Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn việt nam hiện nay


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn việt nam hiện nay": http://123doc.vn/document/1051190-mot-so-giai-phap-tao-viec-lam-cho-nguoi-lao-dong-o-nong-thon-viet-nam-hien-nay.htm


hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống khiến họ muốn tìm
thêm việc làm bổ sung.
Nh vậy, thiếu việc làm đợc hiểu là trạng thái việc làm không tạo điều kiện
cho ngời tiến hành nó sử dụng hết thời gian quy định và mang lại thu nhập thấp
hơn mức tiền lơng tối thiểu.
1.2.2. Phân loại
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Khái niệm thiếu việc làm đợc thể hiện
dới hai dạng thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình.
+ Thiếu việc làm vô hình: là trạng thái những ngời có đủ việc làm, làm đủ
thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thờng nhng thu nhập thấp. Có
thể nói nguyên nhân của tình trạng này do: dân số không ngừng tăng trong khi
diện tích đất có nguy cơ thu hẹp làm d thừa lao động. Số ngời lao động trên một
đơn vị diện tích tăng có nghĩa là thời gian sử dụng để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm giảm. Trên thực tế họ vẫn làm việc nhng sử dụng rất ít thời gian trong sản
xuất do vậy thời gian nhàn rỗi nhiều.
Thớc đo thiếu việc làm vô hình:
K
1
= *100% (tháng, năm)
+ Thiếu việc làm hữu hình: chỉ hiện tợng lao động làm việc thời gian ít hơn
thờng lệ, họ không đủ việc làm, đang tìm kiếm thêm việc làm và sẵn sàng làm
việc.
Thớc đo thiếu việc làm hữu hình:
K
1
= *100% (tháng, năm)
1.3 Thất nghiệp
1.3.1 Khái niệm
Có quan niệm cho rằng: thất nghiệp là hiện tợng gồm những ngời mất thu
nhập do không có khả năng tìm đợc việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động, muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan môi giới về
lao động nhng cha đợc giải quyết.
Nhà kinh tế học David Begg cho rằng: Lực lợng lao động có đăng ký bao
gồm số ngời có công ăn việc làm và số ngời thất nghiệp có đăng ký.
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Lực lợng lao động là
một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những ng-
ời thất nghiệp.
Nh vậy, một ngời đợc gọi là thất nghiệp có 3 tiêu chuẩn:
+ Không có việc làm
+ Có khả năng lao động
+ Đang tìm việc làm
1.1.3 Phân loại thất nghiệp
Xét về nguồn gốc thất nghiệp có thể chia thành:
+ Thất nghiệp tạm thời: xảy ra do thay đổi việc làm hoặc do cung cầu lao
động không phù hợp.
+ Thất nghiệp do cơ cấu: xuất hiện do không có sự đồng bộ giữa tay nghề
và cơ hội có việc làm khi động thái của nhu cầu và sản xuất thay đổi.
+ Thất nghiệp do thời vụ: xuất hiện nh là kết quả của những biến động thời
vụ trong các cơ hội lao động.
+ Thất nghiệp chu kỳ: là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sản
lợng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá
trị sản xuất giảm dẫn tới hầu hết các nhà sản xuất giảm lợng cầu đối với các đầu
vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất nghiệp này, những chính sách nhằm
khuyến khích để tăng tổng cầu thờng mang lại kết quả tích cực.
Xét về tính chủ động của ngời lao động thất nghiệp bao gồm:
+ Thất nghiệp tự nguyện: là loại thất nghiệp xảy ra khi ngời lao động bỏ
việc để tìm công việc khác tốt hơn hoặc cha tìm đợc việc làm phù hợp với nguyện
vọng.
+ Thất nghiệp không tự nguyện: là loại thất nghiệp xảy ra khi ngời lao động
chấp nhận làm việc ở mức tiền lơng, tiền công phổ biến nhng vẫn không tìm đợc
việc làm.
Trên thực tế ngoài thất nghiệp hữu hình còn tồn tại dạng thất nghiệp vô
hình.
+ Thất nghiệp hữu hình xảy ra khi ngời có sức lao động muồn tìm kiếm việc
làm nhng không tìm đợc trên thị trờng.
+ Thất nghiệp vô hình hay còn gọi thất nghiệp trá hình: là khi ngời lao động
làm các việc với năng suất rất thấp không có góp phần tạo ra sản phẩm xã hội và
thu nhập quốc dân gì đáng kể mà cốt có thu nhập lấy từ tái phân phối để sống.
Thất nghiệp trá hình dễ thấy ở nông thôn hoặc những ngời ẩn náu trong biên
chế của các cơ quan hoặc doanh nghiệp nhà nớc quá nhiều so với yêu cầu công
việc.
1.4 Tạo việc làm
Có thể hiểu tạo việc làm cho ngời lao động là đa ngời lao động vào làm việc
để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và t liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá
và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trờng.
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình ngời
lao động làm việc. Ngời lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ
mà còn tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Vì vậy, tạo việc làm không chỉ
là nhu cầu chủ quan của ngời lao động mà còn là yêu cầu khách quan của xã hội.
Việc hình thành việc làm thờng là sự tác động đúng lúc giữa ba yếu tố:
+ Nhu cầu của thị trờng
+ Điều kiện cần thiết để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ:
Ngời lao động (sức lực và trí lực)
Công cụ sản xuất
Đối tợng lao động
+ Môi trờng xã hội: xét cả góc độ kinh tế chính trị, pháp luật, xã hội
1.5 Việc làm mới.
Việc làm mới cũng là những việc làm đợc pháp luật cho phép, đem lại thu
nhập cho ngời lao động, nó đợc tạo ra theo nhu cầu của thị trờng để sản xuất và
cung ứng một loại hàng hoá dịch vụ nào đó cho xã hội. Sự xuất hiện những việc
làm mới là một tất yếu khách quan do hàng năm lực lợng lao động đợc bổ sung
thêm cùng với tiến trình phát triển của dân số.
Khái niệm việc làm thờng gắn với chỗ làm việc bởi vì mỗi công việc cụ thể
đều có môi trờng làm việc nhất định. Nh thế, việc tạo ra những chỗ làm việc mới
cũng hàm ý với việc tạo ra việc làm mới. Việc làm mới bao gồm những công việc
đòi hỏi kỹ năng mới và những việc làm đợc tạo thêm ra cho ngời lao động. Đối với
những công việc đòi hỏi kỹ năng mới thì ngời lao động muốn làm đợc những công
việc mới này cần phải có sự thay đổi kỹ năng lao động thông qua đào tạo, còn đối
với những việc làm đợc tạo thêm (tăng lợng cầu lao động) đồng nghĩa với việc tạo
thêm những chỗ làm việc mới mà không yêu cầu phải thay đổi kỹ năng của ngời
lao động.
Nh vậy, theo nghĩa rộng, khái niệm việc làm mới đợc hiểu nh sau:
Việc làm mới là phạm trù nói lên sự tăng lợng cầu về lao động, nó đợc thể
hiện dới hai dạng: Những việc làm đòi hỏi kỹ năng lao động mới và những chỗ
làm việc mới đợc tạo thêm song không đòi hỏi sự thay đổi về kỹ năng của ngời lao
động.
Việc làm mới đợc tạo ra bằng nhiều cách: tăng chi tiêu của Chính phủ cho
các chơng trình phát triển kinh tế xã hội (tăng cầu lao động). Giảm thuế để khuyến
khích phát triển sản xuất từ đó cũng tạo ra đợc những việc làm mới. Đối với ngời
lao động, để tham gia đợc những việc làm mới phải không ngừng đào tạo nâng cao
trình độ lao động của mình.
2. Sự cần thiết phải tạo việc làm cho ngời lao động
Việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn
cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia. Bởi vậy, đấu tranh chống thất
nghiệp và đảm bảo việc làm (có thu nhập) cho ngời lao động là thách thức lớn của
nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Để tạo việc làm và tự tạo việc
làm không chỉ Đảng và Nhà nớc mà bản thân ngời lao động phải thấy đợc sự cần
thiết của tạo việc làm.
2.1 Con ngời là mục tiêu, là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội và là
yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế xã hội.
Để thấy rõ vai trò của con ngời, Mac-Lênin đã nêu: "con ngời là lực lợng
sản xuất cơ bản nhất của xã hội. Con ngời với sức lao động, chất lợng, khả năng,
năng lực, với sự tham gia tích cực vào quá trình lao động là yếu tố quyết định tốc
độ phát triển của tiến bộ kỹ thuật, khoa học kỹ thuật và xã hội". Ngày nay, để tồn
tại và phát triển bản thân mỗi ngời không ngừng nâng cao năng lực và trình độ
chuyên môn, những kỹ năng cần thiết không thể thiếu đợc của ngời lao động.
Xuất phát từ vai trò to lớn của con ngời trong lực lợng sản xuất cũng nh
trong công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nớc ta đã nhận thấy: chăm sóc, bồi dỡng
và phát huy nhân tố con ngời vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng.
Chủ nghĩa Mác-Lênin coi con ngời nh là tổng thể các mối quan hệ xã hội.
Nghĩa là:
- Cần phải coi trọng con ngời nh ngời lao động tạo ra của cải vật chất và
tinh thần cho xã hội.
- Coi con ngời là nhà sáng tạo ra những ý tởng mới, giải pháp mới.
- Con ngời cần đợc thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần và xã hội.
Thực chất quan điểm này muốn chỉ ra, chính sách kinh tế xã hội phải đảm
bảo mức sống cao cho dân tộc, lối sống lành mạnh của sự phát triển toàn diện con
ngời. Mục tiêu của công cuộc đổi mới cũng là tạo ra ngày một tốt hơn điều kiện về
vật chất, văn hoá tinh thần cho cuộc sống con ngời. Một xã hội văn minh phát
triển khi mỗi cá nhân, mỗi gia đình văn minh hơn, ấm no và hạnh phúc hơn.
2.2 Việc làm đối với ngời lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là yếu
tố khách quan của ngời lao động.
Con ngời muốn tồn tại và phát triển họ phải tiêu tốn một lợng t liệu sinh
hoạt nhất định. Để có những thứ đó con ngời phải sản xuất và tái sản xuất mở
rộng. Quá trình sản xuất tạo ra hàng hoá, dịch vụ đó là việc làm. Nh vậy, muốn
tăng tổng sản phẩm xã hội, một mặt phải huy động triệt để mọi ngời có khả năng
lao động tham gia vào nền sản xuất xã hội tức là mỗi ngời phải có việc làm đầy
đủ. Mặt khác, phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nhằm khai thác triệt để
tiềm năng của mỗi ngời nhằm đạt đợc việc làm hợp lý và việc làm hiệu quả.
Tạo việc làm đầy đủ cho ngời lao động không những tạo điều kiện để ngời
lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống mà còn làm giảm các tệ nạn xã hội,
làm cho xã hội văn minh hơn.
Khi nghiên cứu lý thuyết về sự phát triển, mọi ngời đều nhận thức rằng:
một trong những vấn đề cơ bản nhất trong cấu trúc của nó là phát triển nguồn lực,
coi đó là đỉnh cao nhất, là mục tiêu cuối cùng của mọi qúa trình phát triển. Điều
này hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với nhận mới về phát triển con ngời. Con ngời
ở đây đợc xem xét trên hai khía cạnh thống nhất với nhau hay nói cách khác, nó là
hai mặt của một vấn đề đợc thống nhất trong mỗi con ngời.
- Con ngời với t cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tính
thần. Nh vậy,để tồn tại và phát triển, con ngời bằng sức lao động của mình, là yếu
tố của quá trình sản xuất, là lực lợng sản xuất cơ bản nhất, tạo ra giá trị hàng hoá
và dịch vụ.
- Con ngời cần phải sử dụng và tiêu dùng của cải vật chất thông qua quá
trình phân phối và tái phân phối.
Từ lý luận và thực tiễn cũng đã chứng minh,có 3 yếu tố cơ bản nhất để phát
triển con ngời là phải đảm bảo an toàn lơng thực,an toàn việc làm và an toàn môi
trờng.
Trong quá trình phát triển, con ngời vừa là ngời hởng thụ, mặt khác con ng-
ời cung cấp đầu vào quan trọng cho quá trình biến đổi cho quá trình sản xuất.
Hoạt động lao động ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của loài ng-
ời, đó là một hoạt động thuộc về bản năng sinh tồn, con ngời chỉ có thể tồn tại,
phát triển và hoàn thiện không ngừng thông qua lao động sản xuất. Do vậy nhu
cầu có việc làm là nhu cầu để con ngời tồn tại và phát triển là yếu tố khách quan
và chính đáng của ngời lao động.
2.3 Việc làm là yêu cầu khách quan của xã hội.
Lịch sử phát triển xã hội loài ngời cho thấy, bất cứ một quốc gia nào, đều có
nhu cầu sử dụng hợp lý nguồn lao động của mình, để khai thác tài nguyên thiên
nhiên, phát triển kinh tế của đất nớc. Ngời lao động là một nguồn lực quan trọng,
là một trong những yếu tố cơ bản để phát triển. Mọi chủ trơng, đờng lối, chính
sách đúng đắn trong lĩnh vực kinh tế phải tập trung phát huy cao độ khả năng của
nguồn lực quan trọng đó. Nếu có những sai phạm về chủ trơng, chính sách và biện
pháp thì nguồn lao động rất có thể trở thành gánh nặng, thậm chí gây trở ngại, tổn
thất cho nền kinh tế.
ở Việt Nam trong thời kỳ bao cấp, việc kế hoạch hóa ngời lao động với
biện pháp phân bổ chỉ tiêu lao động và quỹ lơng cho khu vực quốc doanh đã làm
cho các cơ quan hành chính phình to, hoạt động kém hiệu quả. Các xí nghiệp quốc
doanh có năng suất thấp, sản xuất trì trệ, lời giả lỗ thật. Đến nay, Việt Nam đã
khắc phục đợc hiện tợng trên nhờ thực hiện cơ chế phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc, và đẩy
mạnh cải cách nền hành chính quốc gia. Mục đích sử dụng ngời lao động đợc
Đảng ta xác định: Sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu quan
trọng hàng đầu. Đây là yêu cầu tất yếu khách quan của xã hội.
II. Các nhân tố ảnh hởng tới vấn đề tạo việc làm cho ngời lao động
nông thôn.
1. T liệu sản xuất
T liệu sản xuất trong sản xuất nông nghiệp là đất đai, vốn, máy móc, kết
cấu hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực con ngời, nguồn lực sinh học và các phơng tiện
hoá học. Trong đó yếu tố vốn, đất đai, yếu tố sức lao động, công nghệ là yếu tố
quan trọng ảnh hởng trực tiếp tới tạo việc làm.
Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trớc tiên của mọi quá trình sản xuất. Nó
tham gia vào mọi quá trình sản xuất của xã hội nhng tuỳ thuộc vào từng ngành cụ
thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau. Trong nông nghiệp ruộng đất không
chỉ tham gia với t cách là yếu tố thông thờng mà là yếu tố tích cực của sản xuất, là
t liệu chủ yếu không thể thiếu, không thể thay thế đợc. Bởi vì, đất đai trong nông
nghiệp có đặc điểm:
Ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian nhng sức sản xuất là vô hạn. Mỗi
quốc gia có giới hạn diện tích đất khác nhau và tỷ lệ ruộng đất trong nông nghiệp
ở mỗi quốc gia lại càng khác biệt nhau vì nó còn tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai,
địa hình và trình độ phát triển kỹ thuật của từng nớc. Với nớc ta, mặc dù đất chật
ngời đông nhng tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm khá lớn là 9345,4( nghìn ha) chiếm
29,4% tổng diện tích cả nớc; đất lâm nghiệp có rừng là 11575,4(nghìn ha) chiếm
35,15% tổng diện tích cả nớc so với diện tích đất ở chỉ chiếm 1,34%. Tuy nhiên l-
ợng đất cha đợc sử dụng (có cả sông ngòi) có rất nhiều: 1027,3(nghìn ha) chiếm
30,4%. Diện tích đất lớn cho phép khai thác theo cả chiều sâu và chiều rộng để
mỗi đơn vị diện tích đất ngày càng đáp ứng nhiều sản phẩm theo yêu cầu của con
ngời và thị trờng thế giới. Chính việc sử dụng đất hợp lý kết hợp với sử dụng
nguồn lực con ngời sẽ tạo ra sự hài hoà cho việc giải quyết việc làm cho ngời lao
động với việc tăng sản lợng nông, lâm, ng nghiệp.
Ruộng đất có vị trí cố định và chất lợng không đồng đều. Nó khác với t liệu
sản xuất khác là không bị hao mòn, không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất nếu
sử dụng hợp lý.
Nh vậy, ruộng đất có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất nông nghiệp. Mỗi một
vùng có vị trí địa lý khác nhau. Do vậy, tạo việc làm cho ngời lao động nông thôn
Đảng và Nhà nớc cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích họ đồng thời đa ra
những giải pháp tăng sức sản xuất của ruộng đất, làm tăng số lần quay vòng đất.
Yếu tố vốn và sức lao động là hai yếu tố quan trọng nhất của quá trình tạo
việc làm. Theo mô hình tạo việc làm:
Y = f(C,V,X )
Trong đó: Y: Số lợng việc làm đợc tạo ra
C: Vốn đầu t
V: Sức lao động
X: Thị trờng tiêu thụ sản phẩm
Hai yếu tố C và V là hai yếu tố hợp thành năng lực sản xuất.
Sức lao động là khả năng trí lực, thể lực của con ngời. Đó là tri thức, sức
khoẻ, kỹ năng, kinh nghiệm, truyền thống, bí quyết công nghệ
Theo Mác: Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực
thể chất hay tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong mỗi con ngời đang sống và đ-
ợc ngời đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó.
Nói đến sức lao động ta phải nói đến số lợng và chất lợng lao động. Nếu
một ngời lao động có sức khoẻ tốt, có đầu óc suy nghĩ thông minh, sáng tạo thì
hẳn công việc mà họ đợc giao sẽ đợc hoàn thành tốt, sản phẩm mà họ sản xuất ra
sẽ đủ yêu cầu chất lợng.
Để tạo việc làm cho ngời lao động thì sức lao động là yếu tố quan trọng
nhất. Một công việc đợc thực hiện khi có con ngời và con ngời đó chỉ làm việc đợc
khi có đủ sức lao động.
ở nông thôn thể lực của ngời lao động kém hơn so với ngời lao động của
thành thị, kiến thức chuyên môn cũng nh xã hội đều thấp do thu nhập cha cao,
việc tiếp cận thông tin kinh tế, khoa học xã hội chậm. Điều đó ảnh hởng lớn đến
việc làm của chính họ. Chính vì vậy tạo việc làm cho ngời lao động nông thôn cần
phải đợc cân nhắc tính toán kỹ nếu không sẽ gây tổn thất nặng nề. Và để tạo việc
làm có hiệu quả cần thiết phải bồi dỡng kiến thức cho họ.
Vốn trong sản xuất nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của t liệu lao động
và đối tợng lao động đợc sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. vốn sản xuất nông
nghiệp mang đặc điểm sau:
Căn cứ vào đặc điểm của tài sản có thể chia thành vốn cố định và vốn lu
động. Do chu kỳ sản xuất dài và có tính thời vụ trong nông nghiệp nên một mặt
làm cho sự tuần hoàn và luân chuyển của vốn chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi
vốn cố định, tạo ra sự cần thiết phải dự trữ đáng kể nguồn vốn lu động trong thời
gian tơng đối dài và làm cho vốn ứ đọng. Mặt khác, sự cần thiết và có khả năng
tập trung hoá về phơng tiện kỹ thuật trên một lao động nông nghiệp so với nông
nghiệp là cao hơn.
Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên việc sử dụng
vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Một bộ phận sản phẩm nông nghiệp không qua lĩnh vực lu thông mà đợc
chuyển trực tiếp làm t liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp.
Do vậy, một bộ phận vốn đợc thực hiện ở ngoài thị trờng và đợc tiêu dùng
trong nội bộ nông nghiệp khi vốn lu động đợc khôi phục trong hình thái hiện vật.
Đối với ngời nông dân đặc biệt là những ngời dân nghèo thì vốn là quan
trọng và cần thiết để tiến hành sản xuất. Để tạo việc làm cho ngời lao động, nguồn
vốn đợc huy động chủ yếu từ trợ cấp, từ các quỹ, các tổ chức tín dụng.
Khi số lợng việc làm đợc tạo ra nhng nó có đợc chấp thuận hay không còn
tuỳ thuộc vào thị trờng tiêu thụ. Bởi vì, nếu sản phẩm sản xuất ra mà không đợc thị
trờng tiêu thụ chấp nhận thì quy mô lớn đến đâu, máy móc có hiện đại đến đâu thì
đơn vị sản xuất cũng không thể tồn tại. Do dó, khi tạo việc làm cho ngời lao động
cần phải biết cung cầu lao động trên thị trờng, số ngời thiếu việc làm, số ngời
không có việc làm để tạo việc làm cho ngời lao động vừa đủ.
Ngoài các yếu tố đất đai, vốn, sức lao động, thị trờng lao động còn có yếu
tố quan trọng nữa đó là hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật: hệ thống thuỷ lợi, hệ
thống đờng giao thông, cơ sở chế biến. Hệ thống này vừa tác động trực tiếp vừa
tác động gián tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp, nó giúp cho sự hoàn thành
sản phẩm tốt hơn, nhanh chóng hơn.
2. Nhân tố dân số
Dân số là yếu tố chủ yếu của quá trình phát triển. Dân số vừa là chủ thể vừa
là khách thể của xã hội, vừa là ngơi sản xuất, vừa là ngời tiêu dùng. Vì vậy, quy
mô, cơ cấu và chất lợng dân số có ảnh hởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế
- xã hội. ảnh hởng đó là tích cực hay tiêu cực tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa tốc
độ phát triển dân số với nhu cầu và khả năng phát triển kinh tế xã hội của mỗi
nớc trong mỗi thời kỳ. Do quy mô dân số lớn, tốc độ tăng cao đã làm quy mô số
ngời trong độ tuổi lao động có khả năng tăng cao. Quy mô dân số đông, nguồn lao
động dồi dào, đó là sức mạnh của quốc gia, là yếu tố cơ bản để mở rộng và phát
triển sản xuất. Nhng đối với nớc ta nớc chậm phát triển, khả năng mở rộng và
phát triển sản xuất còn có hạn, nguồn vốn, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu còn
thiếu thốn, nguồn lao động đông và tăng nhanh lại gây sức ép về việc làm rất lớn.
Năm 1986 số ngời trong độ tuổi lao động chỉ có 30 triệu ngời nhng đến năm 2000
là 38,644 (triệu ngời). Tỷ trọng ngời lao động trong dân số ngày càng tăng.
Theo số liệu của tổng cục thống kê, số ngời đang làm việc trong các ngành
kinh tế quốc dân năm 2001 là 37,677 (triệu ngời). Mỗi năm phải tạo thêm hơn 1,2
triệu chỗ làm việc cha kể số sinh viên sắp ra trờng, số ngời làm việc nội trợ thì số
ngời cha có việc làm hàng năm là .
Ngoài ra, để đảm bảo đủ việc làm cho ngời lao động trong nông thôn, tận
dụng hết quỹ thời gian lao động cần có thêm hơn 7 triệu chỗ làm việc.
Rõ ràng dân số đang tăng nhanh gây sức ép về việc làm rất lớn. Mặc dù
nguồn lao động dồi dào là nguồn lực lớn để phát triển kinh tế nhng để tạo việc làm
cho ngời lao động không phải đơn giản mà nó kéo theo tài chính, tín dụng, t liệu
sản xuất trong khi ngân sách n ớc ta còn hạn hẹp. Năm 2000 Đảng và Nhà nớc ta
đã có chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội trong đó nhân tố dân số đã đợc coi
trọng:
+ Coi con ngời là mục tiêu và là động lực chính của sự phát triển. Đặt con
ngời vào vị trí trung tâm trong chiến lợc phát triển hay gọi là chiến lợc con ngời,
lấy lợi ích của con ngời làm điểm xuất phát của mọi chơng trình kế hoạch phát
triển.
+ Nguồn nhân lực và con ngời Việt Nam - lợi thế và nguồn lực quan trọng
nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội nớc ta. Tuy nhiên, khi nguồn lực này tăng
lên quá nhanh mà cha sử dụng hết, lại là lực cản, gây sức ép về đời sống và việc
làm.
+ Đổi mới chính sách dân số, lao động và bảo trợ xã hội là nội dung hàng
đầu trong việc đổi mới chính sách và công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nớc. Các
chính sách đó phải phát huy nguồn lực về nguồn nhân lực và con ngời Việt Nam
hớng vào thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Mặt khác,
các chính sách đó phải phù hợp với những yêu cầu của quản lý kinh tế quốc dân,
phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của đất nớc.
3. Nhân tố giáo dục và công nghệ
Tiềm năng kinh tế của một đất nớc phụ thuộc vào trình độ khoa học và công
nghệ của đất nớc đó. Trình độ khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện
giáo dục. Đã có rất nhiều bài học thất bại khi một nớc nào đó sử dụng công nghệ
ngoại nhập tiên tiến trong khi tiềm lực khoa học công nghệ trong nớc còn rất non
yếu. Sự non yếu thể hiện ở chỗ thiếu các chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ
và quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề. Điều đó đã ảnh h-
ởng tới việc áp dụng các thành tựu khoa học. Không có sự lựa chọn nào khác hoặc
là đào tạo các nguồn lực quý giá cho đất nớc phát triển hoặc phải chịu tụt hậu so
với thế giới.
Giáo dục và đào tạo giúp cho ngời lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn
sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc và khi có trong tay kiến thức về xã hội,
về trình độ chuyên môn ngời lao động sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công
việc mà xã hội phân công sắp xếp.
Nh vậy, giáo dục và đào tạo nhằm định hớng phát triển kinh tế xã hội, tr-
ớc hết cung cấp cho xã hội một đội ngũ lao động mới đủ về số lợng, chất lợng và
sau là phát huy hiệu quả để đảm bảo thực hiện xã hội: dân giàu, nớc mạnh, công
bằng, dân chủ văn minh.
Bên cạnh việc đảm bảo nguồn lực với số lợng, chất lợng đáp ứng yêu cầu
công việc thì việc phát triển công nghệ là yếu tố quan trọng trong việc đa đất nớc
trở thành nớc công nghiệp. Công nghiệp hoá với xu hớng trí thức hoá công nhân,
chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc.
Ngày nay, để công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn nói riêng và công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc nói chung thì việc thiếu lao động và trình độ
chuyên môn hoá cao và thừa lao động trình độ thấp rất nhiều đã gây ra sức ép việc
làm lớn. Nếu bên cạnh việc nâng cao trình độ cho ngời lao động mà kết hợp với
việc áp dụng thành tựu khoa học trong sản xuất thì sẽ tạo ra những chỗ làm việc
hợp lý. Ngợc lại, nếu Nhà nớc có những chính sách tạo việc làm cho ngời lao động
mà họ thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức chuyên môn thì chơng trình tạo việc làm sẽ
không đạt hiệu quả nữa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét