LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nội dung chính sách thương mại quốc tế của liên minh châu âu (eu) và những điểm cần lưu ý đối với doanh nghiệp việt nam khi thâm nhập thị trường này": http://123doc.vn/document/1054004-noi-dung-chinh-sach-thuong-mai-quoc-te-cua-lien-minh-chau-au-eu-va-nhung-diem-can-luu-y-doi-voi-doanh-nghiep-viet-nam-khi-tham-nhap-thi-truong-nay.htm
EU không những là một trong những trung tâm thương mại hàng đầu thế
giới mà còn là nơi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất thế giới. Nguồn vốn
FDI của EU chiếm 45,7% tổng vốn FDI toàn cầu, trong khi đó của Mỹ và Nhật
Bản là 27,1% và 6,7%.
Năm 1995, FDI toàn cầu là 352.514 triệu USD; FDI của EU là 159.124
triệu USD, chiếm 45,13% FDI toàn cầu; FDI của Mỹ và Nhật Bản là 96.650
triệu USD và 22.510 triệu USD, chiếm 27,41% và 6,38% FDI toàn cầu.
Năm 1997, FDI toàn cầu là 423.666 triệu USD; FDI của EU là 203.237
triệu USD, chiếm 47,97% FDI toàn cầu; còn FDI của Mỹ và Nhật Bản là
121.840 triệu USD và 26.060 triệu USD, chiếm 28,75% và 6,15% FDI toàn
cầu.
Chỉ tính riêng năm 1997, vốn FDI của cả Mỹ và Nhật Bản mới chỉ đạt
147.900 triệu USD, trong khi đó FDI của EU là 203.237 triệu USD, cao hơn của
hai nước này là 81.397 triệu USD. FDI của Mỹ và của Nhật Bản chiếm 59,94%
và 12,82% FDI của EU.
Ngày nay, các nước thành viên EU đều là các nước công nghiệp có nền
kinh tế phát triển mạnh đang tập trung phát triển các ngành công nghiệp có hàm
lượng công nghệ cao, như điện tử tin học, viễn thông, công nghệ sinh học,v.v
Do vậy, FDI của EU tập trung chủ yếu ở các nước phát triển, cụ thể: Mỹ chiếm
39,7%, Nhật Bản chiếm 32,1%, ASEAN chiếm 12,6% FDI của EU và 15,6%
FDI còn lại của EU đầu tư vào các nước Trung Cận Đông và Châu Phi.
Phần II: Chính sách thương mại quốc tế của Liên minh châu Âu
1.Nội dung và một số đặc điểm của chính sách thương mại quốc tế của Liên
minh châu Âu
5
Tất cả các nước thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại
thương chung đối với các nước ngoài khối. Uỷ ban Châu Âu (EC) là người đại diện
duy nhất cho Liên Minh trong việc đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại và
dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực này. Liên minh châu Âu đang cải cách sâu rộng
và toàn diện thể chế và luật pháp cho phù hợp với tình hình mới. Nét đặc trưng
trong chính sách thương mại của EU là bảo hộ nông nghiệp, bảo vệ môi trường
và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng. EU trợ cấp sản xuất nông nghiệp trong khối
đồng thời đánh thuế cao và áp dụng hạn ngạch đối với một số nông sản nhập
khẩu như gạo, đường, chuối, sắn lát Các yêu cầu về xuất xứ, tiêu chuẩn vệ sinh
an toàn thực phẩm v.v luôn được thực hiện nghiêm ngặt
Chính sách ngoại thương của EU gồm: chính sách thương mại tự trị và
chính sách thương mại dựa trên cơ sở Hiệp định, được xây dựng dựa trên
các nguyên tắc sau: không phân biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh
tranh công bằng. Các biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này
là thuế quan, hạn chế về số lượng, hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và
trợ cấp xuất khẩu.
EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hóa dưới hình thức đẩy
mạnh tự do hóa thương mại (giảm dần thuế quan đánh vào hàng hoá XNK và
tiến tới xoá bỏ hạn ngạch, GSP). Hiện nay, 27 nước thành viên EU áp dụng một
biểu thuế quan chung đối với hàng hoá XNK. Đối với hàng nhập khẩu, mức thuế
trung bình đánh vào hàng nông sản là 18%, hàng công nghiệp là 2%.
Các chính sách phát triển ngoại thương của EU từ 1951 đến nay là những
nhóm chính sách chủ yếu sau: Chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách
thay thế nhập khẩu, chính sách tự do hoá thương mại và chính sách hạn chế xuất
khẩu tự nguyện. Việc ban hành và thực hiện các chính sách này có liên quan
chặt chẽ đến tình hình phát triển kinh tế, tiến trình nhất thể hóa Châu Âu và khả
năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của các sản phẩm của Liên Minh trên thị
trường thế giới. Ngoài các chính sách, EU có Quy chế nhập khẩu chung .
Bên cạnh cam kết với các nước thành viên WTO, EU ký nhiều hiệp định
thương mại và các hiệp định ưu đãi khu vực và song phương và dành chế độ
MFN toàn phần dành cho sản phẩm nhập khẩu từ Úc, Canada, Đài Loan, Hồng-
kong, Trung-quốc, Nhật-bản, Hàn-quốc, Tân-tây-lan, Singapo và Hoa-kỳ và các
hiệp định ngành hàng song phương khác.
6
Bên cạnh các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ WTO về nông
nghiệp, EU duy trì hạn ngạch áp dụng thuế quan đối với một số sản phẩm, giảm
dần trị giá và số lượng các sản phẩm được trợ cấp xuất khẩu. Trong một số lĩnh
vực dịch vụ, EU đã có cam kết cụ thể thực hiện theo lịch trình chung của
GATS, kể cả lĩnh vực viễn thông cơ bản, tài chính và dịch vụ nghe nhìn.
Hệ thống thuế: Các nước thuộc Liên minh châu Âu áp dụng Hệ thống thuế
quan chung của EU. Thuế nhập khẩu được tính bằng cách lấy giá trị hàng hóa
nhập khẩu tính theo giá CIF nhân với thuế suất của loại hàng hóa đó. Trong đó,
giá trị hàng hóa nhập khẩu tính theo giá CIF bao gồm: tiền hàng, các phí (đóng
gói, làm thủ tục xuất khẩu, nộp thuế xuất khẩu (nếu có), lập bộ chứng từ xuất
khẩu, cước vận tải, phí bảo hiểm ); Thuế suất phụ thuộc vào loại hàng và xuất
xứ của hàng nhập khẩu, được xây dựng trên nguyên tắc: Những mặt hàng trong
nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất không đủ, hoặc cần thiết để phát triển
những ngành sản xuất trong nước thì sẽ được miễn thuế hoặc hưởng thuế suất
thấp. Ngược lại, những mặt hàng trong nước đã sản xuất đủ hay để khuyến khích
trong nước tự sản xuất thì sẽ phải chịu thuế suất cao. Theo nguyên tắc này, hầu
hết nguyên liệu nhập khẩu vào EU được miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu thuế
suất thấp, còn các mặt hàng nông sản thực phẩm phải chịu mức thuế cao hoặc
thuế đặc biệt. Cụ thể, các mặt hàng thịt, các sản phẩm sữa, ngũ cốc, rau hoa quả
chế biến và không chế biến chịu mức thuế cao nhất từ 0 – 470,8%. Đối với các
mặt hàng khác có mức thuế từ 0 – 36,6%. Để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa
và đẩy mạnh xuất khẩu, bên cạnh việc miễn thuế hoặc đánh thuế thấp, đối với
các nguyên, phụ liệu, bán thành phẩm nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu ,
EU còn cho phép được “treo” thuế (tức là khi nhập khẩu nguyên liệu chỉ tính
thuế chứ chưa phải đóng thuế, khi xuất hàng, sẽ tính toán bù trừ và doanh
nghiệp chỉ phải đóng thuế phần nguyên liệu không dùng để làm hàng xuất khẩu.
Ngoài ra, EU còn có chính sách thuế ưu đãi để phát triển một số ngành, trong đó
ngành Công nghệ thông tin và ngành Dược là những ngành được quan tâm.
Về xuất xứ hàng hóa:
EU áp dụng Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) dành cho 143 quốc gia
và 36 vùng lãnh thổ, trong đó các nước chậm phát triển nhất được ưu đãi nhiều
hơn theo sáng kiến "Mọi sản phẩm trừ vũ khí".
Biểu thuế quan của EU được gọi là thuế quan đặc biệt, được thực hiện đối với
hàng nhập khẩu từ một số nước đang phát triển và được hưởng đơn thuần ưu đãi
7
GSP của EU. GSP là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp
phát triển dành cho các nước đang và chậm phát triển. Bản chất của chế độ GSP
là các nước công nghiệp phát triển sẽ áp dụng chế độ miễn thuế hoặc thuế rất
thấp cho hàng hóa của các nước đang và kém phát triển, nhằm giúp hàng hóa
của các nước này có điều kiện thâm nhập được vào thị trường các nước phát
triển. Để được hưởng GSP thì phải đạt các điều kiện: phải là nước chậm và đang
phát triển; hàng hóa phải đạt 3 điều kiện cơ bản: Xuất xứ từ nước được hưởng,
điều kiện vận tải, giấy chứng nhận xuất xứ. Về điều kiện xuất xứ từ nước được
hưởng, EU quy định có 2 loại: Đối với sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại
lãnh thổ nước được hưởng ưu đãi như: Khoáng sản, động thực vật, thủy sản
đánh bắt trong lãnh hải và hàng hóa sản xuất từ sản phẩm đó được xem là có
xuất xứ và được hưởng ưu dãi GSP; Đối với các sản phẩm có thành phần nhập
khẩu, EU quy định hàm lượng trị giá sản phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP
(tính theo giá xuất xưởng) phải đạt 60% tổng trị giá hàng liên quan. Tuy nhiên,
đối với một số nhóm hàng thì hàm lượng này thấp hơn, EU quy định cụ thể tỷ lệ
trị giá và công đoạn gia công đối với một số nhóm hàng mà yêu cầu phần trị giá
sáng tạo thấp hơn 60% (máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh không dưới 40%, đồ
trang trí làm từ kim loại không dưới 30%, giầy dép chỉ được hưởng GSP nếu các
bộ phận như: mũi giầy, đế dầy ở dạng rời và có xuất xứ từ nước thứ 3 cũng
được hưởng GSP hoặc nhập khẩu ); Về điều kiện vận tải (hay điều kiện gửi
hàng), EU yêu cầu hàng hóa phải được gửi thẳng từ nước được hưởng đến nước
cho hưởng. Quy định này nhằm đảm bảo hàng hóa không bị gia công tái chế
thêm trong quá trình vận chuyển.
- Đối với các sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước
hưởng GSP, như: khoáng sản, động thực vật, thủy sản đánh bắt trong lãnh hải và
các hàng hóa sản xuất từ các sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được
hưởng GSP.
- Đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu: EU quy định hàm
lượng trị giá sản phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP (tính theo giá xuất
xưởng) phải đạt 60% tổng trị giá hàng liên quan. Tuy nhiên, đối với một số
nhóm hàng thì hàm lượng này thấp hơn. EU quy định cụ thể tỷ lệ trị giá và
công đoạn gia công đối với một số nhóm hàng mà yêu cầu phần trị giá sáng
tạo thấp hơn 60% (điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh không dưới 40; tượng, đồ trang
trí làm từ kim loại không dưới 30%; giày dép chỉ được hưởng GSP nếu các bộ
8
phận như: mũi, đế,v.v ở dạng rời sản xuất ở trong nước hưởng GSP hoặc
nhập khẩu; v.v ).
EU cũng quy định xuất xứ cộng gộp, theo đó hàng của một nước có thành
phần xuất xứ từ một nước khác trong cùng một tổ chức khu vực cũng được
hưởng GSP thì các thành phần đó cũng được xem là có xuất xứ từ nước liên
quan. Thí dụ, Việt Nam xuất khẩu sang EU một mặt hàng trong đó thành phần
xuất xứ của Việt Nam chiếm 20% trị giá, còn lại 15% nhập khẩu của Indonesia,
10% của Thái Lan, 15% của Singapore. Xuất xứ cộng gộp của hàng Việt nam sẽ
là: 20% + 15% + 10% + 15% = 60%. Mặt hàng này lẽ ra không được hưởng
GSP (vì hàm lượng trị giá Việt Nam chưa được 50%), nhưng nhờ cộng gộp
(60%) đã đủ điều kiện hưởng GSP.
Hàng xuất khẩu của việt Nam vào thị trường EU được hưởng ưu đãi thuế
quan phổ cập (GSP) từ 1/7/1996 cho đến nay.
Trong việc quản lý nhập khẩu, EU phân biệt 2 nhóm nước: nhóm áp dụng
cơ chế kinh tế thị trường (nhóm I) và nhóm có nền thương nghiệp quốc doanh
(nhóm II) - State trading. Hàng hóa nhập khẩu vào EU từ các nước thuộc nhóm
II (trong đó có Việt Nam) chịu sự quản lý chặt thường phải xin phép trước khi
nhập khẩu. Sau khi Việt Nam và EU ký Hiệp định Hợp tác (1995) với điều
khoản đối xử tối huệ quốc và mở rộng thị trường cho hàng hóa của nhau thì quy
định xin phép trước đối với nhập khẩu hàng Việt Nam được hủy bỏ (trên thực
tế). Tuy nhiên, cho đến trước ngày 14/5/2000 (ngày EU đưa ra quyết định “Công
nhận Việt Nam áp dụng cơ chế kinh tế thị trường”), EU vẫn xem Việt Nam là
nước có nền thương nghiệp quốc doanh và phân biệt đối xử hàng của Việt Nam
với hàng của các nước kinh tế thị trường khi tiến hành điều tra và thi hành các
biện pháp chống bán phá giá.
Các biện pháp khuyến khích trong GSP của EU: So với ưu đãi mà các nước
và khu vực khác dành cho các nước đang phát triển, mức ưu đãi của EU vào
loại thấp nhất. Trong hệ thống GSP của EU qui định khuyến khích tăng thêm
mức ưu đãi 10%, 20%, 35% đối với hàng nông sản và 15%, 25% và 35% đối
với hàng công nghệ phẩm. Theo GSP của EU bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/1999
thì những trường hợp sau được hưởng ưu đãi thêm:
- Bảo vệ quyền của người lao động.
- Bảo vệ môi trường.
9
Hàng của các nước đang và chậm phát triển khi nhập khẩu vào thị trường
EU muốn được hưởng GSP thì phải tuân thủ các quy định của EU về xuất xứ
hàng hóa và phải xuất trình giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A (C/O form A) do cơ
quan có thẩm quyền của các nước được hưởng GSP cấp.
Các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu
EU áp dụng nhiều biện pháp, quy định khác để quản lý hoạt động xuất nhập
khẩu:
Cấm nhập khẩu: EU áp dụng biện pháp cấm hoàn toàn hoặc chỉ cho phép nhập
khẩu khi đáp ứng những điều kiện nhất định đối với những mặt hàng nguy hiểm
như: Các sản phẩm hóa chất độc hại, các chất phế thải. Một số mặt hàng bị cấm
nhập khẩu vào EU do ảnh hưởng đến an toàn an ninh và sức khỏe của cộng đồng
như một số tân dược, thuốc trừ sâu, thực phẩm, sản phẩm điện, giống cây trồng,
vật nuôi ngoại lai, các nông sản, thủy sản có dư lượng kháng sinh, lượng chất
độc cho phép Một só nước thành viên EU như áo, Đan Mạch, Hy Lạp, Thụy
Điển còn cấm nhập khẩu các mặt hàng: Đồ chơi và các vật dụng dành cho trẻ em
dưới 3 tuổi được làm từ nhựa Polyvinylchloride.
Cấp giấy phép nhập khẩu: Đối với một số loại hàng hóa, EU áp dụng biện pháp
cấp giấy phép nhập khẩu đối với các mặt hàng như: Sản phẩm văn hóa (bao gồm
khảo cổ học, sản phẩm điêu khắc ), các mặt hàng nông sản (rượu, sữa, lúa mỳ,
thịt, gạo), kim loại đều phải trình giấy phép nhập khẩu và các tài liệu liên quan.
Hạn chế nhập khẩu bằng hạn ngạch (quota): Mặc dù được coi là khu vực
tương đối tự do và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế phát
triển, EU vẫn áp dụng một số hạn ngạch nhất định cho một số mặt hàng, đặc biệt
là hàng dệt may. Hạn ngạch hàng dệt may của EU được quy định trên cơ sở
Hiệp định Dệt may. Việt Nam là một trong những nước được cấp hạn ngạch
hàng dệt may vào EU, mỗi năm từ 500-600 triệu USD, năm 2004 lên đến 800-
900 triệu USD. Nay, EU xoá bỏ hoàn toàn hạn ngạch cho các nước thành viên
WTO, Việt Nam sẽ gặp khó khăn. Để vượt qua khó khăn, một mặt Việt Nam
phải nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may, mặt khác phải tích cực
thương lượng để trở thành thành viên của WTO trong năm 2005.
Luật chống bán phá giá: EU áp dụng Luật này đối với hàng nhập khẩu từ nước
thứ 3, được áp dụng đối với các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp. Luật
này sẽ được áp dụng cho tất cả các nước thứ 3, kể cả các đối tác thương mại
được hưởng ưu đãi, trừ các thành viên của Khu vực kinh tế châu Âu trong một
10
số lĩnh vực chịu sự chi phối trong trong khuôn khổ chính sách cạnh tranh của
EU. Quy định này có một số điều khoản đặc biệt, áp dụng cho các nền kinh tế
chuyển đổi để trao quy chế đối xử như với nền kinh tế thị trường cho các nhà
xuất khẩu từ Anbani, Mông Cổ, Ucraina, Kadăcxtan, Trung Quốc, Nga, Việt
Nam theo quy chế tạm thời để áp dụng trong việc điều tra chống bán phá giá.
2. Các hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Liên minh châu Âu
Tiến trình tự do hoá thương mại đang được tăng tốc bởi các hàng rào phi
quan thuế như quota sẽ được bãi bỏ và những hàng rào thuế quan cũng sẽ bị cắt
giảm. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là các nhà xuất khẩu có thể dễ dàng
tiếp cận vào thị trường EU. Việc tiếp cận thị trường EU trở nên khó khăn hơn
nhiều do việc tăng những quy định và các yêu cầu thị trường trong các khía cạnh
về an toàn, sức khỏe, chất lượng, các vấn đề môi trường và xã hội. Trước đây,
các hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhìn chung nhằm bảo vệ các nhà sản
xuất của Châu Âu. Nhưng ngày nay, việc bảo vệ môi trường và bảo vệ cho
người tiêu dùng ngày càng tăng đã dần thay thế cho việc bảo vệ nhà sản xuất và
lao động.
Việc sử dụng các hàng rào kỹ thuật được điều chỉnh thông qua các hàng
rào kỹ thuật trong hiệp định thương mại của WTO. Những quy định, luật lệ này
không chỉ do các chính phủ áp dụng nhằm xác định các tiêu chuẩn trong an toàn,
sức khỏe và môi trường, mà còn bởi chính người tiêu dùng đang ngày càng có
những yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng sản phẩm. Điều này dẫn tới các quy
định khó khăn hơn xuất phát từ phía thị trường.
Hiện tại EU đang tạo ra các tiêu chuẩn thống nhất cho toàn EU đối với
các lĩnh vực sản phẩm chính nhằm thay thế hàng ngàn các tiêu chuẩn quốc gia
khác nhau. Nhìn chung, các mức độ yêu cầu đang được đặt ra hoặc sẽ được đặt
ra trong những năm tới đây. Các quốc gia thành viên được phép đưa ra thêm các
yêu cầu cho ngành công nghiệp của mình. Tuy nhiên, nếu sản phẩm nào đáp ứng
được những yêu cầu tối thiểu sẽ được cho phép lưu hành tự do tại EU.
2.1.Tiêu chuẩn sức khỏe và an toàn:
2.1.1. Nhãn CE
11
Tháng 5/1985, Hội đồng châu Âu đã thông qua quy định “cách tiếp cận
mới về việc hoà hợp và bình thường hóa về kỹ thuật. Cách tiếp cận mới được áp
dụng cho việc chuẩn hóa và quản lý chất lượng nhằm đảm bảo chỉ những sản
phẩm an toàn và đáp ứng được yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng, môi trường sức
khỏe mới được lưu thông trong Khu vực Kinh tế chấu Âu. Theo cách tiếp cận
mới này, thì hàng loạt các sản phẩm công nghiệp chế tạo buộc phải mang nhãn
hiệu CE. Mục đích của nhãn CE là đặt ra yêu cầu chung đối với các nhà sản xuất
nhằm đảm bảo đưa ra những sản phẩm an toàn tại thị trường EU. Nhãn CE được
coi là 1 giấy thông hành của nhà sản xuất lưu thông nhiều sản phẩm công nghiệp
như máy móc thiết bị, các thiết bị điện có hiệu điện thế thấp, đồ chơi, các thiết
bị an toàn cá nhân, các thiết bị y tế… trên thị trường EU. Tuy nhiên nhãn CE
không áp dụng cho tất cả các hàng hoá công nghiệp, nó không áp dụng cho các
sản phẩm trang trí nội thất, quần áo và các sản phẩm da. Nhãn CE chỉ ra rằng
sản phẩm tuân thủ các yêu cầu về luật định và có thể được áp dụng về an toàn,
sức khỏe, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng, nhưng nhãn CE không bảo
đảm về chất lượng sản phẩm.
Chỉ thị về sản phẩm chung 92/59/EC (thường được gọi là Chỉ thị an toàn
sản phẩm) được thông qua Hội đồng châu Âu ngày 29/6/1992. Tháng 6/1994,
Chỉ thị bắt đầu có hiệu lực và áp dụng cho an toàn của sản phẩm kể từ lần đầu
tiên sản phẩm đó xuất hiện trên thị trường EU và kéo dài đến khi sản phẩm đó
hết tác dụng. Với Chỉ thị này, các nhà sản xuất và phân phối chỉ được phép kinh
doanh các sản phẩm an toàn. Vì vậy, khi sản xuất hàng xuất khẩu đi EU phải
chú ý ngay từ khâu thiết kế, nguyên liệu đầu vào , phải chứng minh được hàng
hóa đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người sử dụng.
2.1.2. HACCP: Hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các điểm tới hạn
Tiêu chuẩn HACCP được áp dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm và chế
biến với các nguyên tắc cơ bản:
* Xác định tất cả các nguy cơ có thể xẩy ra cho sản phẩm trong chu kỳ sống
của sản phẩm;
* Xác định các Điểm kiểm soát tới hạn (Critical Control Points), các giai đoạn
có thể kiểm soát được trong chu kỳ sống của sản phẩm;
12
* Xác định những biên độ tiêu chuẩn cao nhất có thể cho phép cho mỗi điểm
kiểm soát tới hạn;
* Thiết kế và thực hiện một hệ thống kiểm soát kiểm nghiệm hoặc quan sát
cho mỗi Điểm kiểm soát tới hạn, bao gồm 01 lịch trình theo thời gian;
* Thiết kế và thực hiện các kế hoạch hành động chính xác cho mỗi Điểm
kiểm soát tới hạn;
* Đưa ra một tiến trình xác nhận, bào gồm các kiểm nghiệm và tiến trình khác
nhằm kiểm tra tính hiện quả và hiệu quả của hệ thống HACCP;
* Chứng từ hoá tất cả các tiến trình và kết quả kiểm nghiệm.
2.1.3. Phụ gia thực phẩm và gia vị
Phụ gia thực phẩm chịu sự điều chỉnh của luật pháp EU ban hành đối với chất
làm ngọt, chất mầu và các phụ gia thực phẩm khác được sử dụng trong đồ ăn.
Chỉ những phụ gia nào được phép sử dụng một cách rõ ràng theo Quy định này
mới có thể được dùng trong EU. Các chất phụ gia thực phẩm được phép sử dụng
sẽ có số xác minh. Số này sẽ có một chữ E đứng trước (E number). Các phụ gia
thực phẩm phải được ghi rõ trong danh mục thành phần in trên bao bì tên của
chất có trong phụ gia hay số E của nó.
Hầu hết các chất phụ gia thực phẩm chỉ có thể sử dụng với các khối lượng hạn
chế trong một số thực phẩm nhất định. Đối với các chất phụ gia thực phẩm, EU
sẽ sớm công bố một danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng. Sau đó, chỉ
các chất phụ gia nêu trong danh mục này được phép đưa vào thực phẩm.
2.2.Tiêu chuẩn môi trường:
Chương trình hành động về môi trường của EU nhấn mạnh: Phải xử lý tận
gốc những vấn đề gây tác động xấu đến môi trường chứ không phải chỉ đối phó
với những rắc rối khi chúng đã xẩy ra. EU đưa ra danh mục các sản phẩm có ảnh
hưởng đến môi trường như: thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến, dược
phẩm, hoá chất, đồ da, đồ gỗ, dệt may, đồ điện, cơ khí, khoáng sản , cùng các
vấn đề nhạy cảm có liên quan như lượng thuốc trừ sâu không phân hủy, phụ gia
thực phẩm, kim loại nặng, hoá chất độc hại gây nhiễm nguồn nước và không
13
khí Với chính sách bảo vệ môi trường của EU như đã nêu trên, thì các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng sang EU đều phải có chứng chỉ ISO 14000 và phải chứng
minh được nguồn gốc hàng hóa và chính sách bảo vệ môi trường.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét