Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Tài liệu Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các nhóm nước docx

II-XU HƯỚNG KHU VỰC HÓA KINH TẾ
1-Các tổ chức liên kết kinh tế khu vực
13. Do sự phát triển không đều và sức ép cạnh tranh trong các khu vực
trên thế giới,những quốc gia có nét tương đồng về địa lý, văn hoá, xã hội hoặc có
chung mục tiêu, lợi ích phát triển đã liên kết với nhau thành các tổ chức liên kết kinh
tế đặc thù.
BẢNG 2. MỘT SỐ TỔ CHỨC LIÊN KẾT KINH TẾ KHU VỰC
Tên tổ
chức
Năm
thành lập
Các nước và
vùng lãnh thổ
thành viên (tính
đến năm 2005)
số dân
(triệu người –
2005)
GDP (tỉ
USD – 2004)
Hiệp ước
tự do thương
mại Bắc Mỹ
(NAFTA)
1994
Hoa Kì, Ca-
na-đa, Mê-hi-cô.
435,7 13323,8
Liên
minh châu Âu
(EU) *
1957
Đức, Anh,
Pháp, Hà Lan, Bỉ,
I-ta-li-a, Lúc-xăm-
bua, Ai-len, Đan
459,7 12690,5
Mạch, Hi Lạp, Tây
Ban Nha, Bồ Đào
Nha, Áo, Phần
Lan, Thuỵ Điển,
Séc, Hung-ga-ri,
Ba Lan, Xlô-vê-ni-
a, Lít-va, Lát-vi-a,
Xlô-va-ki-a, Ét-
xtô-ni-a, Man-ta,
Síp.
Hiệp hội
các quốc gia
Đông Nam Á
(ASEAN)
1967
In-đô-nê-xi-
a, Ma-lai-xi-a, Phi-
líp-pin, Xin-ga-po,
Thái Lan, Bru-nây,
Việt Nam, Lào,
Mi-an-ma, Cam-
pu-chia.
555,3 799,9
Diễn đàn
hợp tác kinh tế
châu Á – Thái
Bình Dương
1989
Bru-nây, In-
đô-nê-xi-a, Ma-lai-
xi-a, Phi-líp-pin,
Xin-ga-po, Thái
Lan, Hoa Kì, Ca-
2648,0 23008,1
(APEC) na-đa, Mê-hi-cô,
Nhật Bản, Hàn
Quốc, Ô- xtrây-li-
a, Niu-di-lân, Đài
Loan, Trung Quốc,
Hồng Kông (Trung
Quốc), Pa-pua Niu
Ghi-nê, Chi-lê, Pê-
ru, Liên bang Nga,
Việt Nam.
Thị
trường chung
Nam Mỹ
(MERCOSUR)
1991
Bra-xin, Ác-
hen-ti-na, U-ru-
goay, Pa-ra-goay.
232,4 776,6
*Từ tháng 1 – 2007, EU kết nạp thêm Bun-ga-ri và Ru-ma-ni.
2-
Hệ quả của khu vực hoá kinh tế
17. Các tổ chức kinh tế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau đã tạo nên
động lực thúc đấy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng cường tự do hoá thương
mại, đầu tư dịch vụ trong phạm vi khu vực cũng như giữa các khu vực với nhau.
18. Đồng thời, chúng thúc đẩy quá trình mở cửa thị trường các quốc gia,
tạo lập những thị trường khu vực rộng lớn, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế
giới.
19. Tuy nhiên, xu hướng khu vực hoá cũng đặt ra không ít vấn đề đòi
hỏi các quốc gia phải quan tâm giải quyết, như tự chủ về kinh tế, quyền lực quốc gia…
Một số vấn đề mang tính toàn cầu.

Cùng với việc bảo vệ hòa bình, nhân loại hiện nay đang đối mặt với
nhiều thách thực mang tính toàn cầu như : bùng nổ dân số, già hóa dân số, ô nhiễm
môi trường … gây ra những hậu quả nghiêm trọng
.
I-
Dân số.
1-
Bùng nổ dân số.
1. Dân số thế giới tăng nhanh, nhất là ở nữa sau của thế kỷ XX. Đến
năm 2005, số dân thế giới là 6.477 triệu người.
2. Sự bùng nổ dân số hiện nay trên thế giới diễn ra chủ yếu ở các nước
đang phát triển. Các nước này chiếm trên 80% số dân và 95% số dân gia tăng hằng
năm của thế giới.
2-
Già hóa dân số.
3. Dân số thế giới đang ngày càng già đi. Trong cơ cấu theo độ tuổi, tỉ lệ
người dưới 15 tuổi ngày càng thấp, tỉ lệ người trên 65 tuổi ngày càng cao và tuổi thọ
dân số thế giới ngày càng tăng.
II-Môi trường.
1-
Biến đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm tầng ôdôn.
4. Lượng CO2 tăng đáng kể trong khí quyển gây ra hiệu ứng nhà kính,
làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên. Ước tính trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất
nóng lên 0,6o C. Dự báo đến năm 2100, nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng thêm 1,4o C đến
5,8o C.
5. Hoạt động công nghiệp và sinh hoạt, đặc biệt ở các nước phát triển đã
thải vào khí quyển một lượng khí thải gây ra mưa axit ở nhiều nơi trên Trái Đất. Đồng
thời, khí thải CFC, đã làm nóng dần tầng ô dôn và làm lỗ thủng tầng ô dôn ngày càng
rộng ra.
2-
Ô nhiễm nguồn nước ngọt, biển và đại dương.
6. Chất thải công nghiệp và sinh hoạt chưa được xử lý đổ trực tiếp vào
các sông, hồ làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngọt ở nhiều nơi trên thế giới.
Theo Liên Hợp Quốc, có khoảng 1,3 tỉ người trên toàn cầu, trong đó hơn 1 tỉ người ở
các nước đang phát triển bị thiếu nước sạch.
7. Việc đổ chất thải chưa được xử lý vào sông ngòi và đại dương, các sự
cố đắm tàu, rửa tàu, tràn dầu xảy ra ở nhiều nơi đang làm cho môi trường biển và đại
dương chịu nhiều tổn thất lớn.
3-
Suy giảm đa dạng sinh vật.
8. Việc khai thác thiên nhiên quá mức của con người làm cho nhiều loài
sinh vật bị tuyệt chủng hoặc đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Hậu quả là làm mất đi
nhiều loài sinh vật, các gen di truyền, nguồn thực phẩm, nguồn thuốc chữa bệnh,
nguồn nguyên liệu của nhiều gành sản xuất, …
III-
Một số vấn đề khác.
9. Trong những thập niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ
XXI, xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo và nạn khủng bố trở thành mối đe dọa trực
tiếp tới ổn định hòa bình của thế giới. Nạn khủng bố ngày nay xuất hiện trên toàn thế
giới, với rất nhiều cách thức khác nhau (sát hại thủ lĩnh chính trị, bắt cóc con tin, huấn
luyện và sử dụng người làm thuê vào hoạt động khủng bố, …). Điều này cực kỳ nguy
hiểm là các phần tử khủng bố đã sử dụng các thành tựu khoa học, công nghệ vào mục
đích của mình (tấn công bằng vũ khí sinh hóa học, chất nổ, phá hoại mạng vi tính, …).
10. Bên cạnh khủng bố, hoạt động kinh tế ngầm (buôn lậu vũ khí, rửa
tiền, …), tội phạm liên quan đến sản xuất, vận chuyển, buôn bán ma túy, … cũng là
những mối đe dọa đối với hòa bình và ổn định trên thế giới.
11. Để giải quyết các vấn đề trên cần phải có sự hợp tác tích cực giữa
các quốc gia và toàn thế cộng đồng quốc tế.
Một số vấn đề của châu lục và khu vực.
Tiết 1 :
Một số vấn đề của châu Phi
Châu Phi đã có những nền văn minh cổ đại rực rỡ, như nền văn minh
sông Nin do người Ai Cập xây dựng. Hơn 4 thế kỷ bị thực dân châu Âu thống trị (thế
kỷ XVI-XX), châu Phi đã bị cướp bóc cả con người và tài nguyên thiên nhiên. Trong
lịch sử, sự thống trị lâu dài của chủ nghĩa thực dân đã kìm hãm các nước châu Phi
trong nghèo nàn, lạc hậu
.
I-
Một số vấn đề tự nhiên.
1. Phần lớn lãnh thổ châu Phi là cảnh quan hoang mạc, bán hoang mạc
và xa-van, có khí hậu khô nóng. Đây là những khó khăn lớn đối với sự phát triển kinh
tế-xã hội của nhiều nước châu Phi.
2. Khoáng sản và rừng là những tài nguyên đang bị khai thác mạnh.
Rừng bị khai thác quá mức để lấy chất đốt và mở rộng diện tích đất canh tác dẫn đến
sự hoang hóa đất đai của nhiều khu vực, nhất là ven các hoang mạc, bán hoang mạc.
Việc khai thác khoáng sản mang lại lợi nhuận cao cho nhiều công ty tư bản nước ngoài
đã làm cho nguồn tài nguyên này bị cạn kiệt và môi trường bị tàn phá.
3. Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và áp dụng các
biện pháp thủy lợi nhằm hạn chế khô hạn là những giải pháp cấp bách đối với đa số
quốc gia châu Phi.
II-
Một số vấn đề về dân cư và xã hội.
4. Dân số châu Phi tăng rất nhanh. Tuổi thọ trung bình của người dân
châu Phi rất thấp, chỉ đạt 52 năm, trong khi cả thế giới là 67 năm.
5. Dân số châu Phi chiếm 14% dân số thế giới nhưng hơn 2/3 tổng số
người nhiễm HIV tập trung ở châu lục này.
6. Các cuộc xung đột tại Bờ Biển Ngà, Công-gô, Xu-đăng … đã cướp đi
sinh mạng của hàng triệu người.
7. Trình độ dân trí thấp, nhiều hủ tục chưa được xóa bỏ, xung đột sắc
tộc, đói nghèo, bệnh tật đe dọa cuộc sống của hàng trăm triệu người châu Phi, là những
tháh thức lớn đối với châu lục này.
8. Các nước nghèo ở châu Phi đang nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ
chức quốc tế như Tổ chức y tế, giáo dục, lương thực của Liên Hợp Quốc, qua các dự
án chống đói nghèo, bệnh tật. Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã gữi chuyên gia
sang giảng dạy và tư vấn kỹ thuật cho một số nước châu Phi.
III-
Một số vấn đề kinh tế.
9. Nền kinh tế của châu Phi đang phát triển theo chiều hướng tích cực, tỉ
lệ tăng trưởng GDP tương đối cao trong thập niên vừa qua.
10. Có nguồn tài nguyên phong phú, song đa số các nước châu Phi là
những nước nghèo, kinh tế kém phát triển. Các nước châu Phi chỉ đóng góp 1,9% GDP
toàn cầu (năm 2004). Đó là hậu quả sự thống trị nhiều thế kỷ qua của chủ nghĩa thực
dân. Mặt khác đường biên giới các quốc gia được hình thành theo phạm vi ảnh hưởng
của các nước thực dân dễ gây xung đột sắc tộc, nhà nước của nhiều quốc gia châu Phi
non trẻ, thiếu khả năng quản lý đất nước …, cũng hạn chế nhiều đến sự phát triển của
châu Phi.
Một số vấn đề của châu lục và khu vực
Một số vấn đề của Mỹ La tinh
Cách đây trên 200 năm, những người dân nhập cư (chủ yếu đến từ Nam
Âu) dã tiến hành đấu tranh để tách các quốc gia ở Trung và Nam Mỹ khỏi các nước
chính quốc và tuyên bố độc lập. Đó là điều kiện thuận lợi để các nước ở khu vực này
phát triển kinh tế-xã hội. Song nền kinh tế của hầu hết các nước Mỹ La tinh vẫn đang
phụ thuộc vào nước ngoài, đời sống của người dân lao động ít được cải thiện, chênh
lệch giàu nghèo của các nhóm dân cư quá lớn đang là những khó khăn mà khu vực
này tiếp tục phải giải quyết
.
I-
Một số vấn đề tự nhiên, dân cư và xã hội.
1. Mỹ La tinh có nhiều tài nguyên khoáng sản, chủ yếu là quặng kim
loại màu, kim loại quý và nhiên liệu. Tài nguyên đất, khí hậu thuận lợi cho phát triển
rừng, chăn nuôi đại gia súc, trồng cây công nghiệp và cây ăn quả nhiệt đới. Tuy nhiên,
việc khai thác các nguồn tài nguyên giàu có trên chưa mang lại nhiều lợi ích cho đại
bộ phận dân cư Mỹ La tinh.
2. Tình trạng đói nghèo của dân cư và mức độ chênh lệch quá lớn về thu
nhập giữa người giàu với người nghèo diễn ra ở hầu hết các nước Mỹ La tinh. Cho tới
đầu thế kỷ XXI, số dân sống dưới mức nghèo khổ của Mỹ La tinh còn khá đông, dao
động từ 37% đến 62%. Các cuộc cải cách ruộng đất không triệt để đã tạo điều kiện cho
chủ trang trại chiếm giữ phần lớn đất canh tác. Dân nghèo không có ruộng kéo ra
thành phố tìm việc làm, dẫn đến hiện tượng đô thị hóa tự phát. Dân cư đô thị Mỹ La
tinh chiếm tới 75% dân số và 1/3 trong số đó sống trong điều kiện khó khăn.
3. Tình trạng trên ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết các vấn đề xã hội
và tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia Mỹ La tinh.
II-
Một số vấn đề về kinh tế.
4. Đa số các nước Mỹ La tinh có tốc độ phát triển kinh tế không đều.
4.1 Tình hình chính trị không ổn định đã tác động mạnh tới sự
phát triển kinh tế và các nhà đầu tư. Nguồn đầu tư từ nước ngoài vào khu vực này
giảm mạnh. Cuối thập niên 90, FDI vào Mỹ La tinh đạt 70-80 tỉ USD/năm, đến năm
2003 xuống còn 31 tỉ USD, năm 2004 tăng lên được 40 tỉ USD.
4.2 Trên 50% nguồn đầu tư đến từ Hoa Kỳ và Tây Ban Nha, còn
lại là từ một số nước phát triển khác.
5. Giành độc lập sớm nhưng các nước Mỹ La tinh đã duy trì cơ cấu xã
hội phong kiến trong thời gian dài, các thế lực bảo thủ của Thiên Chúa giáo tiếp tục
cản trở sự phát triển xã hội. Chưa xây dựng được đường lối phát triển kinh tế-xã hội
độc lập, tự chủ, nên nền kinh tế các nước Mỹ La tinh phát triển chậm, thiếu ổn định,
phụ thuộc vào tư bản nước ngoài, nhất là Hoa Kỳ.
6. Những năm gần đây, nhiều quốc gia Mỹ La tinh đã tập trung củng cố
bộ máy nhà nước, phát triển giáo dục, cải cách kinh tế, quốc hữu hóa một số ngành
kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa đất nước, tăng cường và mở rộng buôn bán vi nước
ngoài.
6.1 Tình hình kinh tế các nước Mỹ La tinh từng bước được cải
thiện. Biểu hiện rõ nhất là xuất khẩu tăng nhanh, khoảng 10% năm 2003 và 21% năm
2004. Nhiều nước đã khống chế được lạm phát, tỉ lệ tăng giá tiêu dùng giảm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét