
- Truyền thụ những hiểu biết về chiến thuật thể thao như các quy luật chiến
thuật thể thao, các thủ đoạn chiến thuật, các thủ đoạn vận dụng chiến thuật, xu hướng
phát triển chiến thuật trong môn thể thao lựa chọn.
- Biết khai thác các mặt mạnh, yếu của đối phương và điều kiện cuộc thi.
- Sử dụng thành thạo các phương án, các miếng, các thủ đoạn chiến thuật.
10
- Giáo dục năng lực tư duy chiến thuật và những năng lực cần thiết khác cho
việc điêu luyện chiến thuật.
Trong tất cả các nội dung kể trên thì năng lực tư duy chiến thuật là trọng tâm, vì
đó là yếu tố để xây dựng tổ chức và thực hiện kế hoạch thi đấu thể thao nếu thiếu nó
thành tích thi dấu sẽ không có kết quả. Năng lực tư duy chiến thuật được thể hiện thông
qua năng lực vận dụng các tri thức sẵn có, bề dày kinh nghiệm thi đấu, khả năng quan
sát và khả năng nhận biết nhanh, đánh giá đúng tình huống thi đấu. Tư duy chiến thuật
là nền móng của sự điêu luyện kỹ thuật thể thao.
Trong huấn luyện chiến thuật bao giờ cũng có huấn luyện chiến thuật chung và
huấn luyện chiến thuật chuyên môn. Huấn luyện chiến thuật chung có định hướng là
nhằm hoàn thiện trình độ điêu luyện chiến thuật ở môn thể thao lựa chọn. Huấn luyện
chiến thuật chung luôn phục vụ cho HL chiến thuật chuyên môn. Huấn luyện chiến
thuật chuyên môn là việc chuẩn bị trực tiếp bằng những BT của môn thể thao lựa
chọn nhằm hoàn thiện trình độ chiến thuật ở môn thể thao lựa chọn.
9.4. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUYÊN BIỆT CỦA HUẤN LUYỆN THỂ THAO
Trong quá trình HLTT, không được xem xét các nguyên tắc huấn luyện một
cách tách rời. Các nguyên tắc tạo thành một hệ thống và giữa chúng tồn tại những
mối quan hệ chặt chẽ. Các nguyên tắc được thể hiện trong tất cả các khâu và các
nhiệm vụ huấn luyện. Chúng xác định nội dung các phương tiện, PP cũng như tổ
chức tập luyện.
9.4.1. Nguyên tắc 1 : Huấn luyện thể thao là quá trình nhằm đạt thành tích tối
đa ở môn thể thao chuyên sâu
Đã là thể thao thì phải hướng tới thành tích kỷ lục. Xu hướng thành tích thể
thao dược khuyến khích bằng cả hệ thống tổ chức và điều kiện cho hoạt động thể
thao trong đó đặc biệt là hệ thống khen thưởng.
Quy luật định hướng thành tích TT cao nó chi phối hầu hết các đặc điểm và
các quy luật khác của HLTT. Định hướng thành tích dòi hỏi trước nhất sử dụng
LVĐ lớn, sử dụng các phương tiện, PP hữu hiệu nhất, sử dụng các hệ thống hồi
phục, dinh dưỡng đặc biệt. và định hướng thành tích TT còn chi phối cả quy luật
tăng LVĐ, luân phiên LVĐ và nghỉ ngơi.
Xu hướng đạt thành tích cao nhất còn được biểu hiện cụ thể trong từng giai
đoạn huấn luyện và nó thay đổi trong quá trình huấn luyện nhiều năm. Ở giai đoạn
đầu nó chỉ mang tính dự báo triển vọng sau này, cùng với sự phát triển trình độ điêu
luyện thể thao nó ngày càng thể hiện đầy đủ hơn cho đến tận giới hạn phát triển
thành tích cao nhất.
11
Muốn đạt được thành tích đến mức tối đa đòi hỏi VĐV phải được chuyên
môn hóa và bỏ nhiều thời gian, sức lực và tinh thần để hoàn thiện nó. Đó là yêu cầu
khách quan, cần thiết để đạt thành tích TT cao nhất.
Chuyên môn hóa thể thao được thực hiện theo đặc điểm cá nhân của VĐV
(cá biệt hóa). Mỗi VĐV chỉ có thể phát huy được đầy đủ, tối ưu các năng lực thể
chất và tinh thần của mình để đạt thành tích thể thao cao nhất không phải ở tất cả
các môn thể thao mà chỉ đạt được điều đó ở môn thể thao được chuyên môn hóa sâu
mà môi. Như vậy giữa chuyên môn hóa và chuyên môn hóa sâu có quan hệ trực tiếp
với nhau.
Khuynh hướng vươn tới thành tích TT cao nhất đòi hỏi VĐV luôn luôn phát
huy tính tích cực, sáng tạo trên con đường chinh phục các đỉnh cao thành tích TT
mới.
9.4.2. Nguyên tắc 2 : Huấn luyện thể thao là sự thống nhất giữa huấn luyện
chung và huấn luyện chuyên môn
Muốn nâng cao thành tích thể thao đòi hỏi phải tăng các khả năng chức phận
của cơ thể, phát triển toàn diện các năng lực thể chất và tinh thần của VĐV.
Tại sao phải thống nhất giữa HL chung và HL chuyên môn?
Cơ thể là một khối thống nhất. Vì vậy, sự phát triển tối đa của một tố chất
nào đó đặc trưng cho môn thể thao lựa chọn chỉ có thể đạt được khi đồng thời nâng
cao các khả năng chức phận của cơ thể. Mặt khác, do sự tác động qua lại của những
KNKX vận động khác nhau nghĩa là vốn KNKX vận động càng phong phú trong
quá trình HL chung sẽ càng tạo tiền đề tiếp thu nhanh, và hoàn thiện những KNKX
vận động ở môn thể thao chuyên sâu.
Xuất phát từ mục đích phát triển con người toàn diện của nền giáo dục chung
của chúng ta.
Bởi vậy cần phải kết hợp hài hòa giữa HL chung và HL chuyên môn trong
quá trình HLTT. Quá trình HL chung phải xuất phát từ đặc điểm của môn TT
chuyên môn hóa và HL chuyên môn phải dựa trên các tiền đề do HL chung mang
lại.
Tỷ lệ HL chung và HL chuyên môn trong quá trình HL nhiều năm : theo xu
hướng HL hiện đại thì tỷ lệ HL chung giảm dần theo thời gian và giảm tới mức tỷ lệ
HL chung trở thành phương tiện nghỉ ngơi tích cực, tương ứng với nó thì tỷ lệ HL
chuyên môn tăng lên. Sự thay đổi này thể hiện trong chu kỳ HL phụ thuộc vào từng
thời kỳ : thời kỳ chuẩn bị HL chung có thể chiếm 30 – 60% nhưng đến thời kỳ đầu
nó không vượt quá 10 – 15%
12
9.4.3. Nguyên tắc 3 : Tính liên tục của quá trình huấn luyện
Trong HLTT tính liên tục thể hiện ở 3 điểm :
Một là, tập luyện thể thao phải là quá trình tập luyện nhiều năm và quanh
năm. Cơ sở buổi tập sau, chu kỳ sau được tiến hành chồng lên dấu vết đồng thời
củng cố và phát triển chúng.
Ba là, quãng nghỉ giữa các buổi tập phải được ấn định trong giới hạn đảm
bảo hồi phục và hồi phục vượt mức. Nhung trong chu kỳ ngắn có thể tiến hành buổi
tập trên nền chưa hồi phục riêng biệt để tạo ra mật độ cao buổi tập. Do vậy ngày nay
người ta có thể áp dụng 2 – 3 buổi trên một ngày nhưng với điều kiện phải có những
buổi tập dỡ tải (nhả LVĐ). Trong những buổi tập có xu hướng LVĐ khác nhau để
tạo nên hiệu quả tập luyện, tiết kiệm thời gian do tận dụng quy luật hồi phục không
đồng thời.
Trong thực tế, những nội dung trên được thể hiện trong hệ thống các buổi tập
thường xuyên và cần tính tới các yếu tố có liên quan : trình độ đào tạo ban đầu của
VĐV, nhịp độ phát triển trình độ tập luyện, đặc điểm môn thể thao, quỹ thời gian
cho tập luyện. Điều quan trọng là phải xây dựng quá trình tập luyện sao cho hiệu
quả đạt mức cao nhất loại trừ sự gián đoạn trong tập luyện và hạn chế đến mức thấp
nhất sự giảm sút trình độ tập luyện có liên quan đến LVĐ.
9.4.4. Nguyên tắc 4 : Huấn luyện thể thao là một quá trình kết hợp giữa tăng
từ từ và tăng tối đa LVĐ
Tăng từ từ hướng tới tăng tối đa LVĐ (Các nguyên tắc trong GDTC chương
V)
Trong quá trình HLTT để đạt được thành tích TT cao cần phải sử dụng LVĐ
tối đa (LVĐ tối đa là LVĐ đạt đến giới hạn tích cực chức phận của cơ thể nhưng
không vượt quá giới hạn khả năng thích nghi của cơ thể. Độ lớn của LVĐ bao gồm
cả khối lượng lẫn cường độ). Muốn vậy phải kết hợp tăng từ từ với tăng đột biến
LVĐ (tức là tăng LVĐ lớn và tăng nhảy vọt)
Trong quá trình HLTT để đảm bảo xu hướng tăng từ từ LVĐ người ta áp
dụng một số các biện pháp tiến hành chuyên sâu hẹp tương đối muộn (chuyên sâu
từng cự ly) hoặc là thay đổi nhịp nhàng giữa huấn luyện chung và chuyên môn theo
xu hướng tăng dần tỉ lệ chuyên môn. Tăng dần tổng khối lượng tập luyện mỗi năm.
Tăng số buổi tập từ 2 – 3 buổi đến 15 – 20 buổi trong tuần, một ngày tăng từ 1 – 3 –
4 buổi, tăng số buổi tập có tác động chọn lọc (phát triển một tố chất nào đó), mở
rộng các nhân tố bổ sung.
Để nâng cao độ lớn “đột biến” của LVĐ trong quá trình tập luyện chủ yếu
phụ tuộc vào khả năng thích nghi của VĐV. Có nhiều VĐV dễ dàng thích nghi với
13
LVĐ ngày càng cao và thành tích thể thao tăng, nhưng ở một số VĐV khác lại
không thể. Vì phản ứng thích nghi LVĐ mang tính cá biệt nên trong quá trình tăng
LVĐ là phải thường xuyên tiến hành kiểm tra thông qua các test kiểm tra về nhịp độ
tăng LVĐ và tăng thành tích thể thao.
+ Trong HLTT, người ta kết hợp 2 cách tăng LVĐ : tăng từ từ và tăng nhảy
vọt. Tăng nhảy vọt là tăng LVĐ đến mức tối đa trong từng thời kỳ tập luyện nhưng
phải phù hợp với giai đoạn tập luyện tương ứng. Tăng nhảy vọt (đột biến) LVĐ là
nhân tố kích thích mạnh, tạo ngưỡng tối đa mới. Nhưng tăng nhảy vọt phải dựa trên
cơ sở tăng dần các yêu cầu tập luyện, nếu không sẽ vượt quá khả năng thích nghi
của cơ thể và ảnh hưởng tới thành tích thể thao. Mặt khác nếu nâng dần LVĐ không
kết quả với tăng đáng kể LVĐ sẽ làm chậm sự phát triển và thành tích TT sẽ không
đạt được tối đa.
Trong thực tiễn, việc tăng LVĐ ngày càng được sử dụng rộng rãi không chỉ
trong từng buổi tập, mà còn trong cả tuần, tháng, năm và cả cuộc đời của VĐV.
Việc tăng LVĐ không phải là ở tất cả các giai đoạn mà phải căn cứ vào đặc điểm
đối tượng, trình độ tập luyện, lứa tuổi … Song, tăng LVĐ là rất cần thiết trong
HLTT nhưng phải đảm bảo sự tăng thành tích thể thao.
9.4.5. Nguyên tắc 5 : Huấn luyện thể thao là 1 quá trình diễn biến LVĐ theo
hình sóng
Muốn tăng LVĐ từ từ và tăng tối đa tất nhiên phải diễn biến theo hình sóng.
Trong thể thao hiện đại, quá trình tập luyện diễn ra quanh năm thì LVĐ diễn biến
theo hình sóng đó là một đặc điểm tiêu biểu và ngày càng được chú ý đặc biệt. diễn
biến của LVĐ theo hình sóng áp dụng cho mọi cấu trúc của quá trình huấn luyện
(buổi tập là dơn vị cấu trú nhỏ nhất, rồi đến chu kỳ ngắn, chu kỳ trung bình và chu
kỳ lớn). Dao động theo hình sóng của LVĐ xuất hiện cả trong những giai đoạn, thời
kỳ tương đối nhỏ. Có thể chia các “sóng” thành một số loại sau :
- Sóng nhỏ tiêu biểu cho diễn biến LVĐ ở chu kỳ ngắn (1 vài buổi đến 1
tuần).
- Sóng trung bình biểu hiện diễn biến của LVĐ ở một số chu kỳ nhỏ (3 – 6
chu kỳ nhỏ) tương ứng với chu kỳ tháng.
- Sóng lớn (nửa năm đến một năm) xuất hiện ở một số chu kỳ trung bình.
Trong đó sóng LVĐ biểu hiện rõ nhất trong các cấu trúc tương đối lớn. Trong
chu kì ngắn, chu kì trung bình cũng có thể quan sát thấy các dạng diễn biến khác nhau
của LVĐ. Song, quan sát diễn biến của LVĐ trong tổ hợp chu ngắn hoặc 2 – 3 chu kì
trung bình ta có thể dễ dàng nhận ra dao động sóng LVĐ.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét