Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nhằm nâng cao việc giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông trong Thị xã Thủ Dầu Một - Tỉnh Bình Dương

1.2. Khái niệm chung
1.2.1. Khái niệm chung về giáo dục thẩm mĩ
Trong thế giới tự nhiên, xã hội và con người mọi sự vật, hiện tượng phát
triển hết sức đa dạng và phức tạp, có những hiện tượng phát triển cân đối, hài hòa,
ưa nhìn và có cả những sự kiện lộn xộn, khó chấp nhận.
Hiện tượng, sự kiện của thế giới là cái tồn tại khách quan và phát triển hết
sức đa dạng. Con người là chủ thể có ý thức, có khả năng cảm nhận được những cái
hay, cái đẹp và cái xấu xí của sự phát triển đa dạng đó. Cái nào đẹp được con người
nâng niu, phát triển, cái nào xấu xí bị bác bỏ, bị loại trừ, đó là năng lực thuộc về
bản chất của lồi người.
Cái đẹp chính là cái thẩm mĩ. Cái đẹp có ở mọi nơi, mọi lúc.
Cái đẹp trong tự nhiên biểu hiện bằng hình dáng, đường nét, màu sắc… Cái
đẹp trong xã hội thể hiện trong phương thức giao tiếp, trong lối sống đạo đức, trong
trật tự kỉ cương, pháp luật. Cái đẹp trong con người là cái đẹp của nhận thức, tình
cảm và được biểu hiện bằng hành vi văn hóa, đạo đức, bằng lời ăn, tiếng nói hàng
ngày.
Thẩm mĩ là phạm trù triết học nói về cái đẹp khách quan của tự nhiên, xã
hội và con người mà chúng ta đang đề cập tới.
Cái đẹp là cái trung tâm, bên cạnh cái đẹp là cái tốt, cái cao thượng, cái anh
hùng. Những khái niệm tương phản là cái xấu, cái thấp hèn, cái hài, cái bi.
Thẩm mĩ là giá trị khách quan vốn có của các đối tượng có trong tự nhiên, xã
hội và con người(đối tượng thẩm mĩ) được con người nhận thức, đánh giá, thưởng
thức và sáng tạo.
Thẩm mĩ có ý nghĩa rất lớn trong đời sống con người. Nhu cầu thẩm mĩ là
một trong những nhu cầu quan trọng của đời sống xã hội. Mỗi con người đều có xu
hướng vươn tới cái đẹp hồn hảo, mong muốn cho cuộc sống của mình ngày càng
tốt hơn. Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu thẩm mĩ càng cao và con người càng
sáng tạo ra nhiều giá trị thẩm mĩ mới.
Cái đẹp thâm nhập vào cuộc sống của con người và tạo nên thị hiếu thẩm mĩ.
Thị hiếu thẩm mĩ là sở thích của con người, là cái gout trong thưởng thức và nó lan
tỏa từ người này qua người khác, từ nơi này đến nơi kia tạo thành một làn sóng thị
hiếu: Thị hiếu thời trang, thị hiếu nghệ thuật, âm nhạc, sân khấu, du lịch và thị hiếu
tiêu dùng… Thị hiếu thay đổi theo thời gian, khơng gian, thị hiếu có tính lịch sử.
Cuộc sống là sáng tạo, “mỗi con người là một nghệ sỹ” ln tạo ra giá trị
thẩm mĩ cho mình và cho xã hội. Đó là một quy luật.
Trong cơng tác giáo dục học sinh, nhà trường rất coi trọng nội dung giáo dục
thẩm mĩ, coi đó là một bộ phận khơng thể thiếu được của q trình giáo dục tồn
diện. Con người có trí tuệ thơng minh, có sức khỏe cường tráng, nếu thiếu óc thẩm
mĩ vẫn khơng được coi là con người tồn diện trong một xã hội hiện đại. Ĩc thẩm
mĩ có vai trò to lớn trong nhận thức và trong lao động sáng tạo của con người.
Giáo dục thẩm mĩ trở nên hết sức quan trọng vì nó có tác động mạnh đến trí
tuệ, đến tình cảm đạo đức, đến q trình hình thành những nét đẹp trong hành vi,
thói quen của học sinh, đến khả năng sáng tạo – một phẩm chất cực kỳ q báu của
con người hiện đại.
1.2.2. Nội dung của giáo dục thẩm mĩ
Giáo dục thẩm mĩ là q trình hình thành cho học sinh năng lực nhận thức,
thưởng ngoạn, đánh giá, sáng tạo và hành động theo cái đẹp.
Trong phạm vi giáo dục ở trường trung học phổ thơng, giáo dục thẩm mĩ có
các nhiệm vụ sau đây:
+ Bồi dưỡng cho học sinh năng lực tri giác, cảm thụ, thưởng thức cái đẹp
trong tự nhiên, trong cuộc sống và trong nghệ thuật.
+ Bồi dưỡng cho học sinh năng lực đánh giá cái đẹp cái đẹp trong tự nhiên,
xã hội và nghệ thuật, nhận biết cái chân, thiện mỹ trong đời sống con người.
+ Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ làm sao cho phù hợp
với các giá trị văn hóa dân tộc và văn minh của thời đại.
+ Bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống hằng
ngày, trong lao động, học tập và sinh hoạt tập thể: cái đẹp vật chất, cái đẹp tinh
thần, cái đẹp nghệ thuật.
+ Làm cho mỗi học sinh ln hướng tới cái đẹp và hành động theo cái đẹp,
quan trọng nhất là tu dưỡng đạo đức tạo cái đẹp trong phẩm giá nhân cách.
Như vậy, giáo dục thẩm mĩ có liên quan trực tiếp đến giáo dục văn hóa, thẩm
mĩ là một bộ phận của văn hóa, trong văn hóa có thẩm mĩ, văn hóa lấy thẩm mĩ làm
trung tâm. Giáo dục văn hóa và giáo dục thẩm mĩ gắn liền với nhau như hình với
bóng khơng thể tách rời.
Mục đích của giáo dục văn hóa – thẩm mĩ cho học sinh là giúp họ nâng cao
trình độ nhận thức, cảm thụ, thưởng thức và sáng tạo cái đẹp vật chất và tinh thần,
hình thành thói quen, nếp sống, hành vi văn minh trong giao tiếp xã hội. Như vậy,
giáo dục văn hóa – thẩm mĩ phục vụ cho mục tiêu phát triển văn hóa cá nhân, xã
hội và cơng đồng.
Giáo dục văn hóa – thẩm mĩ ở trường THPT được thực hiện thơng qua các
con đường cơ bản sau đây:
+ Thơng qua dạy và học các mơn khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và
nhân văn. Các mơn học này giúp học sinh nhận thức được những khái niệm cơ bản
về văn hóa – thẩm mĩ, nhận ra những giá trị đích thực của văn hóa, văn minh nhân
loại trên cơ sở đó có ý thức đối với những truyền thống văn hóa và hình thành thói
quen hành vi văn hóa.
+ Thơng qua xây dựng mơi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà
trường và xã hội.
- Mơi trường là nơi sống và hoạt động của con người, mơi trường có ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển của cá nhân.
- Xây dựng mơi trường văn hóa lành mạnh là xây dựng nếp sống mọi người
chăm lo đến nhau. Cha mẹ, thầy cơ giáo quan tâm đến cuộc sống, học tập của các
em và các mối quan hệ xã hội.
+ Thơng qua giáo dục nghệ thuật: Nghệ thuật là biểu hiện cao nhất của các
quan hệ thẩm mĩ trong đời sống xã hội. Nghệ thuật có hai bộ phận quan trọng là đối
tượng thẩm mĩ và chủ thể thẩm mĩ. Đối tượng thẩm mĩ là hiện thực, chủ thể thẩm
mĩ là nghệ sĩ. Nghệ thuật là q trình chủ thể hóa đối tượng thẩm mĩ và khách thể
hóa tình cảm, thẩm mĩ.
- Giáo dục nghệ thuật trong nhà trường được thực hiện thơng qua giảng dạy
các bộ mơn văn học, nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa…
- Giáo dục nghệ thuật thơng qua tổ chức các cuộc thi văn nghệ; hội thi học
sinh thanh lịch, thời trang học đường, nữ cơng, gia chánh, khéo tay hay làm…
- Giáo dục nghệ thuật thơng qua hệ thống tin đại chúng, các chương trình
“Trò chơi âm nhạc”, “Nốt nhạc vui”, “Ai là triệu phú”, “Hành trình văn hóa”,
“Rung chng vàng”, “Đấu trường 100”… trên đài truyền hình có ý nghĩa giáo dục
to lớn.
+ Thơng qua tiếp xúc với thiên nhiên: Ở trường THPT, giáo dục văn hóa –
thẩm mĩ có thể được thực hiện thơng qua các hoạt động du lịch, tham quan, cắm
trại tiếp xúc với thiên nhiên, đây là những hình thức rất phù hợp với tâm lý lứa tuổi
của học sinh.
Chương 2:
THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC CÁCH ĂN MẶC CHO HỌC SINH Ở MỘT
SỐ TRƯỜNG THPT
2.1. Khái qt về tình hình giáo dục cách ăn cho học sinh phổ thơng hiện nay
Qua hơn 20 năm đổi mới của nước, việc thâu nhận và tiếp biến các tinh hoa
văn hóa, văn minh nhân loại trở nên sơi nổi và phổ biến hơn, hệ giá trị dân tộc đã
được bổ sung các giá trị mới, bao gồm cái đẹp, cái đúng, cái tốt, cái có ích, cái cao
cả, cái hiện đại, những hình tượng nghệ thuật mới làm cho đời sống tinh thần của
nhân dân thêm phong phú, đa dạng hơn. Sự tác động đó vào giới trẻ là biểu hiện rõ
ràng nhất, mạnh mẽ nhất. Sự xâm nhập của các làn sóng văn hóa mới cũng làm cho
văn hóa truyền thống bộc lộ những nhược điểm, những mặt lạc hậu so với xu thế
đương đại, đòi hỏi nước ta phải sớm nhận ra để khắc phục. Trong giáo dục thẩm
mĩ, cách đây 10 năm Nghị quyết TW 5 khố VIII của Đảng về “Xây dựng nền văn
hố Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã chỉ rõ những tồn tại hạn chế:
“Việc giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thị hiếu nghệ thuật cho thanh niên, thiếu niên, nhi
đồng, học sinh chưa được coi trọng”.
Trong giáo dục thẩm mĩ thì giáo dục Cái Đẹp giữ vị trí then chốt. Cái đẹp
được hiểu là những giá trị thẩm mĩ, xã hội khách quan của các sự vật hiện tượng
tồn vẹn, cụ thể, cảm tính trong hiện thực, được con người thụ cảm cảm tính và
đánh giá về phương diện thẩm mĩ. Cái đẹp có tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân
loại, do đó cũng có cái đẹp giai cấp, cái đẹp dân tộc và cái đẹp nhân loại. Giáo dục
cái đẹp ln hướng tới mục tiêu phát triển các cảm xúc, thị hiếu thẩm mĩ và lý
tưởng thẩm mĩ cao đẹp. Nhận diện và xác định rõ cái đẹp sẽ tạo ra cơ sở vững chắc
chống lại nguy cơ khủng hoảng giá trị và niềm tin.
Cái đẹp nhân loại bao trùm lên các giá trị của con người. Cái đẹp nhân loại
mà chúng ta cần chiếm lĩnh là các giá trị thẩm mĩ đã được cộng đồng thế giới thừa
nhận, mong muốn, q trọng, giữ gìn và chiếm lĩnh, đó là cái đẹp mang trong nó
các chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng của nhân loại. Phải giúp thanh thiếu niên
(TTN) nhận diện được cái đẹp nhân loại để họ có thể thưởng thức, đánh giá, lựa
chọn, tiếp thu, biểu hiện, biến đổi và sáng tạo đúng hướng, góp phần làm giàu
thêm, tiên tiến thêm nền văn hố dân tộc.
Giáo dục thẩm mĩ cho TTN cần nhất là giáo dục qua thực tiễn và qua lao
động, đó là q trình hình thành nhận thức thẩm mĩ đúng đắn và tự nhiên.
Chính vì điều đó, trong các trường phổ thơng hiện nay khi quy định về nền
nếp học sinh đều có hẳn một phần ghi cụ thể về cách ăn mặc của học sinh. Cụ thể
như:
- Ở trường THPT Nguyễn Đình Chiểu (Bình Dương), ngay trong phần đầu
về quy định nền nếp đã ghi rõ:
QUY ĐỊNH VỀ ĐỒNG PHỤC:
1 Học sinh nam: Mặc áo trắng mang phù hiệu trường có thêu tên trên ngực
trái, áo bỏ trong quần, quần màu xanh dương hoặc đen, mang giày bata đến trường.
Học sinh khơng được mặc quần jean, kaki đến lớp; đầu tóc phải gọn gàng tuyệt đối
khơng được nhuộm.
2 Học sinh nữ: Mặc áo dài trắng có cổ, bên trong có áo lá, quần trắng hoặc
đen và may phù hiệu trường có thêu tên trên ngực trái, mang giày hoặc dép có quai
hậu (khơng mang guốc).
Lưu ý: Học sinh đến trường ngồi giờ học, sinh hoạt ngoại khóa : Phải đảm
bảo quy định đồng phục, thuận tiện. Trong giờ học TDTT học sinh phải mặc đồng
phục thống nhất theo quy định, mang giày bata.
- Ở trường THPT Võ Minh Đức (Bình Dương) trong nội quy học sinh quy
định:
Hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục (theo Điều 40 Điều lệ trường trung
học):
- Hành vi, ngôn ngữ ứng xử của học sinh phải có văn hoá, phù hợp với
đạo đức và lối sống của lứa tuổi học sinh trung học;
- Không đựơc bôi son, đánh phấn; sơn móng tay, chân; nhuộm tóc, đeo đồ
trang sức để trang điểm.
- Trang phục của học sinh phải sạch sẽ, gọn gàng, thích hợp với độ tuổi,
thuận tiện cho việc học tập và sinh hoạt ở trường;
Nam: quần tây, áo sơ mi bỏ vào quần, mang dép có quai hậu.
Nữ : áo dài trắng, quần trắng, mang giầy hoặc dép có quai hậu.
Và ngày từ đầu năm học tất cả các trường đều sinh hoạt với học sinh về nội
quy, quy định nề nếp trong các buổi sinh hoạt chủ nhiệm, sinh hoạt dưới cờ cũng
như trong các buổi họp cha mẹ PHHS . Đồng thời trong các giờ sinh hoạt lớp, giáo
dục ngồi giờ lên lớp, GVCN cũng thường xun nhắc nhỡ các em về trang phục
khi đi học cũng như đi sinh hoạt ngoại khóa v.v…
2.2. Thực trạng về giáo dục cách ăn mặc hiện nay:
Tuy nhiên mặc dù đã có quy định về nề nếp, giáo viên và Đồn thanh niên
thường xun giáo dục, nhắc nhỡ các em trong các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt
đồn, mặc dù đại đa số các em đều chấp hành khá tốt nội qui của nhà trường. Đặc
biệt là trong những năm gần đây, việc ăn mặc của học sinh trong các giờ học, giờ
ngoại khóa trở thành vấn đề đáng quan tâm trong nhà trường , và điều đáng lo ngại
là nhu cầu về thẩm mỹ - cái đẹp trong ăn mặc - của học sinh đang có xu thế xuống
cấp. Vấn đề đặt ra ở đây là vì sao cách ăn mặc của học sinh càng ngày lại càng
khó nhìn như thế, trong khi mơn giáo dục cơng dân, giáo dục đạo đức, giáo dục mỹ
thuật vẫn được dạy liên tục từ tiểu học đến các bậc học cao hơn? Chỉ riêng cách ăn
mặc của các nữ sinh ngày nay đang khiến khơng ít giáo viên phải "nhức nhối" khi
chứng kiến những kiểu biến tướng của các bộ đồng phục khi các em đi học các giờ
ngoại khóa. Cùng là áo trắng, quần sẫm màu nhưng nhà trường khó có thể kiểm
sốt được "kiểu dáng" của những bộ đồng phục này.
Theo em Nguyễn Thị Thu Hà, học sinh trường Lớp 12A1 Trường THPT Võ
Minh Đức TX TDM (Bình Dương), kiểu quần cạp trễ, áo ngắn vẫn là xu hướng
thời trang được đa số các nữ sinh chọn làm phong cách cho những bộ đồng phục
khi đi học các giờ ngoại khóa của mình. Bộ đồng phục này cũng khơng mấy khác
biệt so với những bộ đồng phục thơng thường khi những nữ sinh này đi lại.
Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn sẽ được thấy rõ nếu nữ sinh cử động mạnh hay
chỉ đơn giản là ngồi xuống ghế trong lớp. "Tơi khơng thể khơng quay mặt đi khi
phải nhìn thấy những chiếc cạp trễ hết mức của các bạn nữ sinh trong lớp" - một
giáo viên trường THPT Nguyễn Đình Chiểu (Bình Dương) bức xúc.
"Nhưng thử hỏi bạn học sinh nam ngồi sát bên cạnh bạn nữ đó sẽ nghĩ như
thế nào?" - cơ giáo đặt câu hỏi. Giới tính đang là vấn đề rất nhạy cảm trong trường
học nhưng làm sao u cầu học sinh phải trong sáng khi mà ngồi sát bên mình là
một bạn nữ đang "khoe" cơ thể cũng như nội y của mình một cách chủ động như
vậy?
Và hàng tuần trong các buổi sinh hoạt dưới cờ giám thị, Đồn TN nhà trường
vẫn phải thường xun đọc tên và nhắc nhỡ những em học sinh vi phạm nề nếp, tác
phong đặc biệt là vi phạm về ăn mặc khơng đúng đồng phục theo quy định nhà
trường. Giám thị cũng đã nhiều lần mời phụ huynh các em vi phạm vào trường để
nhắc nhỡ về vấn đề này.Và cũng chính những em vi phạm về ăn mặc trong nhà
trường là những em thường xun vi phạm về đạo đức, tác phong.
Viện Nghiên cứu và Phát triển giáo dục Việt Nam dẫn chứng: càng ở cấp
học cao, biểu hiện vi phạm đạo đức của HS càng đáng lo ngại. Nếu như ở cấp tiểu
học, có 22% HS từng nói dối cha mẹ, thì lên THCS, tỷ lệ này là 50%, và khi học
THPT, con số ấy lên tới 64%; tỷ lệ HS THCS khơng chấp hành Luật Giao thơng là
35%, nhưng lên cấp THPT thì số HS phạm lỗi tăng gấp đơi , 68% HS mê game,
chat, 46,6% ảnh hưởng từ phim: thích quen "hồng tử" trong phim, có trang phục
giống trong phim, thích chơi đơ vật kiểu Mỹ…, 38,8% cho biết thường xun chửi
thề, nói tục; 53,6% thỉnh thoảng nói tục, 32,2% thường xun vơ lễ với thầy cơ.
Nhiều HS chỉ chào thầy cơ trong trường, còn ra đường thì khơng quen biết. Và
những em này thường là những em có cách ăn mặc khơng đúng với nề nếp quy
định của nhà trường.
Đồng thời qua kết quả khảo sát việc vi phạm của HS về ăn mặc ở một số
trường THPT ở địa bàn Thị Xã Thủ Dầu Một Tỉnh Bình Dương trong 3 tháng
9,10,11 năm học 2008 – 2009, ta nhận thấy: vì các em lớp 10 mới vào trường còn
bở ngỡ nên các em chấp hành tốt quy định và ít vi phạm hơn học sinh lớp 11, 12.
Đến tháng 10 khi nhà trường bắt đầu tăng cường kiểm tra hai khối 11, 12 thì các
em khối 10 bắt đầu vi phạm vì các em đã bắt đầu quen với mơi trường mới và một
phần nào chịu ảnh hưởng của các anh chị lớp 11,12. Đến tháng 11 khi nhà trường
tăng cường các hoạt động ngoại khóa hầu như tất cả các em đã giảm bớt hẳn tình
hình vi phạm về ăn mặc khơng đúng quy định trong nhà trường.
2.3. Ngun nhân của thực trạng:
Những đặc thù về lứa tuổi và sự phát triển riêng, học sinh ln muốn khẳng
định mình và thể hiện phong cách bản thân, và con đường nhanh nhất các em lựa
chọn đó là từ trang phục. Khơng ít học sinh đưa ra “tun ngơn”: Thời trang là một
phần đời sống của chính họ. Đặc biệt là giới nữ, thời trang cũng đồng hành với việc
dùng hàng “độc”, cũng từ đó thời trang du nhập vào mơi trường học đường với
những cách tân khơng chấp nhận được.
Nói về vấn đề trang phục đặc biệt là trang phục của nữ sinh, chúng ta vẫn
ln nghĩ ngay đến tà áo dài - vẻ đẹp truyền thống của dân tộcViệt Nam. Những tà
áo dài dịu dàng tha thiết đã đi vào tâm trí bao nhiêu người, vẻ đẹp truyền thống
riêng của người con gái đã đi vào thơ ca nhạc hoạ của biết bao nhà văn, nhà thơ,
nhạc sỹ, họa sỹ trong nước cũng như trên thế giới.
Và nếu áo dài mang vẻ đẹp của bản sắc thì đồng phục quần tây áo trắng lại
mang vẻ đẹp khỏe khoắn và gọn gàng. Mục đích khi mặc đồng phục là tránh sự
phân biệt giàu nghèo và hồn cảnh gia đình. Thế nhưng mục đích tốt đẹp đó đã bị
làm mờ đi với những cách tân khó chấp nhận.
Đó là một điều tế nhị nhưng mỗi khi ta trốn tránh và khơng dám đối mặt thì
ngày một phát triển lên.
Những chiếc quần đáy q ngắn, q chật, áo sơ mi thì q mỏng lại bó sát
người, đơi khi để lộ những “khoảng hở” khơng thể chấp nhận được. Có em nói
khơng xấu? Nhưng đẹp thì khơng hẳn. Một trang phục đẹp thực sự khi nó ở đúng
hồn cảnh, có thể là trong một buổi tiệc hoặc đi chơi nhưng một khi đã đến trường
thì phải bình đẳng và lành mạnh. Có khi nào các em tự hỏi: “mình có thực sự thấy
thoải mái và tự tin khơng khi có biết bao ánh mắt khơng thiện cảm đang nhìn vào?”
Đằng sau cách ăn mặc đó là biết bao nhiêu vấn đề, trước hết là cái nhìn thiếu
thiện cảm từ phía Thầy cơ và bạn bè. Chính nhà trường cũng can thiệp vào vấn đề
tế nhị này, bằng chứng là nó nghiễm nhiên chiếm một vị trí đặc biệt trong nội qui
của nhà trường. Đứng trên cái nhìn của một người trẻ, em cũng nhận thấy rằng tự
do trong cách ăn mặc và thể hiện bản thân của giới trẻ cần được tơn trọng. Tuy
nhiên ở một mức độ cho phép, học trò phải chính là học trò đã chứ khơng phải
người mẫu trên sàn diễn.
Rất nhiều ý kiến cho rằng chương trình giáo dục thẩm mĩ nói chung rất
phong phú, rất nhiều bài học nhưng chương trình chưa xác định rõ những phẩm
chất cơ bản của nhân cách con người Việt Nam như thế nào. Các bài học nặng lý
thuyết, thiếu kỹ năng sống, chưa tạo được dấu ấn trong lòng trẻ, hình thành nhân
cách khơng rõ nét, trẻ dễ bị tác động hồn cảnh xã hội.
Việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh đã và đang trở thành một nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu cấp bách nhưng vai trò khơng chỉ của gia đình, nhà trường mà
còn là của tồn xã hội.
Về phía các trường học, việc giáo dục thẩm mĩ từ bậc phổ thơng đến đại học
có nhiều bất ổn. Nhiều giáo viên lên lớp chỉ lo truyền giảng kiến thức chun mơn,
khơng có thì giờ để uốn nắn chỉnh sửa những sai trái của học sinh. Chương trình
giáo dục đạo đức; giáo dục Cơng dân thì q ơm đồm nặng nề, xem nhẹ giáo dục
kỹ năng sống – kỹ năng ứng xử hàng ngày cho học sinh. Cùng quan điểm này,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét