Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN VIỆT NAM

CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 1.Tuổi của lao động nông nghiệp Hàn Quốc 22
Đồ thị 2.Thay đổi cơ cấu GDP và việc làm ở Trung Quốc 25
Đồ thị 3.Dân số và lao động nông thôn cả nước 48
Đồ thị 4.Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế ở nông thôn 49
Đồ thị 5.Lực lượng lao động cả nước và lực lượng lao động nông thôn 50
Đồ thị 6.Tăng trưởng GDP, GDP nông nghiệp và lao động ở nông thôn 51
Đồ thị 7.Chất lượng lao động theo trình độ văn hóa ở nông thôn 51
Đồ thị 8.Tỷ trọng lao động có trình độ ở nông thôn 52
Đồ thị 9.Cơ cấu kinh tế 1995-2004 53
Đồ thị 10.Cơ cấu lao động di cư đi và đến của cả nước phân theo vùng 63
Đồ thị 11.Di cư tính theo địa bàn của nơi đi 64
Đồ thị 12.Tỷ lệ lao động di cư theo giới tính 64
Đồ thị 13.Phân bố lao động di cư theo độ tuổi 66
Đồ thị 14.Cơ cấu lao động di cư theo giới và tuổi 67
Đồ thị 15.Cơ cấu lao động di cư nông thôn theo trình độ văn hoá ở nơi đến 69
Đồ thị 16. Lý do lao động nông thôn di cư theo vùng 69
DANH SÁCH CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ 1: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở nông thôn năm 2001 55
Bản đồ 2: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở nông thôn năm 2004 57
Bản đồ 3: Thay đổi về tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở nông thôn 96-04 58
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.Các mối liên kết giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp 11
Hình 2.Phân bổ thời gian của hộ nông dân với hoạt động phi nông nghiệp 17
Hình 3. Phân bổ thời gian của hộ nông dân không có hoạt động phi nông nghiệp 19
Hình 4.Nhân tố quyết định của hoạt động phi nông nghiệp 20
DANH SÁCH CÁC HỘP
Biểu 1.Kết quả thực hiện phát triển cụm công nghiệp đến 1997 của Hàn Quốc 24
Biểu 2.Lao động được thu hút vào lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn Trung Quốc25
Biểu 3.Dân số, lao động của Thái Lan 2000-2004 27
Biểu 4.Cơ cấu dân số nông thôn và cơ cấu GDP theo ngành 28
Biểu 5. Lao động nhập cư vào Malaysia làm việc 31
Biểu 6.Các chính sách đất đai có tác động đến cơ cấu lao động nông thôn 39
Biểu 7.Một số chính sách về tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực nông thôn 44
Biểu 8. Số lượng lao động Việt Nam thời kỳ 1996-2004 50
Biểu 9.Tổng sản phẩm (GDP) cả nước của các ngành sản xuất 53
Biểu 10.Cơ cấu lực lượng lao động có việc làm 54
Biểu 11. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp 1996-2004 59
Biểu 12.Cơ cấu lao động phi nông nghiệp theo vùng 59
Biểu 13.Cơ cấu lao động tự làm của các vùng và cả nước 60
Biểu 14.Cơ cấu lao động làm thuê nông thôn của các vùng 61
Biểu 15. Số lao động di cư đi và đến theo vùng trong cả nước 62
Biểu 16. Cơ cấu lao động nông thôn di cư theo vùng và theo nơi điều tra 65
Biểu 17.Cơ cấu lao động di cư theo độ tuổi 66
iii
CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
Biểu 18.Cơ cấu lao động di cư theo độ tuổi theo nơi điều tra 66
Biểu 19.Cơ cấu lao động di cư theo trình độ văn hoá 68
Hộp 1: Thu nhập không phải là tất cả mà giữ nghề cho con cháu cũng quan trọng 72
Hộp 2. Vì có làng nghề không nghĩ đến chuyển đổi công việc 73
Hộp 3. Thu nhập từ nông nghiệp quá thấp nên phải giữ việc làm ở nhà máy 76
Hộp 4: Tôi không có việc gì làm sau khi tái định cư 79
Hộp 5: “Tốt nhất là làm phi nông nghiệp ở tại địa phương” 80
Hộp 6: Hết đất chúng tôi buộc phải làm nghề khác 82
Biểu 20.Các biến số sử dụng trong mô hình 97
Biểu 21.Kết quả mô hình với các biến vế đặc điểm của người lao động 102
Hộp 7: Nếu có đủ ruộng, làm nông nghiệp cũng tốt 108
Biểu 22.Kết quả mô hình với các biến vế đặc điểm của hộ gia đình 111
Hộp 8: Sức ép của chi tiêu 115
Biểu 23.Kết quả mô hình với các biến vế đặc điểm của cộng đồng 119
iv
CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam thực hiện trong hai thập kỷ vừa qua đặc
trưng bởi những chính sách cải cách kinh tế, mở cửa nền kinh tế và chuyển sự vận
hành các quan hệ kinh tế theo hướng thị trường. Tăng trưởng kinh tế và sự ổn định
của môi trường kinh tế vĩ mô đã khẳng định tính đúng đắn của chính sách đổi mới.
Cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng công nghiệp hóa; xu hướng
này thể hiện đặc biệt rõ hơn trong 10 năm trở lại đây. Tỷ trọng nông nghiệp trong
tổng GDP của cả nước giảm dần, từ 27,18% năm 1995 xuống 24,37% năm 2000
và 21,76% vào năm 2004. Ở khu vực nông thôn, quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế cũng diễn ra mạnh mẽ. Tỷ trọng các ngành nghề phi nông nghiệp đã tăng
lên rõ rệt, đóng góp nhiều vào cải thiện và đa dạng hóa thu nhập của người dân.
Đi liền với thay đổi về cơ cấu kinh tế trong nông thôn là sự biến đổi về cơ cấu
của lực lượng lao động. Tuy nhiên thực tế cho thấy sự thay đổi đó rất chậm. Các
số liệu thống kê cho thấy sự thay đổi trong cơ cấu lao động của các ngành không
hoàn toàn diễn ra tỷ lệ thuận với GDP do các ngành đó tạo ra. Do năng suất lao
động trong các ngành công nghiệp lớn hơn trong nông nghiệp, tỷ trọng tăng lên
của lao động được thu hút vào khu vực công nghiệp thường thấp hơn mức tăng
của tỷ trọng GDP của ngành này so với nông nghiệp. Kết quả là một lực lượng lao
động lớn vẫn nằm ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở nông thôn
cao hơn ở khu vực thành thị kết hợp với tốc độ tăng việc làm ở nông thôn chậm
hơn đã dẫn đến càng làm tăng sức ép về việc làm ở khu vực nông thôn. Thêm vào
đó, năng suất lao động trong nông nghiệp thấp, đất đai nông nghiệp ngày càng bị
thu hẹp do các nhu cầu về phát triển các khu công nghiệp, các khu đô thị càng làm
cho thời gian nông nhàn tăng lên và sức ép về việc làm càng thêm gay gắt.
Trong thời gian qua, Việt nam đã có nhiều chính sách khác nhau nhằm thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung và chuyển dịch cơ cấu lao động
nông thôn nói riêng. Những chính sách này tập trung vào: xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn, cung cấp tín dụng, tăng khả năng tiếp cận tín dụng của nông dân cho
mục tiêu phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, khuyến khích phát triển các làng
1
CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
nghề, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn, đào tạo nghề v.v Những giải
pháp chính sách kể trên được đánh giá là đã góp phần không nhỏ vào cải thiện đời
sống kinh tế nông thôn và làm thay đổi cơ cấu lao động ở nông thôn. Tuy nhiên
một câu hỏi đặt ra là liệu những giải pháp chính sách này có thực sự là đòn bẩy, có
tính quyết định cho chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn trrong thời gian qua
cũng như trong thời gian tới hay không vẫn còn bỏ ngỏ?
Trên thế giới, đã có khá nhiều các nghiên cứu về đề tài chuyển dịch cơ cấu lao
động có thể kể đến như C. Cindy Fan (2002) về chuyển dịch ở Trung quốc; Colin
Green và Gareth Leeves về quá trình chuyển từ lao động phổ thông sang các lao
động có công việc ổn định ở Australia; Bhattacharya (2000) về di cư nông thôn
thành thị ở Ấn Độ; Haan Arjan và Ben Rogaly (2002); Lanzona về Philipnes v.v
Các nghiên cứu này phần nào đã phân tích nguyên nhân của chuyển dịch lao động
hoặc di cư từ nông thôn ra thành thị nhưng số các nghiên cứu phân tích mức độ tác
động của các nhân tố này đến khả năng di chuyển lao động giữa các ngành hoặc
các vùng cũng chưa thật nhiều.
Ở Việt nam vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động cũng được sự quan tâm
nhiều của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách. Lê Hồng Thái, 2002
nghiên cứu về thực trạng lao động việc làm nông thôn chỉ ra những nguyên nhân
dẫn đến dịch chuyển chậm lao động ở nông thôn là: việc phân bố dân cư không
đồng đều giữa các vùng, đất nông nghiệp/người quá thấp lại có xu hướng ngày
càng thấp hơn khiến nông dân có ít tích lũy cho phát triển sản xuất phi nông
nghiệp, chất lượng lao động ở nông thôn quá thấp dẫn đến khả năng chuyển đổi
nghề thấp. Thân Văn Liên và cộng sự (1997) phân tích thực trạng chuyển dịch
cơ cấu lao động thông qua di cư nông thôn-thành thành thị ở Hà nội và Huế cho
rằng các yếu tố kinh tế – xã hội yếu kém ở nông thôn là những lực đẩy và sự hấp
dẫn ở cuộc sống đông thị là những lực hút làm tăng sự di cư nông thôn thành thị
hiện nay. Nguyễn Văn Tài (1998) và Đỗ Văn Hoà (1999) đưa ra các kết luận
quan trọng là di dân là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội. Di
dân chịu sự tác động trực tiếp và gián tiếp của chính sách phát triển kinh tế xã
hội, chính sách phát triển vùng .v.v Các nghiên cứu về thị trường lao động của
Việt Nam như John Luke Gallup (2002), Adam McCarty (1999); Patrick Belser
(2000) cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm vừa qua
2
CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
không nằm ở những ngành dựa vào lao động nhưng nhận định rằng trong tương
lai sắp tới tăng trưởng kinh tế sẽ phụ thuộc nhiều hơn ở những ngành này.
Tổng kết những nghiên cứu trên cho thấy hầu hết các nghiên cứu về đề tài thị
trường lao động và những vấn đề liên quan ở Việt Nam chưa đề cập hoặc đã có đề
cập nhưng ở một mức độ còn tương đối sơ lược, sử dụng phương pháp thống kê
mô tả là chủ yếu. Việc phân tích sâu về vấn đề chuyển dịch lao động và đặc biệt là
các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch này ở Việt Nam trong thập kỷ vừa
qua còn tương đối ít. Ngoài ra, cũng ít có nghiên cứu nào đánh giá chung cho cả
quá trình chuyển dịch từ những năm 1993 trở lại đây.
Một đặc điểm quan trọng khác trong các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu
lao động thời gian qua đó là hầu như ít có nghiên cứu nào đánh giá vấn đề này trên
góc độ kinh tế hộ gia đình. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động mạnh
như một yếu tố tạo cầu cho lao động phi nông nghiệp và sẽ kéo theo quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên việc đánh giá nó nếu chỉ dừng trên bình
diện vĩ mô sẽ khó có những kết quả thỏa đáng. Về cơ bản việc chuyển dịch lao
động nói chung và chuyển dịch từ lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp nói
riêng gắn kết chặt chẽ vói những đặc điểm của người lao động, của hộ gia đình nơi
họ đang sinh sống cũng như của cộng đồng xung quanh hộ gia đình đó. Điều này
giúp giải thích được tại sao trong cùng một môi trường chính sách như nhau việc
chuyển dịch cơ cấu lao động ở các địa phương lại rất khác nhau. Hoặc ngay trong
cùng một địa phương, có những hộ phát triển được rất mạnh ngành nghề phi nông
nghiệp của mình nhưng lại có những hộ bị bỏ lại khá xa.
Quá trình công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế đang diễn ra nhanh chóng ở
Việt Nam càng làm cho các luồng di chuyển lao động, biến động về cơ cấu lao
động phát triển mạnh mẽ hơn và các vấn đề kinh tế - xã hội và khó khăn nảy sinh
ngày càng gay gắt. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm ở nông thôn
cũng ngày càng trở lên cấp thiết hơn. Những vấn đề đó đòi hỏi việc phân tích một
cách hệ thống các yếu tố ảnh hưởng và mức độ tác động của các yếu tố này đến
quá trình chuyển dịch lao động nông thôn. Nghiên cứu này được đặt ra để phần
nào trả lời các câu hỏi đó.
3
CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu
lao động nông thôn từ giữa thập kỷ 1990 đến nay, chỉ ra các yếu tố ngăn cản và
thúc đẩy quá trình chuyển dịch và đưa ra các đề xuất chính sách nhằm tác động
tích cực tới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát trên được chi tiết hóa bằng các mục tiêu cụ
thể sau:
• Mô tả thực trạng và xu thế chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn trong
10 năm qua: (a) giữa các ngành nghề công nghiệp, nông nghiệp và dịch
vụ; (b) Cơ cấu lao động giữa các hình thức tự tạo việc làm và làm thuê.
• Mô tả quá trình chuyển dịch lao động nông thôn ra thành thị (theo lứa
tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, chuyên môn tay nghề và
mức thu nhập…) trong 10 năm trở lại đây.
• Tổng kết và xem xét tác động của các nhóm chính sách liên quan đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu lao động nói chung và cơ cấu lao động nông
thôn nói riêng.
• Xác định các yếu tố chính ngăn cản và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ
cấu lao động nông thôn: (a) trong nội bộ nông thôn; (b) giữa nông thôn và
thành thị, trong đó tập trung vào tác động của các chính sách kể trên.
• Đề xuất các chính sách cụ thể nhằm tác động tích cực đến quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn.
1.3. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần giới thiệu, Đề tài được kết cấu thành bốn chương chính: Chương
một làm rõ về cơ sở lý thuyết, khung khổ nghiên cứu của đề tài. Trong đó làm rõ
các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu, những mô hình lý thuyết về mối liên
kết giữa hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp (dựa trên lý thuyết hai khu
vực của Lewis), về nhóm các yếu tố tác động đến chuyển lao động từ nông
nghiệp sang phi nông nghiệp. Đặc biệt phần này sẽ tóm lược lại mô hình kinh tế
hộ sử dụng trong trường hợp hộ tham gia vào họat động phi nông nghiệp- Đây là
những khung khổ lý thuyết chính được dùng để phân tích trong phần phân tích
định lượng của báo cáo. Cũng trong chương này, nhóm nghiên cứu điểm lại kinh
4
CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
nghiệm quốc tế về chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn trong đó tập trung
vào một số nước có tình trạng tương đồng như ở Việt nam nhằm làm rõ những
bài học mà trong quá trình phát triển các nước này đã gặp phải, những kinh
nghiệm hay mà Việt nam có thể tham khảo trong họach định chính sách thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn
Chương Hai của Đề tài tập trung phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao
động ở nông thôn Việt nam từ đầu những năm 1990 trở lại đây. Trong phần mở
đầu của Chương hai, Đề tài tập trung điểm lại những chính sách trực tiếp và gián
tiếp tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp nông thôn,
điểm lại những chương trình hỗ trợ của Nhà nước cho mục tiêp phát triển kinh tế
nông thôn nói chung và tạo việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn nói riêng.
Bằng phương pháp phân tích đồ thị kết hợp với các bảng biểu, Chương Hai tập
trung làm rõ xu hướng chuyển dịch lao động nông thôn hiện nay; đánh giá
những mặt tích cực và tiêu cực, mặt được và chưa được trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu lao động. Cũng trong Chương này, sử dụng số liệu Điều tra Di cư
mới nhất của Tổng cục Thống kê và số liệu Điều tra Lao động Việc làm, Đề tài
làm rõ thực trạng di cư lao động nông thôn-thành thị trong những năm gần đây,
cũng như phân tích về đặc điểm của người di cư và không di cư, trên cơ sở đó
rút ra những đặc điểm quan trọng là yếu tố tác động đến người di cư.
Chương Ba của Đề tài là chương chính trong nghiên cứu này. Bằng phương
pháp phân tích định lượng, sử dụng mô hình hồi quy đa biến Probit trong khuôn
khổ của Mô hình kinh tế hộ gia đình đề tài sẽ tập trung vào tìm hiểu các yếu tố
tác động đến quá trình chuyển dịch lao động ở nông thôn trong thời gian qua. Do
những hạn chế về mặt số liệu, Đề tài tập trung đánh giá các yếu tố chuyển dịch
trong hai giai đoạn 1993-1997 và 2001-2004 và không xét đến khía cạnh chuyển
dịch lao động trong nội bộ khu vực nông nghiệp. Trên cơ sở so sánh mô hình
ước lượng giữa các vùng, miền, giữa các loại hình chuyển dịch từ nông nghiệp
sang phi nông nghiệp, từ nông nghiệp sang làm thuê, sang lao động tự làm, từ
nông nghiệp sang công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, từ nông nghiệp sang họat
động dịch vụ ở nông thôn giữa hai thời kỳ khác nhau, Đề tài sẽ tổng kết những
5
CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
yếu tố cơ bản tác động đến việc tham gia lao động phi nông nghiệp của nông
dân.
Trên cơ sở của những phân tích của các Chương Một, Hai, Ba, Chương Bốn
của Đề tài sẽ tóm lược lại những phát hiện chính trong quá trình nghiên cứu, trên
cơ sở đó đề xuất các giải pháp chính sách thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
lao động nông thôn.
6
CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
CHƯƠNG MỘT
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NHIỆM QUỐC TẾ VỀ VẤN ĐỀ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU LAO ĐÔNG Ở NÔNG THÔN
1.1. Một số khái niệm
Thực tế hiện đang tồn tại nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về lao động
và việc làm nông thôn, đã có những khái niệm tương đối rõ và dễ dàng được chấp
thuận, nhưng cũng còn những khái niệm còn đang gây nhiều tranh cãi. Trong Đề
tài này Nhóm nghiên cứu không đi sâu vào phân tích nhằm đưa ra một khái niệm
mới liên quan đến lao động, việc làm nông thôn mà chỉ đề cập một số khái niệm
đã và đang được sử dụng hiện nay để có một cách hiểu thống nhất trong toàn bộ
báo cáo.
Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế được hiểu là tỷ trọng giá trị gia tăng của các
thành phần cấu tạo của nền kinh tế. Có nhiều cách phân loại về cơ cấu kinh tế, ví
dụ như phân theo cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu theo thành phần. Cách phân
loại về cơ cấu kinh tế được sử dụng trong nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào cơ
cấu ngành. Cơ cấu kinh tế theo ngành được hiểu là cơ cấu giá trị gia tăng của
ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP của nền kinh tế. Cơ
cấu kinh tế trong mỗi ngành được hiểu là tỷ trọng của giá trị gia tăng của mỗi phân
ngành trong ngành đó. Ví dụ trong ngành nông nghiêp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp
được phân chia làm hai nhóm cơ bản là trồng trọt và chăn nuôi. Chú ý trong phân
ngành ở đây chúng tôi không phân loại theo nông nghiêp-thủy sản-lâm nghiệp như
cách phân loại thường thấy mà chỉ phân làm 2 nhóm: nhóm liên quan đến cây
trồng (bao gồm cả cây lâm nghiệp, cây hàng năm, cây ăn quả, cây lâu năm…)
được gọi chung là họat động trồng trọt. Nhóm họat động liên quan đến vật nuôi,
bao gồm cả nuôi trồng thủy sản, nuôi gia súc gia cầm…được gọi chung là họat
động chăn nuôi. Sở dĩ chúng tôi nhóm các họat động như vậy do dựa trên đặc thù
7
CHUYỂN DICH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CIEM-MISPA
phân bố thời gian lao động cho từng loại họat động. Ví dụ, trong họat động trồng
trọt, dù là cây trồng ngắn ngày hay dài ngày hay cây lâm nghiệp, việc phân bố thời
gian không thể đều trong suốt các ngày trong năm mà thường chỉ diễn ra cao điểm
tại một số ngày vào thời vụ gieo trồng họăc thu hoạch…Ngược lại đối với ngành
chăn nuôi, thời gian thường được phân bổ đều cho các ngành trong một năm.
Họat động nông nghiệp và phi nông nghiêp: Thực tế hiện nay mọi người
tương đối thống nhất với nhau về khái niệm việc làm nông nghiệp nhưng lại
không thống nhất với nhau về khái niệm việc làm phi nông nghiệp. Họat động
nông nghiệp và khái niệm liên quan tới việc làm nông nghiệp trong nghiên cứu
này được hiểu là các họat động liên quan trực tiếp đến cây trồng và vật nuôi. Họat
động phi nông nghiệp là các họat động ngoài các họat động kể trên. Như vậy, khái
niệm họat động-việc làm phi nông nghiệp (non-farm activities) là khá rộng, bao
gồm toàn bộ các họat động sản xuất công nghiêp, dịch vụ tại các cơ sở kinh tế và
hộ gia đình. Sự phân loại này không đề cập đến địa điểm hoạt động đó diễn ra, quy
mô của hoạt động, công nghệ được sử dụng cũng như liệu thành phần tham gia chỉ
là hộ nông nghiệp hay hộ gia đình có hoạt động phi nông nghiệp.
Thực tế, trong một số trường hợp, các nhà nghiên cứu và quản lý phân chia
các hoạt động vào các khu vực một cách không thống nhất. Các hoạt động được
làm tại nhà với các đầu vào là các loại cây trồng, vật nuôi và được làm ở quy mô
nhỏ sử dụng lao động nông nhàn là chính đôi khi được xem là hoạt động nông
nghiệp. Ví dụ, một số người thường xếp họat động chế biến nông sản quy mô hộ
gia đình là họat động nông nghiệp. Một số người đưa cả vị trí hoặc quy mô của
sản xuất vào phân loại theo ngành. Các hoạt động này có liên quan mật thiết đến
nông nghiệp nhưng về bản chất chúng lại không phải là các hoạt động nông
nghiệp. Ngược lại, cũng có một số người lại xếp lao động làm thuê trong nông
nghiệp (ví dụ làm ruộng thuê cho người khác) là họat động phi nông nghiệp. Cách
phân loại như vậy không phản ánh đúng bản chất của tên gọi. Khái niệm họat
động phi nông nghiệp trong nghiên cứu này là toàn bộ các họat động không liên
quan trực tiếp đến sản xuất cây trồng và vật nuôi. Nó bao gồm cả các họat động
chế biến nông sản tại nhà cũng như họat động làm thuê tại các nhà máy lớn; không
bao gồm các họat động làm thuê trong nông nghiệp.
Làm công ăn lương và việc làm tự tạo (wage employment và self-
employment). Cách phân loại việc làm này có ý nghĩa rất quan trọng khi chúng ta
8

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét