Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Quyết định 39/2007/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch Hệ thống cửa hàng xăng dầu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 - 2010 và định hướng đến năm 2020 do Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành

4. Các số liệu thống kê về phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Các số liệu về kinh doanh xăng
dầu ở Việt Nam và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
5. Những tài liệu tham khảo chính: Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII.
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đến năm 2010. Chương trình mục tiêu phát triển
ngành thương mại thành phố đến năm 2010. Niên giám thống kê. Các báo cáo quy hoạch, thông tin
kinh tế - xã hội khác có liên quan.
6. Các loại bản đồ: Quy hoạch phát triển không gian đô thị đến năm 2020 và quy hoạch mạng lưới
giao thông đường sắt - đường bộ - đường thủy khu vực thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, đã
được Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt; Bản đồ hành chính thành phố Hồ Chí
Minh.
7. Các quy hoạch có liên quan:
- Quy hoạch phát triển hệ thống kho xăng dầu trên phạm vi cả nước đến năm 2010 do Công ty tư vấn
xây dựng dầu khí Petrolimex lập năm 2001.
- Quy hoạch hệ thống cửa hàng xăng dầu dọc tuyến đường Hồ Chí Minh do công ty tư vấn xây dựng
dầu khí Petrolimex lập năm 2001.
8. Các tài liệu và văn bản của Nhà nước khác có liên quan.
Phần thứ nhất
HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG KHO XĂNG DẦU - HỆ THỐNG CỬA HÀNG
BÁN LẺ XĂNG DẦU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
Theo định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 1998, thành phố
Hồ Chí Minh là đô thị loại 1 và cũng là đô thị hạt nhân của Vùng Kinh tế trọng điểm Phía Nam.
Thành phố Hồ Chí Minh có:
Diện tích tự nhiên 2.095 km
2
, trong đó:
- Nội thành: 494 km
2
- Ngoại thành: 1.601 km
2
Năm 2004 Năm 2020 (dự kiến)
Dân số: 6,2 triệu người 10,0 triệu người
- Nội thành: 5,2 triệu người 6,0 triệu người
- Ngoại thành: 1,0 triệu người 4,0 triệu người
Tình hình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2000 - 2004:
Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2001 - 2004 ước tính đạt trung bình là 11%/năm, cao hơn tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân là 10,3%/năm của giai đoạn 1996 - 2000.
Về cơ cấu kinh tế: Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố là: Dịch vụ - Công nghiệp -
Nông nghiệp để phù hợp với thực tế là nền kinh tế đang trong giai đoạn đẩy nhanh tiến trình công
nghiệp hóa.
Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2001 - 2004
Năm
GDP (tỷ đồng) GDP/người (đồng/người/tháng)
Cả nước TP.HCM TP.HCM/ cả Cả nước TP.HCM TP.HCM/ cả
nước nước
2000 441.606 75.863 17,2% 474.017 1.222.938 2,585%
2004 713.071 136.488 19,1% 724.049 1.875.971 2,59%
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đến năm 2010:
Mục tiêu lâu dài là xây dựng một thành phố lớn ở khu vực Đông Nam Á, là trung tâm trên một số
lĩnh vực, có trình độ phát triển ngang bằng với các thành phố đã phát triển ở khu vực.
- Về kinh tế, lấy dịch vụ và công nghiệp làm nền tảng để phát triển, trở thành một trung tâm kinh tế
lớn nhất nước, là nơi thu hút các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước hoạt động kinh doanh trên
phạm vi cả nước và các nước trong khu vực.
- Về đô thị, xây dựng thành phố văn minh, hiện đại, là một thành phố xanh và sạch, khắc phục tình
trạng ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường.
- Về khoa học công nghệ và giáo dục, trở thành một trung tâm khoa học công nghệ và giáo dục lớn
của cả nước và của Đông Nam Á.
- Về xã hội, thực hiện sớm các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hiệp quốc, theo đó tập
trung vào giải quyết các vấn đề xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở, bình đẳng
giới và tăng cường sức khỏe cộng đồng.
- Về văn hóa, trở thành trung tâm văn hóa lớn của cả nước, phát triển các lĩnh vực văn hóa đỉnh cao.
Kết hợp hài hòa giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại.
Tóm lược các kịch bản phát triển kinh tế giai đoạn 2006 - 2010:
Phương án 1: tăng trưởng GDP là 11,5%/năm. Trong đó các ngành: Nông nghiệp (khu vực I): 3%;
Công nghiệp (khu vực II): 12%; Dịch vụ (khu vực III): 11%.
Phương án 2: tăng trưởng GDP là 12,5%/năm. Trong đó các ngành: Nông nghiệp (khu vực I): 3%;
Công nghiệp (khu vực II): 12,5%; Dịch vụ (khu vực III): 12,5%.
Các mục tiêu chủ yếu về phát triển thành phố liên quan đến quy hoạch mạng lưới cửa hàng
xăng dầu:
1. Thành phố sẽ tiếp tục việc chỉnh trang đô thị cũ và mở rộng đô thị mới nhằm thực hiện mục tiêu là
xây dựng một đô thị cấp quốc gia, có quy mô dân số khoảng 7,22 triệu người vào năm 2010 và 10
triệu người vào năm 2020, với cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội văn minh hiện đại, đảm bảo
mục tiêu phát triển kinh tế và cải thiện dân sinh, theo tinh thần Nghị quyết 20/TW/BCT về thành phố;
tạo tiền đề để mở rộng không gian đô thị thành phố theo quy mô đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt đến năm 2020.
2. Tập trung nguồn lực để nâng cao chất lượng và tiến độ quy hoạch chi tiết (tỷ lệ 1/2000, 1/500) trên
tất cả địa bàn đô thị hóa theo quy hoạch; điều chỉnh bổ sung quy hoạch chung gắn liền với việc quy
hoạch vùng đô thị thành phố Hồ Chí Minh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; gắn kết việc quy
hoạch không gian đô thị với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh - quốc phòng và
phải dựa trên cơ sở hiệu quả sử dụng quỹ đất của thành phố; triển khai xây dựng Khu đô thị mới như
đô thị Tây Bắc thành phố, Thủ Thiêm, Khu đô thị Nam Sài Gòn và các khu dân cư mới khác; tạo điều
kiện để tái bố trí dân cư hợp lý; đảm bảo các tiêu chuẩn đô thị hiện đại về diện tích đất giao thông,
đất ở, mật độ cây xanh, đất cho sự nghiệp văn hóa giáo dục, y tế, thể thao
3. Về giao thông vận tải: Mục tiêu lâu dài phải phát triển cơ bản mạng lưới cầu đường bộ gồm đường
đối ngoại, các trục xuyên tâm hệ thống đường chính nội đô. Định hướng phát triển mạng lưới giao
thông đến năm 2010 với một số tuyến chính như sau:
- Xây dựng khép kín đường vành đai 1, vành đai 2 cùng tất cả các nút giao thông trên tuyến.
- Cải tạo nâng cấp trục hướng tâm, trục xuyên tâm Bắc - Nam bao gồm tất cả các nút giao thông trên
tuyến và xây dựng trục xuyên tâm Đông - Tây.
- Xây dựng tuyến đường bộ trên cao số 1 và một số đoạn tuyến đường bộ trên cao hỗ trợ cho tuyến
xuyên tâm Bắc - Nam.
- Cải tạo, nâng cấp các đường phố chính tạo thành mạng lưới đường “xương sống” trong nội đô.
- Xây dựng một số tuyến tầu điện ngầm (metro) ưu tiên.
- Dự kiến đến năm 2010 tổng chiều dài km đường đạt 3.120 km, nâng mật độ đường trên diện tích
lãnh thổ đạt 1.490km/km
2
; mật độ đường trên 1.000 dân là 0,43km/1.000 dân.
- Hoàn thành các cầu trên các tuyến đường chính với một số các cầu, hầm lớn như hầm Thủ Thiêm,
cầu Phú Mỹ, cầu Nguyễn Văn Cừ, cầu Thủ Thiêm, cầu Bình Phước để phân luồng xe tải; Phát triển
cơ sở hạ tầng giao thông vận tải ở thành phố Hồ Chí Minh, làm nền tảng vững chắc cho thành phố
phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
II. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM VÀ THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hiện nay Việt Nam đã khai thác được dầu thô nhưng sản phẩm xăng dầu đều phải nhập khẩu để tiêu thụ
trong nước và tái xuất một lượng nhỏ. Theo số liệu của Cục Thuế, Tổng Cục Hải quan và Bộ Thương
mại theo dõi tình hình nhập khẩu xăng dầu thì từ năm 1997 đến 2003 lượng xăng dầu được nhập
khẩu theo các chủng loại như sau:
Bảng 2. Thống kê nhập khẩu xăng dầu
Đơn vị tính: nghìn tấn
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Tổng 5.829 6.565 7.173 8.599 8.878 9.869 9.955
Nguồn: Theo thống kê của Bộ Thương mại, Tổng cục Thuế
Tại thành phố Hồ Chí Minh, theo số liệu khảo sát tháng 3 năm 2005 về sản lượng bán ra tại các cửa
hàng bán lẻ xăng dầu trên các quận - huyện trong năm 2004 như sau:
Bảng 3. Sản lượng bán ra tại các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn thành phố năm 2004
Tên quận, huyện
Tổng sản lượng bán
ra (m
3
/tháng)
Tên quận, huyện
Tổng sản lượng bán
ra (m
3
/tháng)
Quận 1 4.621 Quận Tân Bình 4.848
Quận 2 1.939 Quận BìnhThạnh 4.654
Quận 3 4.685 Quận Bình Tân 3.342
Quận 4 716 Quận Gò Vấp 4.151
Quận 5 2.228 Huyện Bình Chánh 2.224
Quận 6 4.018 Quận Thủ Đức 7.909
Quận 7 2.576 Quận Phú Nhuận 2.571
Quận 8 2.219 Quận Tân Phú 3.430
Quận 9 2.595 Huyện Nhà Bè 456
Quận 10 1.910 Huyện Cần Giờ 461
Quận 11 3.807 Huyện Hóc Môn 2.021
Tên quận, huyện
Tổng sản lượng bán
ra (m
3
/tháng)
Tên quận, huyện
Tổng sản lượng bán
ra (m
3
/tháng)
Quận 12 4.282 Huyện Củ Chi 3.090
Cộng toàn thành phố 74.760m
3
/tháng = 897.115m
3
/năm
Hiện nay việc cung cấp xăng dầu ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh vẫn do Nhà nước quản lý thông
qua các doanh nghiệp được cấp giấy phép nhập khẩu trực tiếp, bao gồm: Tổng Công ty Xăng dầu
Việt Nam, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), Công ty Thương mại kỹ thuật và đầu tư
(Petec), Công ty Dầu khí thành phố (SaigonPetro), Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam
(Vinapco).
Do tầm quan trọng đặc biệt của mặt hàng xăng dầu đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo
an ninh quốc phòng của đất nước nên Chính phủ ban hành các chính sách điều tiết kinh doanh xăng
dầu, trong đó về mặt tổ chức là chống độc quyền, nâng cao cạnh tranh thương mại và chất lượng dịch
vụ với khách hàng. Gần đây khi tình hình giá xăng dầu thế giới tăng đột biến (từ quý IV năm 2003),
Bộ Thương mại chỉ đạo sát sao, kiên quyết triển khai Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg của Chính
phủ và Quyết định 1505/2003/QĐ-BTM của Bộ Thương mại, đã làm cho toàn bộ hệ thống tổ chức
kinh doanh xăng dầu ở nước ta chuyển biến tích cực.
Tổng quát về chỉ đạo quản lý và tổ chức cung ứng xăng dầu đối với hệ thống kinh doanh xăng dầu của cả
nước và thành phố Hồ Chí Minh, được thể hiện qua sơ đồ sau:
CHÍNH PHỦ
BỘ THƯƠNG MẠI
UBND TỈNH
PETROVIETNAM
PETEC
- CÁC CÔNG TY XĂNG
DẦU KHU VỰC
- CÔNG TY
XĂNG DẦU TỈNH
- PETECHIM
- PTSC
- PVPDC
- PETROMEKONG
CÔNG TY HÀNG
KHÔNG VIỆT NAM
BAN TÀI CHÍNH
QUẢN TRỊ TP HCM
THÀNH ỦY
TP HCM
MINH
CÔNG TY
THƯƠNG MẠI
TỈNH, T. PHỐ
VINAPCO
SAIGON PETRO
PETROLIMEX
III. HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG KHO XĂNG DẦU TẠI KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH VÀ PHỤ CẬN
Tổng sức chứa hiện tại của các kho xăng dầu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là 785.000m
3
(không kể sức chứa của Vinapco). Nếu vòng quay tính bình quân 10 vòng trong 1 năm thì khối lượng
xăng dầu qua kho 1 năm là 7.850.000m
3
và nếu tỷ lệ cấp phát qua bán lẻ chiếm 30% thì với sức chứa
của các kho hiện tại đáp ứng được cho nhu cầu tiêu thụ của thành phố là 2.355.000m
3
/năm. Năng lực
nhập xăng dầu trên các bến cảng của các kho có khả năng đạt được 17,8 triệu tấn/năm, kết cấu công
trình bến cho phép các phương tiện thủy có tải trọng đến 35.000DWT có thể ra vào bến để xuất, nhập
xăng dầu.
Trong tương lai các tổng kho trên còn mở rộng sức chứa (Tổng kho xăng dầu Nhà Bè, kho Cảng dầu
khí Petechim Nhà Bè, kho xăng dầu Cát Lái Petec) thì sức chứa của các tổng kho này vẫn đảm bảo
được khả năng cung ứng cho thành phố Hồ Chí Minh.
Một số ưu - nhược điểm chính của hệ thống kho xăng dầu:
- Các kho xăng dầu nằm ở các vị trí thuận lợi, phù hợp với giao thông đường thủy và đường bộ.
Riêng cụm kho cảng Cát Lái của SaigonPetro và Petec có khả năng phải quy hoạch một vị trí khác
theo tiến trình di dời các cảng phù hợp với quy hoạch mới về các cảng biển của thành phố Hồ Chí
Minh.
- Có sức chứa đáp ứng được yêu cầu cung ứng đến năm 2010.
- Được trang bị thiết bị công nghệ tiên tiến ngang tầm với các nước trong khu vực.
- Bảo đảm các yêu cầu về an toàn phòng cháy chữa cháy và vệ sinh môi trường.
- Nhiều kho có điều kiện thuận lợi để mở rộng như Tổng kho Nhà Bè của Petrolimex, Nhà Bè
Petechim.
- Ngoại trừ Tổng kho Nhà Bè của Công ty Xăng dầu Khu vực 2 - Petrolimex, các kho của các doanh
nghiệp khác chưa trang bị mái phao chống bay hơi, hệ thống quản lý kho bể và xuất hàng còn thủ
công. Các kho của các doanh nghiệp khác khai thác chưa cao, số vòng quay hàng chỉ đạt khoảng 12
vòng/năm do không có hệ thống kho trung chuyển ở các tỉnh.
IV. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC CUNG ỨNG XĂNG DẦU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sơ đồ vận tải xăng dầu để cung cấp cho địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- Vận tải đường biển từ nước ngoài (chủ yếu từ khu vực Singapore) về các kho cảng tiếp nhận đầu
mối ở Nhà Bè, Cát Lái và Vũng Tàu.
- Vận tải đường bộ (ô tô xitec) từ các kho đến các hộ tiêu thụ và cửa hàng bán lẻ.
- Vận tải đường sông cung cấp cho các hộ tiêu thụ và các xà lan bán xăng dầu trên sông.
Tổ chức cung ứng xăng dầu của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tại thành phố Hồ Chí Minh
có thể tóm lược là: Các doanh nghiệp có quota được phép nhập khẩu trực tiếp xăng dầu, cung ứng
CÁC KHO ĐẦU MỐI, KHO TRUNG CHUYỂN, KHO CẤP PHÁT
HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP, CỬA HÀNG BÁN LẺ
cho các công ty, xí nghiệp hoặc chi nhánh tại thành phố, các đơn vị này cung cấp cho các tổng đại lý,
từ đó cung cấp cho các cửa hàng bán lẻ xăng dầu. Hệ thống tổ chức cung ứng này thể hiện tính cạnh
tranh mạnh mẽ của kinh tế thị trường (có nhiều doanh nghiệp, thành phần kinh tế tham gia thị trường
bán lẻ xăng dầu). Tuy nhiên trên thực tế hệ thống tổ chức trên cũng bộc lộ những tồn tại chính:
- Thiếu thống nhất về quy mô cửa hàng, đầu tư xây dựng mang tính tự phát.
- Khó kiểm soát chất lượng dịch vụ thương mại do xăng dầu được luân chuyển qua nhiều đơn vị mới
đến cửa hàng bán lẻ. Các cơ quan chức năng quản lý thị trường của thành phố khó có thể kiểm tra,
giám sát được chất lượng xăng dầu cũng như lượng bán qua đồng hồ điện tử của rất nhiều chủ doanh
nghiệp khác nhau.
V. KHẢO SÁT, PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CỬA HÀNG BÁN
LẺ XĂNG DẦU HIỆN CÓ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Tính đến thời
điểm tháng 8 năm 2006)
V.1. Nội dung và phương pháp khảo sát hiện trạng
Công tác khảo sát hiện trạng được thực hiện từ tháng 3 năm 2005 và kết thúc việc phúc tra vào tháng
9 năm 2006. Công tác khảo sát được thực hiện với 03 loại hình công việc:
- Điều tra số liệu, tư liệu theo 03 mẫu phiếu điều tra với 28 thông tin và 179 dữ liệu. Công tác điều tra
do Đội Quản lý thị trường của Sở Thương mại và các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu thực hiện,
tiếp đó đơn vị tư vấn phối hợp với Sở Thương mại đi phúc tra lại.
- Ghi nhận hình ảnh: Các cửa hàng được chụp từ 01 đến 02 ảnh bằng máy ảnh kỹ thuật số.
- Công tác đo tọa độ và định vị cửa hàng trên bản đồ: Tất cả các cửa hàng xăng dầu hiện có đều được
đo tọa độ GPS.
- Bản đồ hiện trạng được thực hiện theo tỷ lệ: Bản đồ hiện trạng các cửa hàng xăng dầu toàn thành
phố: tỷ lệ 1/50.000; Bản đồ hiện trạng 24 quận - huyện: tỷ lệ 1/25.000.
Trên bản đồ hiện trạng, có thể sử dụng chương trình quản trị dữ liệu để khai thác các thông tin và dữ
liệu về cửa hàng trên đĩa CD như: tên gọi, tên doanh nghiệp, địa điểm và tọa độ, diện tích, sản lượng
bán
V.2. Xây dựng các tiêu chí đánh giá hiện trạng
Có 08 tiêu chí chính để phân tích, đánh giá hiện trạng mạng lưới và phân loại cửa hàng, trong mỗi
tiêu chí chính có các tiêu chí nhỏ chỉ dẫn cụ thể theo các yêu cầu khác nhau của các quy định hiện
hành, bao gồm:
- Tiêu chí về việc chấp hành các quy định pháp lý về kinh doanh xăng dầu.
- Tiêu chí về xây dựng và việc chấp hành các quy định trong xây dựng (thời điểm, vị trí, diện tích,
tuân thủ các khoảng cách theo quy định ).
- Tiêu chí về công nghệ, thiết bị và trình độ công nghệ (số lượng trụ bơm, công nghệ xuất bán và thiết
bị).
- Tiêu chí về quy mô sức chứa và sản lượng kinh doanh (phân cấp theo sức chứa, sản lượng bán).
- Tiêu chí về đảm bảo an toàn cháy nổ (thiết bị phòng nổ, van thở, thu lôi, tiếp địa chống tĩnh
điện ).
- Tiêu chí về đảm bảo vệ sinh môi trường (hố thu gom và lắng gạn dầu, hệ thống thoát nước có nhiễm
bẩn xăng dầu, tình trạng ngập nước mưa).
- Tiêu chí về mật độ phân bố cửa hàng xăng dầu trên từng quận - huyện và trên toàn thành phố (mật
độ phân bố theo diện tích và dân số, các dịch vụ khác).
- Tiêu chí về điều kiện phát triển để đánh giá và phân loại thành 03 loại cửa hàng theo đề cương: Phải
ngưng kinh doanh để chờ Quyết định giải tỏa; Được phép tồn tại nhưng phải cải tạo; có điều kiện mở
rộng và phát triển thêm loại hình dịch vụ.
V.3. Kết quả tổng hợp, tính toán, phân tích, đánh giá và phân loại các cửa hàng xăng dầu theo
các tiêu chí
Đề án đã tiến hành tổng hợp các thông tin và dữ liệu điều tra hiện trạng, tiến hành các tính toán cần
thiết. Từ đó đã phân tích, đánh giá mạng lưới và phân loại các cửa hàng theo 8 tiêu chí, đồng thời rút
ra nhận định và đánh giá tổng quát như sau:
1. Về vai trò và nhiệm vụ của hệ thống cửa hàng
Hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên địa bàn thành phố gồm có 557 cửa hàng (tính đến ngày 30
tháng 9 năm 2006) được phân bổ rộng khắp trên các quận - huyện, trong đó:
Bảng 4. Phân bố cửa hàng trên các quận - huyện
Quận -
huyện
Số
lượng
Quận - huyện
Số
lượng
Quận - huyện
Số
lượng
Quận 1 9 Quận 9 17 Quận Tân Phú 28
Quận 2 10 Quận 10 11 Quận Gò Vấp 33
Quận 3 15 Quận 11 14 Quận Thủ Đức 32
Quận 4 3 Quận 12 40 Huyện Bình Chánh 48
Quận 5 13 Quận Tân Bình 23 Huyện Nhà Bè 9
Quận 6 16 Quận Bình Thạnh 25 Huyện Cần Giờ 10
Quận 7 22 Quận Bình Tân 36 Huyện Hóc Môn 38
Quận 8 18 Quận Phú Nhuận 8 Huyện Củ Chi 79
Hệ thống cửa hàng xăng dầu hiện có trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh về cơ bản đã đáp ứng được
nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; đã thỏa mãn được nhu cầu
tiêu dùng của người dân. Do có nhiều cửa hàng phân bố đều khắp trên các quận - huyện và thông qua
vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp Nhà nước, nên khi có biến động về giá của thị trường Thế giới
và thị trường trong nước, thành phố Hồ Chí Minh vẫn đáp ứng đủ số lượng, bình ổn được giá cả và
duy trì được chất lượng cho người tiêu dùng, không để xảy ra những xáo động gây ảnh hưởng đến
đời sống xã hội của thành phố.
2. Về chủ sở hữu và tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Trước năm 1990, hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên địa bàn thành phố chủ yếu do Công ty Xăng
dầu Khu vực 2 (Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam) quản lý. Từ 1991 đến nay, cùng với sự hình
thành các kho tiếp nhận đầu mối Cát Lái của Công ty Dầu khí thành phố Hồ Chí Minh (SaigonPetro),
Công ty Thương mại kỹ thuật và đầu tư (Petec), kho Vũng Tàu của Công ty chế biến và kinh doanh
sản phẩm dầu mỏ (PVPDC), kho xăng dầu Quân đội ở Nhà Bè, kho Nhà Bè của Công ty Thương mại
dầu khí (Petechim) thì tại địa bàn thành phố đã có nhiều doanh nghiệp đầu tư xây dựng cửa hàng để
tham gia thị trường bán lẻ và cạnh tranh mạnh mẽ với Công ty Xăng dầu Khu vực 2. Trong số 557
cửa hàng, tỷ trọng của các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh xăng dầu bao gồm:
- Doanh nghiệp Nhà nước có 120 cửa hàng, chiếm 21,5%.
- Công ty Cổ phần có 106 cửa hàng, chiếm 19%.
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn có 70 cửa hàng, chiếm 12,5%.
- Doanh nghiệp tư nhân có 257 cửa hàng, chiếm 46%.
- Hợp Tác xã có 02 cửa hàng, chiếm 0,35%.
- Hộ cá thể có 02 cửa hàng, chiếm 0,35%.
Trong số 557 có 77 cửa hàng do các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu trực tiếp bán lẻ, chiếm 13,8%.
Số còn lại 480 cửa hàng chiếm 86% thông qua hình thức tổng đại lý và đại lý. Như vậy có thể thấy
hình thức tổng đại lý và đại lý đã góp phần vào việc phát triển mạng lưới nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu
dùng, đồng thời cũng tăng cao tính cạnh tranh về chất lượng dịch vụ giữa các doanh nghiệp.
Xem xét về mặt chấp hành các quy định Nhà nước của các doanh nghiệp trong kinh doanh xăng dầu
cho thấy:
Về giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu:
- Có 486 cửa hàng xăng dầu còn thời hạn của giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chiếm 87,25
%.
- Có 35 cửa hàng xăng dầu hết thời hạn của giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chiếm 6,28 %.
- Có 36 cửa hàng xăng dầu không có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu, chiếm gần
6,50 %.
Như vậy có thể thấy đại đa số các doanh nghiệp chấp hành đúng các quy định về pháp lý, số ít cửa
hàng xây dựng không thông qua sự quản lý của các cơ quan chức năng.
3. Về năng suất bán hàng:
Sản lượng bình quân của một cửa hàng tại thành phố Hồ Chí Minh cao hơn so với các địa phương
khác tại Nam Bộ. Tuy nhiên do mật độ tại một số nơi quá dày nên hiệu quả khai thác cửa hàng chưa
cao, một số cửa hàng quy mô nhỏ chỉ có 01 cột bơm để bán xăng cho xe máy nên có sản lượng thấp,
một số cửa hàng mới xây dựng tại các xã, ấp cũng có sản lượng thấp, tại khu vực nội thành do lượng
xe máy quá nhiều nên sản lượng rất cao.
- Có 385 cửa hàng đạt sản lượng đến 120m
3
/tháng chiếm 69%;
- Có 119 cửa hàng đạt sản lượng từ 121 đến 300m
3
/tháng chiếm 21%;
- Có 53 cửa hàng đạt sản lượng trên 300m
3
/tháng chiếm 9,5%.
Sản lượng bình quân 01 cửa hàng = 132m
3
/tháng tương ứng 4,4m
3
/ngày.
4. Về phân bố, sử dụng đất và chất lượng của mạng lưới cửa hàng:
A. Về phân bố:
Từ số liệu thống kê về diện tích và dân số, xem xét sự phân bố cửa hàng trên địa bàn thành phố cho
thấy mật độ phân bố trung bình toàn thành phố: 0,27/km
2
có 01 cửa hàng và 10.000 người dân có
01 cửa hàng. Trong đó: phân bố cao tại một vài quận nội thành như: quận 3 = 3,25 cửa hàng/01km
2
;
quận 5 = 3,28 cửa hàng/01km
2
; quận 6 = 2,5 cửa hàng/01km
2
. Trong khi ở các huyện ngoại thành
lại quá thưa như: quận 12 = 0,7 cửa hàng/01km
2
; huyện Bình Chánh = 0,14 cửa hàng/01km
2
… Điều
này cho thấy: tuy có số lượng cửa hàng lớn, nhưng mật độ phân bố trên địa bàn chưa phù hợp. Từ
đó dẫn đến năng suất bán giữa các cửa hàng chênh lệch khá lớn, nhiều cửa hàng chưa khai thác hết
năng lực và làm cho hiệu quả đầu tư của xã hội chưa cao.
B. Về quy mô sử dụng đất:
Tổng diện tích sử dụng quỹ đất của thành phố đối với 557 cửa hàng hiện có khoảng trên 578.000m
2
,
trung bình mỗi cửa hàng chiếm gần 1.000m
2
. Toàn thành phố có trên 40 cửa hàng có diện tích đất nhỏ
dưới 100m
2
, chiếm 7%. Có trên 100 cửa hàng diện tích đất 101 - 400m
2
, chiếm 22%, đây là loại cửa
hàng nhỏ. Có trên 200 cửa hàng có diện tích đất từ 401m
2
đến 1.000m
2
, chiếm 40%, đây là cửa hàng
thuộc loại trung bình. Có trên 100 cửa hàng có diện tích đất trên 1.000m
2
, chiếm 31%, đây là cửa
hàng thuộc loại lớn, chủ yếu tập trung tại ven đô và ngoại thành.
Qua phân tích trên có thể thấy bức tranh toàn cảnh của hệ thống cửa hàng là sự phát triển tự do không
được định hướng. Loại trừ các cửa hàng xây dựng trước năm 1975, các cửa hàng xây dựng sau này
cũng không được thực thi theo một quy định thống nhất, tùy thuộc vào vị trí đất có sẵn chủ đầu tư tự
ý làm theo khả năng tài chính của mình, sự tự phát này đã góp phần vào việc phá vỡ cảnh quan, gây
ảnh hưởng đến giao thông, đến an toàn phòng cháy chữa cháy và môi trường.
C. Về chất lượng xây dựng:
Về quy mô bán hàng:
- Có trên 100 cửa hàng có quy mô lớn trên 6 cột bơm, chiếm khoảng 23%. Các cửa hàng này phần
lớn nằm ở ngoại thành trên các cửa ngõ vào thành phố.
- Có trên 300 cửa hàng có 4 - 6 cột bơm, chiếm khoảng 59%.
- Còn lại gần 100 cửa hàng chỉ có đến 3 cột bơm, chiếm 16%.
Về kiểu dáng kiến trúc: Hiện đang tồn tại nhiều kiểu dáng kiến trúc khác nhau: Các cửa hàng xăng
dầu của các doanh nghiệp lớn (Công ty xăng dầu khu vực 2, Công ty SaigonPetro, Công ty
Comeco ) xây dựng tương đối khang trang, kiểu dáng đẹp. Nhiều cửa hàng được cải tạo từ các nhà
hoặc cửa hàng khác, lắp đặt thêm 01 - 02 cột bơm để bán xăng dầu nên không có kiến trúc đẹp, quy
mô nhỏ và mặt bằng chật hẹp, không thuận lợi cho xe ô tô vào mua hàng.
Về diện tích mái che trụ bơm: Có trên 100 cửa hàng có diện tích mái che dưới 50m
2
, chiếm
22%; có trên 180 cửa hàng có diện tích mái che từ 50 đến 100m
2
, chiếm 32%; có gần 200 cửa hàng
có diện tích mái che trên 100m
2
, chiếm 45%.
Về kết cấu xây dựng: Có gần 400 cửa hàng có kết cấu kiên cố (bê tông cốt thép hoặc có kết cấu nhẹ:
dàn mái thép). Còn tồn tại gần 70 cửa hàng có kết cấu tạm, chiếm tỷ lệ 12%.
Về trình độ công nghệ và thiết bị: Hầu hết cửa hàng sử dụng các loại cột bơm điện tử của Nhật,
Mỹ, Italia hoặc lắp ráp trong nước. Tuy nhiên vẫn còn một số doanh nghiệp tư nhân còn tận dụng các
cột bơm cũ sản xuất trước năm 1990 cải tạo lại. Có gần 400 cửa hàng bố trí họng nhập kín, đạt 89%,
vẫn còn trên 60 cửa hàng không có họng nhập kín, gây nguy cơ mất an toàn về cháy nổ và ô nhiễm
môi trường. Có gần 400 cửa hàng có lắp đặt van thở, số còn lại là trên 60 cửa hàng không lắp đặt.
Điều này cũng có thể thấy nguy cơ cháy nổ và gây ô nhiễm vẫn tiềm ẩn tại các cửa hàng này. Có gần
300 cửa hàng có kiểm định chất lượng cột bơm, chiếm 55%. Chỉ có một số ít cửa hàng của Công ty
xăng dầu khu vực 2 lắp đặt thí điểm hệ thống đo mức bể chứa tự động, còn lại đại đa số chưa được
lắp đặt. Do vậy, nhìn chung, thiết bị và công nghệ của hệ thống cửa hàng hiện có cũng chỉ ở cấp độ
tương đương hoặc thấp kém hơn so với các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Về an toàn phòng cháy chữa cháy: Ở thời điểm ngày 30 tháng 11 năm 2005, trong số 460 cửa
hàng xây dựng sau năm 1975 có 25 cửa hàng vi phạm khoảng cách đến công trình công cộng (nhỏ
hơn 50m theo quy định), chiếm 5,4%; Đa số cửa hàng chỉ lắp đặt đèn phòng nước, chưa đạt yêu
cầu phòng nổ. Trong số 451 cửa hàng xây dựng sau năm 1975, chỉ có 228 cửa hàng có thiết bị điện
phòng nổ, đạt 49%, số còn lại chưa được lắp thiết bị điện phòng nổ; Hệ thống tiếp địa chống tĩnh
điện cũng bị vi phạm nghiêm trọng. Trong số 460 cửa hàng xây dựng sau năm 1975, chỉ có 208 cửa
hàng có hệ thống tiếp địa (chiếm 45%), số còn lại không có. Các cửa hàng này, tuy trên thực tế
chưa xảy ra cháy nổ, nhưng rõ ràng đang tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ có thể gây sự cố nghiêm trọng
đến người và các hoạt động xã hội. Nhưng sau khi thực hiện Thông báo số 469/TB-VP, ngày 26
tháng 7 năm 2006 của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố và qua Văn
bản số 2369/CATP (PCCC), ngày 27 tháng 7 năm 2006 của Công an thành phố, hệ thống cửa hàng
xăng dầu đã được chấn chỉnh và đảm bảo điều kiện an toàn phòng cháy chữa cháy.
Về vệ sinh môi trường: Đối với khí thải từ các bể chứa xăng dầu, các khu bể đều có lắp đặt van thở,
hạn chế đáng kể hơi xăng dầu thoát ra môi trường. Tuy nhiên do một số cửa hàng có diện tích đất quá
hạn hẹp, ở liền kề với nhà dân xung quanh nên lượng hơi xăng dầu thoát ra lúc nhập hàng là nguy cơ
cao về cháy nổ và ô nhiễm môi trường cho các hộ dân ở kề cận.
Đối với nước thải, do nguyên nhân khách quan là hệ thống thoát nước chung của nhiều khu phố ở
thành phố hiện đang bị xuống cấp và quá tải. Khi có mưa là xảy ra ngập lụt trên diện rộng ở nội
thành. Do vậy việc thoát nước của mỗi cửa hàng xăng dầu đều bị ảnh hưởng rất xấu.
Xem xét đến việc thoát nước cục bộ của 451 cửa hàng xây dựng sau năm 1975 cho thấy:
- Trong số 451 của hàng xây dựng sau năm 1975, có 196 cửa hàng có đủ hệ thống thoát nước nhiễm
bẩn xăng dầu (chiếm 42,7%) còn lại chưa có hệ thống thoát nước nhiễm bẩn xăng dầu.
- Trong số 451 của hàng xây dựng sau năm 1975, có trên 356 cửa hàng có đủ hệ thống thoát nước
mưa (chiếm 77,5%) còn lại chưa có hệ thống thoát nước mưa.
- Trong số 451 của hàng xây dựng sau năm 1975, có trên 83 cửa hàng có bố trí hố gạn dầu, chiếm
18% còn lại không có hố gạn.
- Có 22 cửa hàng trong tình trạng ngập nước nhiều và ngập vừa.
Một trong những vấn đề rất quan trọng đối với các cửa hàng xăng dầu là khả năng rò rỉ xăng dầu từ
bồn chứa ngầm ra môi trường đất, nếu xảy ra sự cố này sẽ gây ô nhiễm môi trường và nguy cơ cháy
nổ rất cao, khắc phục sự cố là khó khăn và tốn kém. Đây cũng là vấn đề cần được quan tâm đối với
quy hoạch phát triển các cửa hàng mới, trong đó nên xem xét giải pháp đặt các bồn chứa như một số
nước đã làm.
5. Về phân loại 557 cửa hàng và tiến trình xử lý:
Hiện trạng trên địa bàn thành phố tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2006 có 557 cửa hàng xăng dầu -
Phụ lục 1.
Căn cứ theo 8 tiêu chí và nguyên tắc phân loại đã nêu trên. Căn cứ vào hiện trạng cửa hàng xăng dầu,
quy định của Nhà nước về kinh doanh xăng dầu, chia ra làm 4 phương thức giải quyết như sau:
Phụ lục 2 (Loại 1): 61 cửa hàng xăng dầu - Không được phép tồn tại, phải ngưng hoạt động kinh
doanh xăng dầu năm 2006, với lý do:
Không được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu, vì không đủ các điều kiện theo
quy định, nhất là về quy định xây dựng.
Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu đã hết hạn vì vi phạm các điều kiện quy định sau:
Không có giấy phép xây dựng; vi phạm khoảng cách đến công trình công cộng, đến cầu đường bộ;
nằm dưới đường dây cao thế; nằm gần giao lộ (cách giao lộ dưới 50m); vi phạm các quy định về an
toàn phòng cháy chữa cháy và môi trường; diện tích nhỏ hơn 100m
2
.
Phụ lục 2 (Loại 2): 113 Cửa hàng xăng dầu - Được phép tồn tại tạm thời trong giai đoạn 2007-
2010, chờ thực hiện quyết định giải tỏa trước năm 2010, với lý do:
- Không có giấy phép xây dựng, nhưng được các cơ quan chức năng có ý kiến cho tạm thời hoạt động
một thời gian.
- Cửa hàng nằm trong diện giải tỏa của các dự án khác.
- Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu chỉ cấp tạm từ 1 năm.
Phụ lục 2 (Loại 3): 338 cửa hàng xăng dầu - Được phép tồn tại sau năm 2010, nhưng phải cải tạo
nâng cấp và di dời theo đúng quy định của tiêu chuẩn - quy chuẩn xây dựng Việt Nam. Các cửa hàng
xăng dầu này:
- Có giấy phép xây dựng, có quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố hoặc cơ quan có thẩm quyền
giao quản lý sử dụng.
- Có vi phạm lộ giới hoặc cơ sở vật chất kỹ thuật xuống cấp.
Phụ lục 2 (Loại 4): 45 cửa hàng xăng dầu - Các điều kiện quy định kinh doanh đảm bảo:
Không thuộc các loại trên, có điều kiện phát triển mở rộng công suất và kinh doanh các dịch vụ khác.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét