Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

về sự tác động của quá trình đô thị hoá ở việt nam đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "về sự tác động của quá trình đô thị hoá ở việt nam đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của hà nội": http://123doc.vn/document/1049733-ve-su-tac-dong-cua-qua-trinh-do-thi-hoa-o-viet-nam-den-moi-mat-cua-doi-song-kinh-te-xa-hoi-cua-ha-noi.htm


II. NỘI DUNG:
1. Khái niệm :
Tuỳ theo mỗi quốc gia mà đô thị được định nghĩa khác nhau. Ở Việt
Nam,theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Chính
phủ Việt Nam về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị:
Đô thị là khu dân cư tập trung có những đặc điểm sau:
Về cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định thành lập;
Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên
tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong
thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện.
Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt
động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy
hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000
người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km².
Đô thị hoá là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân
đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu
vực. Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian.
Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hoá; còn theo
cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hoá.
Các quá trình đô thị hóa gồm:
Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có. Thông thường quá trình này
không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành
phố thường thấp hơn nông thôn.
5
Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị, hoặc như là sự nhập cư
đến đô thị
Sự kết hợp của các yếu tố trên.
Một khu đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc
do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Các đô thị có thể là
thành phố, thị xã, hay vùng đô thị nhưng thuật từ này thông thường không mở
rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp.
Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa. Đo
đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự
mở rộng đô thị, và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị.
Không như một đô thị, một vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn
bao gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh có
liên hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lỏi, tiêu biểu là mối quan hệ từ
công ăn việc làm đến việc đáp xe hàng ngày ra vào mà trong đó thành phố đô
thị cốt lỏi là thị trường lao động chính. Thật ra, các đô thị kết hợp và phát triển
như trung tâm hoạt động kinh tế/dân số trong một vùng đô thị lớn hơn.
Các vùng đô thị thường thường được định nghĩa bằng việc sử dụng các
quận hoặc các đơn vị chính trị cấp quận làm đơn vị nền tảng. Quận có chiều
hướng hình thành các ranh giới chính trị bất di bất dịch. Các kinh tế gia thường
thích làm việc với các thống kê xã hội và kinh tế dựa vào các vùng đô thị. Các
đô thị được dùng để thống kê thích hợp hơn trong việc tính toán việc sử dụng tỉ
lệ đất quân bình trên đầu người và mật độ dân cư (theo Dumlao & Felizmenio
1976)
6
2. Thực trạng :
Đô thị hóa song hành với quá trình công nghiệp hóa ở nước ta đang từng
ngày làm đổi thay diện mạo đất nước, cung cấp những công năng đô thị đa
dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống hiện đại. Nhưng, ở một
bình diện khác, làn sóng
đô thị hóa tự phát trên
diện rộng cũng làm nảy
sinh nhiều bất cập và để
lại những hậu quả nặng
nề về mặt xã hội, quy
hoạch, kiến trúc, sản
xuất, hệ sinh thái , gây
nên nhiều áp lực đối với
sự phát triển của đất
nước.
Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa lại xảy ra nhiều năm trước quá trình công
nghiệp hóa, khiến cho mô hình và tư duy đô thị gặp nhiều khủng hoảng. Nghịch
lý này có thể bắt nguồn từ nguyên nhân do sức ép nhà ở sau chiến tranh và
tình trạng đầu cơ đất. Sự phát triển ngược trên khiến hệ thống đô thị ở Việt
Nam ngày càng lộ rõ những yếu kém, đi liền với các hệ quả, có thể được gọi là
"căn bệnh đô thị" như: kiến trúc thiếu đồng bộ, giao thông tắc nghẽn, nước thải
sinh hoạt, di dân tự do và các vấn đề xã hội nan giải khác Quy hoạch ngày
càng xa rời mục đích gốc - vốn phải phục vụ nhu cầu và thói quen của đại bộ
phận dân cư.
7
Hà Nội có tới hàng chục vạn người sống chen chúc trong các ngõ hẻm chật
chội, thiếu các nhu cầu tối thiểu về
nước sạch, hạ tầng kỹ thuật, chưa
nói đến các nhu cầu về việc làm,
giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi
trường sống Các khu đô thị mới
được phát triển mạnh ở khu vực
ven đô thường là các dự án nhỏ lẻ,
không đồng bộ, hầu như chỉ xây
nhà ở để bán, xa nơi làm việc,
trường học, bệnh viện, chợ và các
trung tâm giao tiếp nên cư dân vẫn
đổ vào trung tâm cũ theo giao thông
hướng tâm. Điều này càng trở nên
nan giải khi dòng người nhập cư
không chính thức từ nông thôn ra
thành phố tăng song hành với quá
trình đô thị hoá phát triển nhanh hiện nay ở Hà Nội.
Bước ra vùng ngoại vi thành phố, có thể cảm nhận thấy một sự đứt gãy,
phá vỡ lớn trong cảnh quan khu vực ven đô, vốn có cấu trúc rất đẹp, tạo dựng
nên từ sự phối kết hợp hài hòa của không gian kiến trúc nông thôn truyền
thống. Tình trạng bê-tông hóa ven lộ, ven đê, ven đường cao tốc và trong các
làng bộc lộ rõ sự không theo kịp của việc quy hoạch nông thôn hiện nay.
Diện mạo kiến trúc hiện nay đặc trưng bởi các loại hình kiến trúc như: nhà
chia lô, khách sạn, văn phòng cho thuê, khu công nghiệp tập trung và các khu
đô thị mới cao tầng, trong đó, phong cách, tính thẩm mỹ và công năng dường
như lại có sự sụt giảm đáng kể so với thời kỳ trước đây. Tính tổng thể vốn là
nền tảng cho vẻ đẹp đô thị, nhưng hiện nay, diện mạo kiến trúc được xây dựng
từ "ngôn ngữ" kiến trúc chắp vá, thiếu tính đồng bộ dẫn đến việc xé lẻ không
gian đô thị thành những mảnh riêng biệt. Đây chính là khoảng tối của diện mạo
kiến trúc đô thị hiện nay. Diện mạo kiến trúc trên là thực tiễn phản ánh học
thuật và lý luận đô thị, kiến trúc vẫn còn nhiều khoảng trống.
8
Áp lực từ quá trình đô thị hóa hiện nay rất lớn: Tính đến năm 2005, có
khoảng 20 triệu người sống ở đô thị nhưng đến năm 2020, con số này sẽ là
khoảng 70 triệu người. Điều này cũng đồng nghĩa, chúng ta phải lo cho 50 triệu
dân cư đô thị có nhà ở, việc làm và các dịch vụ đời sống khác. Hay tính theo
quỹ đất cứ 100m²/đầu người thì cần tới 500 nghìn héc-ta đất dành cho đô thị,
trong đó, theo số liệu của Hiệp hội Đô thị Việt Nam dự báo, chỉ riêng về dịch vụ
tối thiểu cho 3 hạng mục cấp nước, thoát nước và thu gom xử lý chất thải rắn
đã cần khoản tiền đầu tư khổng lồ: 8,9 tỉ USD (năm 2010) và 13 tỉ USD (năm
2020). Những yếu tố khác cũng rất quan trọng phải tính cho tương lai sắp tới
như: cần bao nhiêu nhà ở, trường học, bệnh viện hiện nay vẫn chưa có số
liệu chính thức nào được công bố từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Sẽ là
quá muộn nếu chúng ta không có những quyết sách đúng đắn về đô thị hoá ở
Hà Nội.
Kể từ khi Đảng chủ trương đổi mới,
đất nước đã vượt qua khủng hoảng,
nhiều lĩnh vực đã đạt được tốc độ phát
triển tốt. Nhưng, về xây dựng lại chưa
tạo ra được cho đất nước một bức
tranh đẹp.
Có thể nước ta có nhiều đặc điểm
không giống các nước khi khởi đầu tiến
trình đô thị hoá. Thực tế, việc sao chép
những mô hình đô thị hiện đại của các
nước tiên tiến đang bộc lộ những độ
vênh nhất định. Đặc biệt, thực tiễn phát triển đô thị khá "nóng" ở nước ta thời
gian qua đang bộc lộ những khiếm khuyết, báo trước khả năng có thể xảy ra
"khủng hoảng đô thị".
Bộ Xây dựng, cơ quan chuyên ngành được giao trách nhiệm, đã tỏ ra “đuối
sức” trước nhiều vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra trong cơn lốc xây dựng và
phát triển đô thị hiện thời.
Không nhiều các khu đô thị được
quy hoạch đồng bộ, mới chỉ có các
khu để ở
9
Thăng Long – Hà Nội với nghìn năm lịch sử phong phú; hào hùng, với văn
hoá được tích luỹ nhiều đời, không phải thủ đô nào trên thế giới cũng có được.
Hà Nội không nhất thiết phải lựa chọn mô hình đầu tàu kinh tế, việc mà nhiều
địa phương có nhiều thuận lợi và có khả năng làm tốt hơn Hà Nội nhiều.
Mặt khác, mô hình đô thị cực lớn với động lực công nghiệp là một mô hình
đô thị đã cũ, nhiều sai lầm mà phương Tây đang phải từ bỏ. Chính những
thành phố có hàm lượng văn hoá cao, có đời sống đô thị giàu tính nhân văn, có
thiên nhiên trong lành, có nhịp sống hợp lý, làm giàu bằng kinh tế tri thức mới là
mô hình mà các nước đi trước chúng ta đang tìm kiếm.
Hà Nội có đủ những yếu tố, đủ để xây dựng cho mình một thành phố như
thế. Thay vì, chọn một mô hình đô thị khổng lồ với vô vàn vấn nạn, từ tắc
nghẽn giao thông đến ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, thị trường đất đai rối
loạn cản trở phát triển kinh tế như nhiều đô thị lớn trên thế giới đang gặp. Hà
Nội nên chọn cho mình mô hình một thành phố lịch sử, văn hoá, đầu tàu về
khoa học – kỹ thuật tiên tiến, có quy mô vừa phải, hợp lý, có môi trường đô thị
trong lành, văn minh, công bằng, dân chủ, đủ năng lực khai thác, ứng dụng
những thành tựu khoa học tiên tiến của thời đại trong xây dựng, quản lý vận
hành, ngõ hầu tạo dựng một môi trường sống lý tưởng. Một mô hình đô thị
không cần nhiều đất đai mà cần nhiều hơn những giá trị đạo đức, nhân văn,
nhân tài và chất xám. Đấy mới chính là “Hướng nhìn - Tầm nhìn” của nghìn
năm Thăng Long và của thời đại.
Hà Nội phải là nơi làm gương cho cả
nước trong việc quy hoạch và xây dựng
một thành phố nhân ái, văn minh mà vẫn
giàu có, năng động; sẵn sàng thích ứng
với mọi đổi thay của thời cuộc và tạo ra
cho chính mình những bản sắc, bản sắc
của một Thủ đô Việt Nam.
Dân số đô thị ở Việt nam hiện nay có
khoảng 15 triệu với tỉ lệ đô thị hoá
1 gian bếp của người nghèo ở
phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, HN
10
khoảng 25%, thuộc loại thấp trong khu vực ASEAN và trên thế giới. Dự báo về
tốc độ đô thị hoá ở Việt Nam trong 10-20 năm tới, sẽ dao động trong khoảng
30-45%, dân số đô thị lên tới trên 45 triệu ngườ . Hiện nay Việt Nam có khoảng
700 điểm đô thị được hình thành chủ yếu – rõ nét từ 300 – 400 năm nay và
được phân loại theo 5 cấp (từ đô thị đặc biệt đến đô thị loại 5).
Những đặc điểm nổi bật của quá trình đô thị hoá ở Việt nam – sự hình thành
theo mô hình chuyển hóa kinh tế - xã hội và đặc trưng về văn hóa, địa lí của
từng Vùng. Những đô thị Việt Nam chủ yếu được hình thành từ chế độ phong
kiến và được mở rộng theo kiểu mẫu qui hoạch thuộc địa của Pháp. Những đô
thị này được tiếp tục chịu ảnh hưởng của mô hình qui hoạch đô thị từ các nước
Đông âu trong các giai đoạn tiếp theo và đang được quy hoạch, quản lí theo
mô hình tập trung, chịu khống chế nhiều từ trung ương hay cấp tỉnh, thành phố.
Hiện nay, các đô thị ở Hà Nội đang có xu hướng mời chuyên gia nước ngoài để
lập mô hình phát triển các thành phố theo các nước đã phát triển. Ranh giới và
sự liên kết giữa nông thôn và thành thị không rõ nét, tạo ra hiện tượng đô thị
hoá gi tạo và thiếu việc làm tại khu vực nông thôn, từ đó đã tạo ra làn sóng di
dân tự do vào khu vực đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn và trung bình. Nhìn
chung, tốc độ đô thị hoá chậm - kéo dài và chịu nhiều ảnh hưởng của tốc độ
tăng trưởng kinh tế. Cấu trúc không gian đô thị trong quá trình chuyển hoá dễ
chấp nhận xu hướng hoà nhập – thậm chí mang phong cách “nhập khẩu” từ
nước ngoài hay từ các vùng đồng bằng sang các khu vực miền núi, nhưng vẫn
còn lưu giữ yếu tố chính về cấu trúc không gian và lối sống truyền thống.
Hướng tới mô hình Đô thị tương thích trong quá trình đô thị hóa. Đề xuất
một dạng đô thị có thể có kh ả năng biến đổi một cách tương thích với sự thay
đổi của sinh thái tự nhiên, bối cảnh kinh tế xã hội, nhu cầu của người dân đô
thị, tuỳ theo đặc trưng của từng vùng đô thị khác nhau về văn hoá, khả năng
đầu tư, trình độ quản lí. Đô thị tương thích là một kiểu mô hình phát triển được
dựa trên khả năng biến đổi tổng hợp của từng đô thị.
Do tính chất tập trung dân cư và thành phần phức tạp của các nhóm dân cư
đô thị, những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay đều được phát sinh và phát
triển ở các trung tâm đô thị lớn: trộm cắp, giết người, nghiện hút, mãi
dâm Vấn đề nhà ở: với tốc độ tăng dân số đô thị như hiện nay thì vấn đề nhà
11
ở đô thị trở nên khủng hoảng. Dân số đô thị tăng nhanh trong khi quy họach đô
thị không phát triển đồng bộ dẫn đến việc thiếu nhà ở cho người dân đô thị là
đương nhiên.
Các khu ổ chuột
hình thành là do sự
đáp ứng không đủ
nhu cầu nhà ở cho
người dân đô thị, đặc
biệt là tầng lớp nghèo
của đô thị và những
người mới nhập cư
từ nông thôn.Các khu
ổ chuột không chỉ
làm mất mỹ quan đô
thị, mà vấn đề vệ
sinh môi trường ở đây cũng đáng được lưu tâm. Vấn đề kém vệ sinh, xả rác,
thiếu hụt thiết bị tiện nghi như nhà vệ sinh, nước thải sinh hoạt gây ảnh hưởng
trực tiếp đến vấn đề ô nhiễm môi trường và giảm chất lượng cuộc sống đô thị.
Nét nổi bật trong quá trình đô thị hóa ở Hà Nội là quá trình tập trung dân cư
đô thị. Năm 2007, quy mô dân số của Hà Nội là 3.398,9 nghìn người, tăng 1,12
lần so với năm 2001, trong đó, dân số thành thị gia tăng nhanh (xấp xỉ 1,3 lần
so với năm 2001), nhưng dân số
nông thôn lại có xu hướng giảm.
Nguyên nhân chủ yếu của tình
trạng này là sự gia tăng cơ học từ
nông thôn ra thành thị. Trung bình
mỗi ngày có hàng nghìn người từ
các địa phương về Hà Nội để tìm
kiếm việc làm, sinh sống và thụ
hưởng các dịch vụ đô thị. Quy mô
dân số mở rộng đã làm cho mật độ
dân số tăng nhanh và mất cân đối.
12
Năm 2007, mật độ dân số toàn thành phố là 3.490 người/km², trong đó mật độ
cao nhất là ở các quận nội thành.
Cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, trong giai đoạn 2001-2007, Hà
Nội cũng đạt mức tăng trưởng cao với mức tăng bình quân 11,5%/năm. Các
ngành kinh tế đều tăng khá, trong đó giá trị sản phẩm công nghiệp bình quân
tăng 12,7%/năm, dịch vụ tăng 10,5%/năm và nông nghiệp tăng 2,7%/năm. Cơ
cấu ngành kinh tế có chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Tỷ trọng ngành công nghiệp tăng từ
38,5% năm 2001 lên 41,5% năm 2007, trong khi tỷ lệ này ở nhóm ngành nông
nghiệp giảm từ 3,8% xuống còn 2,7%. Các ngành công nghiệp chế biến và
công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu như: Cơ khí, điện tử, may mặc, giày
dép… đang được đầu tư phát triển. Tuy nhiên, các sản phẩm trên đều tiêu thụ
nhiều nguyên liệu, quá trình sản xuất gây ô nhiễm nên đã có những tác động
tiêu cực tới môi trường không khí ở Hà Nội.
Một là, hoạt động sản xuất công nghiệp:Với tốc độ tăng trưởng bình quân
12,7%/năm , hoạt động sản xuất công nghiệp được coi là một trong những
nguồn chính gây ô nhiễm môi trường không khí ở Hà Nội. Kết quả điều tra 400
cơ sở công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố cho thấy: Gần 200
cơ sở có tiềm năng thải các chất thải gây ô nhiễm không khí, trong đó chủ yếu
là các cơ sở công nghiệp cũ (được xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ XX)
với công nghệ lạc hậu và hầu như chưa có thiết bị xử lý khí thải độc hại. Trước
đây, các cơ sở này nằm ở ngoại thành hay ven nội, thì nay đã nằm ngay trong
nội thành, giữa các khu dân cư đông đúc do quá trình mở rộng ranh giới đô thị.
Những cơ sở mới được xây dựng tập trung ở các khu công nghiệp, nhưng
chưa xử lý triệt để các khí thải độc hại nên vẫn gây ô nhiễm môi trường xung
quanh. Các khí thải độc hại phát sinh
từ những cơ sở này chủ yếu do quá
trình chuyển hóa năng lượng (đốt
than, xăng và dầu các loại). Theo Sở
Tài nguyên, Môi trường và Nhà đất Hà
Nội, hàng năm các cơ sở công nghiệp
ở Hà Nội tiêu thụ khoảng 240.000 tấn
13
than, 250.000 tấn xăng, dầu và thải vào bầu không khí hơn 80.000 tấn bụi khói,
10.000 tấn khí SO2, 19.000 tấn khí NO2, 46.000 tấn khí CO, gây ảnh hưởng
xấu đến chất lượng môi trường không khí một số khu vực của thành phố. Trong
đó, các cơ sở sản xuất thuộc ngành hoá chất, dệt và chế biến thực phẩm gây ô
nhiễm lớn nhất.
Hai là, các hoạt động giao thông vận tải: Trong thời gian qua, số lượng các
phương tiện giao thông ở Hà Nội tăng nhanh. Năm 2001, thành phố có gần 1
triệu xe máy và hơn 100.000 ô tô. Cuối năm 2007, con số này đã tăng gấp đôi,
với khoảng 1,9 triệu xe máy và 200.000 ô tô. Tốc độ phát triển của các phương
tiện giao thông giai đoạn 2001-2007 là 12%/năm đối với xe ô tô, 15%/năm đối
với xe máy. Nguyên nhân của sự gia tăng này là do phát triển kinh tế và mở
rộng quy mô dân số, làm tăng nhu cầu đi lại. Theo đánh giá của các chuyên gia
môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm tỷ lệ khoảng
70%. Lưu lượng xe lớn và chất lượng nhiên liệu sử dụng chưa tốt (hàm lượng
benzen khoảng 5% so với 1% ở các nước trong khu vực; hàm lượng lưu huỳnh
trong diezen chiếm từ 0,5-1% so với 0,05% ở các nước trong khu vực) là
những nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm.
Ba là, các hoạt động xây dựng đô thị và sinh hoạt cộng đồng: Quá trình đô
thị hóa đang diễn ra mạnh với các hoạt động xây dựng mới, sửa chữa và cải
tạo nhà ở; mở rộng và nâng cấp hệ thống giao thông. Theo số liệu thống kê,
trên địa bàn Hà Nội luôn có trên 1.000 công trình xây dựng lớn nhỏ được thi
công; mỗi tháng có khoảng 10.000 m2 đường bị đào bới (để thi công các công
trình hạ tầng kỹ thuật). Các hoạt động xây dựng này thường xuyên phát tán bụi
vào môi trường, khiến cho tình trạng ô nhiễm không khí thêm trầm trọng. Bên
cạnh đó, hoạt động sinh hoạt của nhân dân cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
môi trường không khí (đun nấu bằng than, dầu, đặc biệt là than tổ ong), ước
tính góp vào khoảng 10% chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí ở Hà
Nội.
Hiện trạng môi trường không khí:
Ô nhiễm bụi: Giống như nhiều đô thị
khác trong cả nước, Hà Nội bị ô nhiễm bụi
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét