Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện công tác hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp thuộc khối công nghiệp trên địa bàn Hà Nội doc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu LUẬN VĂN: Hoàn thiện công tác hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp thuộc khối công nghiệp trên địa bàn Hà Nội doc": http://123doc.vn/document/1045683-tai-lieu-luan-van-hoan-thien-cong-tac-hoan-thue-gtgt-doi-voi-cac-doanh-nghiep-thuoc-khoi-cong-nghiep-tren-dia-ban-ha-noi-doc.htm



đem xuất khẩu, về mặt nguyên tắc thuế gián thu không điều tiết, do vậy được hoàn
toàn bộ số thuế đầu vào đã trả nằm trong những hàng hoá đó.
Đối với những loại hàng hoá được mua bằng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ
không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân người nước ngoài thì được hoàn số thuế nằm
trong giá cả của hàng hoá đó, vì mục đích sử dụng những hàng hoá này mang tính
nhân đạo như cứu giúp đồng bào bị thiên tai, lũ lụt,
- Thực hiện phát triển kinh tế theo định hướng của Nhà nước.
Ví dụ: nhằm khuyến khích phát triển lĩnh vực xuất khẩu, trong Luật thuế GTGT
Nhà nước quy định thuế suất bằng 0% đối với loại hàng hoá này, có nghĩa là thuế đầu
ra không những không phải đóng mà còn được hoàn lại toàn bộ số thuế đầu vào
nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế.
Trong Luật thuế xuất nhập khẩu, Nhà nước cho phép hoàn thuế nhập khẩu cho
nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu, hàng gia công cho nước ngoài.
Trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước thực hiện hoàn thuế cho các
nhà đầu tư nước ngoài dùng lợi nhuận để tái đầu tư…
1.3. Các yêu cầu cần thiết của công tác hoàn thuế:
Để thực hiện hoàn thuế đảm bảo cho các mục đích nói trên thì cả cơ quan thuế
và ĐTNT phải chấp hành tốt các quy định trong công tác hoàn thuế. Nếu thực hiện
không tốt, một mặt sẽ không đáp ứng được các mục đích của hoàn thuế, mặt khác sẽ
gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế xã hội như:Nhà nước sẽ thất thoát
nguồn thu khi phải chi ra nhiều hơn số tiền hoàn thuế, doanh nghiệp không được trả
vốn kịp thời để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh tạo đà cho các hành vi gian dối
của ĐTNT, hoặc là gây ra sự mất công bằng giữa các ĐTNT…Vì vậy, công tác hoàn
thuế phải được thực hiện đúng và đầy đủ các yêu cầu sau:
1.3.1. Yêu cầu đối với đối tượng nộp thuế (ĐTNT):
- Thực hiện đúng, đầy đủ nội dung quy định của các Luật thuế. Đối với các
trường hợp thuộc diện được hoàn thuế thì phải lập hồ sơ xin hoàn thuế. Hồ sơ phải
được lập một cách đầy đủ, đảm bảo phản ánh chính xác, trung thực tình hình thực tế

kinh doanh của doanh nghiệp đúng như các căn cứ quy định. Các số liệu tự kê khai
trong hồ sơ phải bảo đảm tính chính xác, trung thực, mọi sai sót doanh nghiệp phải
hoàn toàn chịu trách nhiệm.
- Chấp hành đầy đủ các yêu cầu của cơ quan thuế và các cơ quan có thẩm quyền
trong quá trình thực hiện công tác hoàn thuế.
1.3.2. Yêu cầu đối với cơ quan thuế:
- Phải tiến hành kiểm tra, xem xét các trường hợp hoàn thuế một cách thận
trọng, kỹ lưỡng để tránh tình trạng ĐTNT làm sai quy định.
- Xem xét, tính toán xác định số thuế được hoàn theo từng trường hợp hoàn
thuế.
- Tiến hành hoàn thuế kịp thời, đảm bảo cho đối tượng nộp thuế khắc phục kịp
thời tình trạng khó khăn, đồng thời tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế kinh doanh
có hiệu quả hơn.
2. Thuế GTGT và hoàn thuế GTGT theo quy định hiện hành ở Việt Nam:
2.1. Một số vấn đề cơ bản về thuế GTGT:
2.1.1. Khái niệm, bản chất:
Thuế GTGT ở trong tiếng Pháp được gọi là Taxe Sur la Valeur Ajoutéc (TVA),
ở trong tiếng Anh thì được gọi là Value Added Tax (VAT). Nó có nguồn gốc từ thuế
doanh thu và được một người Đức tên là CARL FRIEDRICH VON SIEMENS
nghiên cứu đầu tiên và đưa ra vào năm 1918. Tuy nhiên trên thực tế thuế GTGT lại ra
đời đầu tiên tại Pháp và đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành
nguồn thu quan trọng của Chính Phủ nhiều nước. Nếu như vào giữa năm 1988 mới
chỉ có 47 nước áp dụng thuế GTGT thì đến tháng 7/1991 đã có tới 56 nước, và cho
đến hiện nay thì đã có trên 100 quốc gia đưa thuế GTGT vào hệ thống thuế khoá của
nước mình. Tại Việt Nam, thuế GTGT được nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách
thuế bước 1 vào năm 1990, áp dụng thử nghiệm năm 1993 ở 11 đơn vị (trong các
ngành đường, dệt, xi măng, ), ban hành Luật và được thông qua tại kỳ họp thứ 11
Quốc hội khoá 9 (từ ngày 2/4 đến ngày 10/5/1997) và được áp dụng chính thức từ
ngày 1/1/1999.

Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ. Nó
được tính theo từng giai đoạn sản xuất đối với phần chênh lệch doanh thu của một doanh
nghiệp so với những gì mà doanh nghiệp đã mua của các doanh nghiệp khác, tức là đánh
vào giá trị tăng lên tại doanh nghiệp. Về thực chất, thuế GTGT là một loại thuế đánh vào
người tiêu dùng thông qua việc trả tiền mua hàng hoá, dịch vụ, người sản xuất kinh doanh
chỉ là người nộp thuế thay cho người tiêu dùng.
Như khái niệm đã được ghi trong Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 ngày
10/5/1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật VAT số 07/2003/QH11
ngày 17/6/2003 thì: " Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng
hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng".
Thuế GTGT ra đời đã khắc phục được việc đánh thuế trùng lắp của thuế doanh
thu. Vì chỉ tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ ở từng khâu bàn
hàng mà không đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước cho nên cách tính
thuế GTGT là rất khoa học, rất cần thiết đối với phát triển sản xuất theo hướng Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta hiện
nay.
2.1.2. Đặc điểm cơ bản của thuế GTGT:
- Thuế GTGT là loại thuế gián thu, người nộp thuế là những cơ sở sản xuất kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ, còn người chịu thuế là người sử dụng cuối cùng của hàng
hoá, dịch vụ đấy.
- Thuế GTGT là loại thuế đánh nhiều giai đoạn nhưng chỉ vào phần giá trị tăng
thêm của từng giai đoạn đó, tổng số thu của các giai đoạn ngang bằng với số thuế đầu
ra ở khâu cuối cùng (tiêu dùng).
- Thuế GTGT có tính trung lập cao bởi lẽ nó là khoản thu hộ cho Nhà nước ở
người mua hàng hoá, dịch vụ bằng cách cộng thêm vào giá bán hàng. Vì vậy, nó
thường được xây dựng với ít mức thuế suất, không có sự phân biệt phức tạp giữa
các loại hàng hoá, dịch vụ nên việc tính thuế cũng đơn giản hơn so với thuế doanh
thu.

- Thuế GTGT được thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc căn
cứ vào hoá đơn mua, bán hàng để tính thuế. Vì vậy mà nó khuyến khích các cơ sở
sản xuất, kinh doanh khi mua hàng phài lấy hoá đơn và khi bán hàng thì phải xuất
hoá đơn theo đúng quy định, đó chính là sự kỷ luật của hoá đơn chứng từ.
- Thuế GTGT có thể đem lại số thu thường xuyên, ổn định cho Ngân sách
Nhà nước, nó có phạm vi rất rộng và thường được xây dựng căn cứ vào công dụng
vật chất của sản phẩm không phân biệt người mua và dùng vào mục đích gì. Nó có
đối tượng thu là toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh kể cả gia công, chế biến
và hoạt động dịch vụ có thu tiền, nó đánh vào các sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong
nước kể cả hàng hoá nhập khẩu. Phần lớn các nước áp dụng thuế GTGT thường
chiếm tỷ trọng lớn khoảng từ 20% đến 30% trong tổng số thu Ngân sách Nhà nước,
xấp xỉ 5% - 10% GDP.
- Thuế GTGT còn có một ưu điểm nữa là: các đối tượng nộp thuế tự động
kiểm soát lẫn nhau, mỗi đối tượng muốn khấu trừ số thuê GTGT trên số hàng mua,
và số thuế trên số hàng bán thì phải chứng minh số mua và số liên hệ. Vì vậy, mỗi
đối tượng nộp thuế phải cố kiểm soát xem những nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho
mình có khai nộp đầy đủ thuế GTGT hay không bằng cách họ đòi cấp hoá đơn hoặc
biên nhận thu tiền có ghi thu số thuế GTGT liên hệ.
- Bên cạnh những ưu điểm kể trên thì thuế GTGT còn có những nhược
điểm như: việc hạch toán và quản lý thuế tương đối phức tạp, nhất thiết phải có hoá
đơn, chứng từ trong mua bán hàng hoá, dịch vụ, phải theo dõi thuế đầu ra, đầu vào,
khấu trừ hoặc thoái trả thuế.
- Một nhược điểm nữa là thuế GTGT có ít mức thuế suất nên người tiêu
dùng có thu nhập cao hay thấp vẫn phải nộp thuế giống nhau, thuế mang tính luỹ
thoái so với thu nhập cho nên thường thiếu công bằng. Tính chất này xuất phát từ quy
luật giảm dần của thiên hướng tiêu dùng. Khi thu nhập tăng lên thì tiêu dùng cũng
tăng lên nhưng tốc độ tăng của tiêu dùng sẽ chậm hơn tốc độ tăng của thu nhập.
Trong điều kiện đó tỉ suất thuế tiêu dùng trung bình so với thu nhập có xu hướng

giảm đi khi thu nhập tăng lên. Người có thu nhập cao sẽ có tỉ suất thuế tiêu dùng trên
tổng thu nhập càng nhỏ.
2.1.3. Nội dung cơ bản của Luật thuế GTGT hiện hành ở Việt Nam:
2.1.3.1. Đối tượng nộp thuế:
Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu
thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh
(gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá,
mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập khẩu) đều là
đối tượng nộp thuế GTGT.
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ bao gồm:
- Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật
doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước và Luật hợp tác xã.
- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các
tổ chức khác.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp
tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các tổ chức, cá nhân nước
ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh
doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu.
2.1.3.2. Đối tượng chịu thuế:
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hoá, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở
nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế (có 29 đối tượng không chịu thuế
GTGT được nêu tại mục II, phần A thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003
của Bộ tài chính).


2.1.3.3. Căn cứ tính thuế:
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.
a) Giá tính thuế:
- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra hoặc cung ứng
cho đối tượng khác là giá bán chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hoá, dịch vụ chịu
thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế
GTGT.
- Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng với thuế
nhập khẩu (nếu có), cộng thuế TTĐB (nếu có). Giá nhập khẩu tại cửa khẩu làm
căn cứ tính thuế GTGT được xác định theo các quy định về giá tính thuế hàng
hoá nhập khẩu.
Trường hợp hàng hoá nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá
tính thuế GTGT là giá hàng hoá nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu xác định
theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn, giảm.
- Sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu tặng hoặc để trả thay
lương thì giá tính thuế GTGT được xác định theo giá tính thuế của sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm phát sinh các
hoạt động này.
- Ngoài ra, giá tính thuế GTGT đối với một số trường hợp khác cũng được quy
định cụ thể ở trong Luật thuế GTGT.
b) Thuế suất:
Có 3 mức thuế suất:
- Thuế suất 0% (nhóm khuyến khích cao nhất): áp dụng đối với hàng hoá, dịch
vụ xuất khẩu, hoạt động xây dựng, lắp đặt các công trình ở nước ngoài và công trình
của doanh nghiệp chế xuất. Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả hàng gia công
xuất khẩu; hàng hoá bán cho cửa hàng miễn thuế; hàng hoá, dịch vụ không thuộc
diện chịu thuế GTGT xuất khẩu (trừ dịch vụ du lịch lữ hành ra nước ngoài, dịch vụ
tái bản hiểm ra nước ngoài, dịch vụ tín dụng, đầu tư tài chính, đầu tư chứng khoán ra

nước ngoài và hàng hoá, dịch vụ quy định tại Điểm 23, Điểm 27, mục II phần A
Thông tư số 120/2003/TT-BTC).
Hàng hoá xuất khẩu bao gồm xuất khẩu ra nước ngoài kể cả uỷ thác xuất khẩu,
bán cho doanh nghiệp chế xuất và các trường hợp được coi là xuất khẩu theo quy
định của Chính phủ.
Dịch vụ xuất khẩu là dịch vụ được cung cấp trực tiếp cho tổ chức, cá nhân ở
nước ngoài và được tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam nếu có đủ điều kiện: cơ sở
cung cấp dịch vụ phải có hợp đồng ký với người mua ở nước ngoài theo quy định của
Luật thương mại, người mua nước ngoài thanh toán tiền dịch vụ cho cơ sở cung cấp
dịch vụ tại Việt Nam.
Hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% phải có các hồ sơ, chứng từ
chứng minh là hàng thực tế đã xuất khẩu và thanh toán qua ngân hàng ( hợp đồng
kinh tế, tờ khai hải quan, thanh toán qua ngân hàng, hoá đơn GTGT).
- Thuế suất 5% (nhóm khuyến khích thứ hai):
+ Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt, phân bón, thiết bị máy móc và dụng
cụ chuyên dùng cho y tế, giáo cụ giảng dạy, đồ chơi trẻ em, thuốc chữa bệnh, in các
loại sản phẩm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, các loại sách (trừ sách không
chịu thuế GTGT), băng từ và đĩa đã ghi hoặc chưa ghi chương trình, đường, đất, đá,
cát, sỏi, than, đá mài, khuôn đúc, vật liệu nổ, giấy in báo, hoá chất cơ bản, sản phẩm
cơ khí (trừ cơ khí tiêu dùng), sắt, thép, nhôm thanh, máy xử lý dữ liệu, mủ cao su sơ
chế, nhựa thông sơ chế, sản phẩm bê tông công nghiệp,
+ Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản chưa qua chế biến; thực
phẩm tươi sống, lương thực, lâm sản (trừ gỗ, măng) chưa qua chế biến ở khâu thương
mại, sản phẩm bằng đay, cói, tre, song, mây, nứa Bông sơ chế từ bông trồng trong
nước (trừ bông nhập khẩu đã qua sơ chế), thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật
nuôi khác bao gồm các loại đã hoặc chưa được chế biến tổng hợp…
+ Dịch vụ khoa học và công nghệ bao gồm các hoạt động ứng dụng, hướng dẫn
về khoa học, kỹ thuật; dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, dịch vụ vận

tải, bốc xếp, nạo vét cảng sông, biển; dịch vụ duy tu, sửa chữa, phục chế di tích lịch
sử, văn hoá, bảo tàng; dịch vụ phát hành và chiếu phim video…
- Thuế suất 10% (mức thuế tiêu chuẩn):
Bao gồm các loại hang hoá, dịch vụ khác không quy định ở nhóm thuế suất 0%
và 5% hay trường hợp miễn thuế (từ 1/1/2004 bổ sung nhóm thuế suất 10%). Hàng
hoá chịu thuế TTĐB, xây dựng, lắp đặt, cho thuê hạ tầng.
2.1.3.4. Phương pháp tính thuế GTGT:
a) Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng:
* Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT là:
- Cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình
thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều
kiện về kế toán, hoá đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ
thuế (nhà thầu nước ngoài nộp thuế theo thông tư 169 và thông tư 05 thuế nhà thầu
nước ngoài)
* Xác định thuế GTGT phải nộp:

Số thuế GTGT
phải nộp
=
GTGT của hàng hoá
dịch vụ chịu thuế
x
Thuế suất thuế
GTGT của hàng hoá đó


GTGT của
hàng hoá
dịch vụ
=
Doanh số của
hàng hoá
dịch vụ bán ra
-
Giá vốn của hàng hoá
dịch vụ bán ra

Giá trị gia tăng xác định đối với một số ngành nghề kinh doanh như sau:
- Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh bán hàng là số chênh lệch giữa
doanh số bán với doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất,
kinh doanh. Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán được doanh số vật
tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng với doanh số hàng bán ra thì xác định
như sau:

Giá vốn hàng bán ra = Doanh số đầu kỳ + Doanh số tồn đầu kỳ + Doanh số mua
trong kỳ - Doanh số tồn cuối kỳ
- Đối với xây dựng, lắp đặt là số chênh lệch giữa tiền thu về xây dựng, lắp đặt
công trình, hạng mục công trình - Chi phí vật tư, nguyên liệu, chi phí động lực, vận
tải, dịch vụ và chi phí khác mua ngoài để phục vụ cho hoạt động xây dựng, lắp đặt
công trình, hạng mục công trình.
- Đối với hoạt động vận tải là số chênh lệch giữa tiền thu cước vận tải, bốc xếp -
chi phí xăng dầu, phụ tùng thay thế và chi phí khác mua ngoài dùng cho hoạt động
vận tải.
Ngoài ra còn một số hoạt động khác được nêu cụ thể ở trong Luật thuế GTGT.
b) Phương pháp khấu trừ thuế:
* Đối tượng áp dụng:
- Là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh
nghiệp Nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và các đơn vị tổ chức kinh doanh khác, trừ các đối tượng áp dụng tính
thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT ở trên
- Một số đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp như nhà
thầu nước ngoài có thể chuyển sang áp dụng phương pháp khấu trừ nếu:
+ Có đầy đủ hoá đon, chứng từ
+ Ghi chép hạch toán sổ kế toán đúng chế độ kế toán Việt Nam
+ Kê khai nộp thuế GTGT đúng chế độ
Ngược lại, các công ty không tuân thủ đúng các điều kiện trên sẽ phải nộp thuế
theo phương pháp trực tiếp
 Xác định thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT
phải nộp
=
Thuế GTGT
đầu ra
-
Thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ


Thuế GTGT
đầu ra
=
Giá bán chưa
có thuê
x
Thuế suất thuế
GTGT


- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ
thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ
bán ra. Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán
chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán. Trường hợp hoá
đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT
của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ
- Thuế GTGT đầu vào = tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua
hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng
hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng
dẫn của Bộ tài chính áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động
kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam.
- Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ đặc thù ghi
giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào giá đã có thuế và
phương pháp tính nêu tại Điểm 14, Mục I, phần B của thông tư số 120/2003/TT-BTC
để xác định giá không có thuế và thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
- Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ
dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ sử dụng chung cho sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT nhưng cơ sở không hạch toán riêng
được thuế đầu vào được khấu trừ, thì thuế đầu vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ %
doanh số của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hoá
dịch vụ bán ra.
- Thời gian khấu trừ thuế đầu vào: ngay trong tháng phát sinh và tháng kế tiếp
chậm nhất không quá 3 tháng kể từ thời điểm kê khai.

2.1.4. Tác dụng của thuế GTGT:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét