Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
của ODA chính là một phần của tổng sản phẩm quốc dân của các nước giàu
được chuyển sang các nước nghèo. Do vậy ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và
chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía
nước tiếp nhận ODA.
2. Vốn ODA mang tính ràng buộc
ODA có thể ràng buộc ( hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng ) nước
nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có
những ràng buộc khác nhau nhiều khi rất chặt chẽ với nước nhận đầu tư. Ví dụ :
Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằng đồng Yên Nhật
Bản.
Nguồn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích
của nước viện trợ.
Vốn ODA gắn liền với chính trị và là một trong những phương tiện thực
hiện ý đồ chính trị : Viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là việc
trợ giúp hữu nghị, mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì lợi ích
kinh tế và vị thế chính trị cho nước tài trợ. Những nước cấp viện trợ đòi hỏi các
nước tiếp nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của
bên tài trợ. Ngoài ra, ODA còn chịu ảnh hưởng bởi các quan hệ sẵn có của bên
cấp viện trợ cho nước nhận viện trợ bởi sự tương hợp về thể chế chính trị, bởi
quan hệ địa dư gần gũi. Khi nhận viện trợ, các nước nhận cần cân nhắc kĩ lưỡng
những điều kiện của các nhà tài trợ. Không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất
những quyền lợi lâu dài. Quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn
trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau, bình đẳng cùng có lợi.
Vốn ODA gắn với các điều kiện kinh tế : Các nước viện trợ nói chung đều
không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực
hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ. Nhìn
chung 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ
của các quốc gia viện trợ. Họ gắn quỹ viện trợ với việc mua hàng hóa và dịch vụ
của nước họ như là một biện pháp tăng cường khả năng làm chủ thị trường xuất
khẩu và giảm bớt tác động của viện trợ đối với cán cân thanh toán.
3. ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ
nần thường chưa xuất hiện. Một số nước do sử dụng không hiệu quả ODA, có
thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng
nợ nần do không có khả năng trả nợ. Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA
không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi
việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định chính
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sách sử dụng ODA phải phối hợp với các loại nguồn vốn để tăng cường sức
mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
IV. PHÂN LOẠI ODA
1. Theo nguồn vốn cung cấp
- ODA song phương: nước này viện trợ, tài trợ cho nước khác.
- ODA đa phương: nhiều nước hình thành một quỹ (hoặc tổ chức) để viện
trợ, tài trợ cho một nước.
2. Theo tính chất
- ODA không hoàn lại : Đây là nguồn vốn ODA mà nhà tài trợ cấp cho
các nước nghèo không đòi hỏi phải trả lại. Cũng có một số nước khác được nhận
loại ODA này khi gặp phải các vấn đề nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh
Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn này thường được cấp dưới dạng
các dự án hỗ trợ kỹ thuật, các chương trình xã hội hoặc hỗ trợ cho công tác
chuẩn bị dự án. ODA không hoàn lại thường là các khoản tiền nhưng cũng có
khi là hàng hoá, ví dụ như lương thực, thuốc men hay một số đồ dùng thiết yếu.
ODA không hoàn lại thường ưu tiên và cung cấp thường xuyên cho lĩnh vực
giáo dục, y tế. Các nước Châu Âu hiện nay dành một phần khá lớn ODA không
hoàn lại cho vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ rừng và các loài thú
quý.
- ODA vốn vay ưu đãi : đây là khoản tài chính mà chính phủ nước nhận
phải trả nước cho vay, chỉ có điều đây là khoản vay ưu đãi. Tính ưu đãi của nó
được thể hiện ở mức lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại vào thời điểm cho
vay, thời gian vay kéo dài, có thể có thời gian ân hạn. Trong thời gian ân hạn,
nhà tài trợ không tính lãi hoặc nước đi vay được tính một mức lãi suất đặc biệt.
Loại ODA này thường được nước tiếp nhận đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng
xã hội như xây dựng đường xá, cầu cảng, nhà máy Muốn được nhà tài trợ
đồng ý cung cấp, nước sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên các cơ quan có
thẩm quyền của chính phủ nước tài trợ. Sau khi xem xét khả thi và tính hiệu quả
của dự án, cơ quan này sẽ đệ trình lên chính phủ để phê duyệt. Loại ODA này
chiếm phần lớn khối lượng ODA trên thế giới hiện nay.
- Viện trợ hỗn hợp : ODA theo hình thức này bao gồm một phần là ODA
không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ưu đãi. Đây là loại ODA được áp
dụng phổ biến trong thời gian gần đây. Loại ODA này được áp dụng nhằm mục
đích nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này
3. Theo mục đích
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường. đây thường là những khoản cho vay
ưu đãi.
- Hỗ trợ kỹ thuật : là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công
nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu
tư phát triển thể chế và nguồn nhân lực Loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ
không hoàn lại.
4. Theo điều kiện
- ODA không ràng buộc : Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc
bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
- ODA có ràng buộc :
+ Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được cung cấp
dành để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho một số
công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song phương ),
hoặc công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).
+ Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ chỉ được
cung cấp nguồn vốn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn vốn này cho
những lĩnh vực nhất định hay những dự án cụ thể.
- ODA ràng buộc một phần: Nước nhận viện trợ phải dành một phần ODA
chi ở nước viện trợ (như mua sắm hàng hoá hay sử dụng các dịch vụ của nước
cung cấp ODA), phần còn lại có thể chi ở bất cứ đâu.
5. Theo đối tượng sử dụng
- Hỗ trợ dự án: Đây là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án
cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc
cho vay ưu đãi.
- Hỗ trợ phi dự án: Là loại ODA được nhà tài trợ cung cấp trên cơ sở tự
nguyện. Nhận thức về các vấn đề bức xúc ở nước sở tại, nhà tài trợ yêu cầu
chính phủ nước sở tại được viện trợ nhằm tháo gỡ những khó khăn đó. Khi được
chính phủ chấp thuận thì việc viện trợ được tiến hành theo đúng thoả thuận của
hai bên. Loại ODA này thường được cung cấp kèm theo những đòi hỏi từ phía
chính phủ nước tài trợ. Do đó, chính phủ nước này phải cân nhắc kỹ các đòi hỏi
từ phía nhà tài trợ xem có thoả đáng hay không. Nếu không thoả đáng thì phải
tiến hành đàm phán nhằm dung hoà điều kiện của cả hai phía. Loại ODA này
thường có mức không hoàn lại khá cáo, bao gồm các loại hình sau:
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: Trong đó thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp
(chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hay hỗ trợ xuất nhập khẩu. Ngoại tệ
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hoặc hàng hoá được chuyển vào qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ
trợ cho ngân sách.
+ Hỗ trợ trả nợ: Nguồn ODA cung cấp dùng để thanh toán những món nợ
mà nước nhận viện trợ đang phải gánh chịu.
+ Viện trợ chương trình: Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng
quát với thời gian xác định mà không phải xác định chính xác nó sẽ được sử
dụng như thế nào.
V. Các nguồn cung ODA chủ yếu
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất
nhiều, số lượng nhà tài trợ ODA cho Việt Nam ngày càng tăng. Hiện nay có 51
nhà tài trợ ODA cho Việt Nam bao gồm 28 nhà tài trợ song phương, 23 nhà tài
trợ đa phương và khoảng 600 tổ chức phi chính phủ đang hoạt động thường
xuyên tại Việt Nam. Ngoài các nước là thành viên của Tổ chức OECD-DAC còn
có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, Hung-ga-ri, Séc,
- Các nhà tài trợ song phương: Ai-xơ-len, Anh, Áo, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa,
Cô-oét, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Hungari, I-ta-lia, Luc-xem-bua,
Mỹ, Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ôt-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban
Nha, Thái Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Singapo.
- Các nhà tài trợ đa phương:
+ Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: nhóm Ngân hàng Thế giới
(WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân
hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Quỹ Phát triển quốc
tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC),
Quỹ Kuwait.
+ Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Ủy ban châu Âu (EC), Quỹ Dân
số Liên hợp quốc (UNFPA), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP),
Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC), Quỹ Đầu
tư Phát triển Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ
Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá
của Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Nông
nghiệp và Lương thực (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Bảng 1: Một số nhà tài trợ lớn và các lĩnh vực ưu tiên:
Nhà tài trợ Ưu tiên toàn cầu Ưu tiên Việt Nam
Nhật Bản Hạ tầng kinh tế và dịch vụ Hạ tầng kinh tế và dịch vụ
CHLB Đức
Phát triển kinh tế, cải thiện
điều kiện sống
Hỗ trợ cải cách kinh tế, phát
triển hệ thống GT
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Mĩ
Tăng trưởng kinh tế, ổn định
dân số và sức khỏe
Cứu trợ nạn nhân chiến tranh và
trẻ em mồ côi
Pháp
Phát triển đô thị, GTVT, giáo
dục, khai thác mỏ
Phát triển nhân lực, GTVT,
thông tin liên lạc
Canada
Cơ sở hạ tầng, phát triển khu
vực tư nhân môi trường
Hỗ trợ kinh tế và tài chính, hỗ
trợ thiết chế và quản lý
Thụy Điển
Môi trường và biến đổi khí
hậu; Dân chủ và quyền con
người.
Môi trường và biến đổi khí hậu;
Dân chủ và quyền con người;
Chống tham nhũng.
Thụy Sĩ
Hạ tầng kinh tế; môi trường;
đào tạo nguồn nhân lực;
Đào tạo nhân lực; phát triển đô
thị; môi trường; xóa đói, giảm
nghèo; cải cách hành chính công
Anh Nhiều lĩnh vực Xóa đói giảm nghèo, GTVT
WB
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và tăng phúc lợi
Xóa đói giảm nghèo, GTVT
ADB
Tạo việc làm, thêm cơ hội cho
người nghèo, người yếu thế
Tạo việc làm, thêm cơ hội cho
người nghèo, người yếu thế
IMF
Cân bằng về mậu dịch quốc tế,
ổn định tỉ giá hối đoái
Hô trợ cán cân thanh toán và
điều chỉnh cơ cấu
EU
Giáo dục, y tế, xóa đói giảm
nghèo, bình đẳng.
Giáo dục, y tế, xóa đói giảm
nghèo, bình đẳng; Hỗ trợ cộng
đồng dân tộc thiểu số.
VI. MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ODA.
Để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA phụ thuộc vào nhiều
nhân tố, trong đó có 5 nhân tố chủ yếu:
1. Nguồn cung ODA:
Hiện nay trên thế giới có 2 nguồn cung ODA chủ yếu là các nhà tài trợ
song phương (các nước thành viên của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển – DAC, Trung
– Đông Âu, một số nước Ả Rập và một số nước công nghiệp mới), các tổ chức
tài trợ đa phương (chủ yếu WB, ADB, FDB, IMF), ngoài ra còn có các khoản tài
trợ từ các tổ chức phi chính phủ (NGO). Trong số các nguồn này thì ODA từ các
nước thành viên của DAC là lớn nhất. Hàng năm, dòng vốn này trung bình đạt
khoảng 50.000 triệu USD.
2. Mục tiêu cung cấp ODA của các nhà tài trợ
- Mục tiêu về kinh tế: ODA được sử dụng như một trong những cầu nối để
thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, kinh tế, đưa ảnh hưởng của nước cung cấp
tới các nước đang phát triển. Mặt khác, các nước cung còn sử dụng ODA để xuất
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khẩu tư bản, từ việc tạo ra các món nợ lớn dần cho đến việc các nước tiếp nhận
phải sử dụng chuyên gia của họ, mua vật tư, thiết bị của họ với giá đắt, thậm chí
cả các điều kiện đấu thầu, giải ngân được đưa ra cũng là để làm sao với lãi suất
thấp, có ưu đãi nhưng mà họ vẫn đạt được các mục đích khác nhau một cách
hiệu quả nhất.
+ Ngoài ra, vốn ODA còn là phương tiện để giúp các nước cung cấp viện
trợ thâm nhập thị trường các nước đang phát triển: hàng hóa của nước ngoài có
thể vào thị trường trong nước thông qua việc nước tiếp nhận có những thay đổi
trong chính sách nhập khẩu. Như vậy, khả năng cạnh tranh và xâm chiếm thị
trường của hàng hóa các nước cung cấp ODA so với hàng hóa trong nước tăng
lên. Mặt khác, ODA được cung cấp không hoàn toàn bằng tiền mà bao gồm cả
hàng hóa, thiết bị, máy móc do nước cung cấp sản xuất ra được quy đổi thành
tiền; nghĩa là, ODA bao hàm cả việc tạo ra môi trường cho các thị trường xuất
khẩu.
+ ODA còn tạo ra sự ổn định về nguồn cung cấp nguyên, nhiên vật liệu
cho các nước cung cấp ODA.
Từ những vấn đề mà các nước tiếp nhận ODA cần quan tâm là biết sàng
lọc để có được các nguồn vốn này và sử dụng cóhiệu quả kinh tế cao nhất.
- Mục tiêu chính trị: ODA được sử dụng như là công cụ chính trị của các
nước phát triển. Ví như Mỹ viện trợ cho nước ngoài được coi là “những công cụ
quan trọng thúc đẩy các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Mỹ” và “viện
trợ là một bộ phận quan trọng của vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ”. Điều này lý
giải tại sao ngày nay cơ quan viện trợ phát triển quốc tế của Mỹ (USAID) đang
giảm sự tập trung trước đây vào vấn đề tăng trưởng kinh tế và đang xúc tiến cải
tổ cơ cấu.
- Mục tiêu nhân đạo: Trong các mục tiêu cung cấp ODA của các nhà tài trợ,
mục tiêu vì các chương trình, dự án xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục, bảo
đảm bền vững về môi trường là một phần quan trọng của viện trợ. Mục tiêu này
được thể hiện khá đậm nét trong các chương trình viện trợ của Thụy Điển – một
quốc gia được đánh giá là có nguồn viện trợ mang ý tưởng nhân đạo tiến bộ đã
góp phần không nhỏ vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở các nước
thế giới thứ ba. Các chương trình ODA của Thụy Điển thường được hướng vào
giải quyết các vấn đề như: giảm nghèo, giới, môi trường và phát triển bền vững,
dân chủ và nhân quyền; trong đó hướng tới 4 mục tiêu là tăng trưởng các nguồn
lực, công bằng về kinh tế - xã hội, độc lập về kinh tế và chính trị, phát triển dân
chủ. Có thể nói, mặc dù các mục tiêu đưa ra mới thực hiện được một phần
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhưng đã thể hiện được tinh thần nhân đạo và trách nhiệm của các nước phát
triển đối với các nước đang và kém phát triển.
3. Thay đổi trong chương trình nghị sự và những cải cách trong chính sách
cung cấp ODA của các nhà tài trợ.
Cùng với những biến đổi về môi trường kinh tế, chính trị toàn cầu, dòng
vốn ODA cũng đang có những biến đổi với nhiều sắc thái mới. Trong đó có
nhiều vấn đề thực tế phải đặt ra những câu hỏi khác nhau liên quan tới viện trợ,
rằng có cần thiết tồn tại viện trợ hay không khi mà chiến tranh lạnh đã kết thúc
và dòng vốn tư nhân đổ vào các nước đang phát triển tăng mạnh; chất lượng
phát triển phụ thuộc vào chất lượng chính sách, thể chế và dịch vụ công hơn là
thiếu vốn và thực tế đã chỉ ra thế nào là viện trợ có hiệu quả và không hiệu quả.
Với những thay đổi trong chương trình nghị sự, chính sách cung cấp ODA
của các nhà tài trợ cũng đã được cải cách, theo đó việc cung cấp ODA sẽ được
tiến hành dựa trên các tiêu thức:
Một là, viện trợ tài chính sẽ được chú trọng một cách rõ rệt hơn tới những
nước có thu nhập thấp mà có cơ chế quản lý kinh tế tốt.
Hai là, viện trợ được dành cho những nước có chiến lược cải cách cụ thể và
có tính thuyết phục.
Ba là, hoạt động viện trợ sẽ được thiết kế trên cơ sở các điều kiện của các
quốc gia và ngành.
Bốn là, các dự án tập trung vào việc tạo ra và chuyển giao kiến thức và năng
lực.
Năm là, do các phương pháp truyền thống đã trở nên bất lực nên các cơ quan
viện trợ phải tìm ra được những phương thức thay thế để hỗ trợ cho những quốc
gia có nền kinh tế bị bóp méo nghiêm trọng bởi thể chế và chính sách yếu kém.
4. Chiến lược phát triển và thể chế của nước tiếp nhận
Hầu hết các nước tiếp nhận ODA thường sử dụng nguồn vốn này để đầu
tư vào các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho sản xuất, tạo môi trường hạ tầng tốt để tiếp tục thu hút vốn đầu tư. Tuy
nhiên, một trong những điều kiện để có được ODA là mục tiêu sử dụng vốn của
nước tiếp nhận phải phù hợp với hướng ưu tiên trong mối quan hệ giữa bên cấp
và bên nhận ODA. Do đó, để thu hút được ODA phục vụ cho các quy hoạch
phát triển quốc gia, các nước này cần phải có một chiến lược phát triển đất nước
có những điểm tương đồng với các chính sách ưu tiên của các bên cung cấp
ODA. Đồng thời, có một thể chế nhà nước đủ mạnh để có khả năng tiếp nhận,
quản lý và sử dụng hiệu quả lượng ODA được cung cấp.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Qua nghiên cứu hiệu quả viện trợ cho thấy, thất bại trong hoạch định
chính sách, xây dựng thể chế và cung cấp các dịch vụ công đã trở thành rào cản
đối với phát triển còn trầm trọng hơn so với việc thiếu vốn, từ đó đã chỉ ra cho
các nhà tài trợ thấy rằng viện trợ phát triển nên chú trọng chủ yếu vào hỗ trợ cho
việc cải tổ thể chế và chính sách phù hợp chứ không phải để cấp vốn (một trọng
tâm của cải cách chính sách viện trợ). Vì vậy, ngày nay chiến lược phát triển thể
chế của nước tiếp nhận đang được coi là một trong những nhân tố cạnh tranh có
ảnh hưởng tới khả năng thu hút cũng như hiệu quả sử dụng viện trợ.
5. Chất lượng và hiệu quả sử dụng ODA của nước tiếp nhận
Thực tế, ODA vẫn là vốn vay, phải trả cả gốc lẫn lãi. Vì thế, nếu sử dụng
không hiệu quả thì nợ nần là điều khó tránh khỏi. Do đó, việc thu hút ODA sẽ
phải xem xét lại trong các chương trình nghị sự của nước tiếp nhận không chỉ
dưới giác độ chiến lược, thể chế mà cả trên giác độ chất lượng và hiệu quả sử
dụng nguồn vốn.
Vì ODA là một hình thức của xuất khẩu tư bản, nếu nước tiếp nhận sử
dụng ODA không hiệu quả ở bất kể phương diện nào cũng sẽ ảnh hưởng tới
niềm tin của các bên cung cấp và như vậy, cam kết ODA của các nhà tài trợ sẽ
được cân nhắc lại, điều đó đồng nghĩa với việc nước tiếp nhận sẽ gặp khó khăn
trong việc thu hút nguồn vốn này để phục vụ các mục tiêu phát triển của mình.
Tóm lại, mục tiêu cung cấp ODA của các tổ chức quốc tế, các chính phủ
và các nhà tài trợ ở một khía cạnh nhất định đều nhằm tạo điều kiện cho tăng
trưởng và phát triển ở các nước tiếp nhận viện trợ. Tuy nhiên, với mỗi tổ chức,
mỗi nhà tài trợ lại có những mục tiêu chiến lược riêng cho từng giai đoạn nhất
định. Bởi vậy, việc nắm bắt được các mục tiêu khác nhau của từng nhà tài trợ là
một trong những điều kiện để vừa làm tăng khả năng thu hút nguồn vốn ODA
phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, vừa làm cho các chương trình dự án
được thực hiện có hiệu quả cao hơn về kỹ thuật, kinh tế - xã hội đối với những
nước tiếp nhận.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chương II: TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
NGUỒN VỐN ODA CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2006 – 2010.
I. TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN ODA
1. Quy mô vốn ODA huy động giai đoạn 2006 - 2010
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) có vai trò rất quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển
bền vững của nước ta. Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành tựu trong quá trình
thu hút và sử dụng nguồn vốn này qua từng năm, đặc biệt trong những năm gần
đây, khi tình hình thế giới có nhiều biến đổi bất lợi cho việc gia tăng viện trợ thì
cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế vẫn thể hiện sự cam kết cao và sự ủng hộ
mạnh mẽ trong việc hỗ trợ sự nghiệp phát triển KT - XH và giảm nghèo của
Việt Nam.
Tình hình chính trị, xã hội ổn định; vị thế trên trường quốc tế không
ngừng được nâng cao; kinh tế tiếp tục hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và
thế giới; môi trường thể chế, pháp lý được cải thiện và tiệm cận với thông lệ
quốc tế; quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam với cộng đồng tài trợ quốc tế
không ngừng được củng cố và phát triển, là những thuận lợi cơ bản của Việt
Nam trong việc thu hút nguồn vốn ODA, song cũng như các quốc gia khác,
nước ta không tránh khỏi những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài
chính và suy giảm kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà tài trợ,
Việt Nam đang đối phó tốt với cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu và nền kinh tế
Việt Nam có khả năng trụ vững trong cơn bão suy thoái đó. Đánh giá trên cùng
với những tiến bộ đạt được trong công cuộc xóa đói giảm nghèo là cơ sở rất tốt
để Việt Nam tiếp tục nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhà tài trợ trong
tiến trình phát triển của mình, đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với công tác
vận động, thu hút vốn ODA.
Theo tập quán tài trợ quốc tế, hàng năm các nhà tài trợ tổ chức Hội nghị
viện trợ quốc tế để vận động tài trợ cho các quốc gia đang phát triển. Đối với
Việt Nam, các hội nghị viện trợ được gọi là Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài
trợ dành cho Việt Nam (Hội nghị CG). Đến nay, thông qua 17 Hội nghị CG tổng
số vốn ODA cam kết của các nhà tài trợ cho Việt Nam đã đạt trên 56,416 tỉ
USD,mức cam kết ODA năm sau luôn cao hơn năm trước và đạt kỉ lục 8,063 tỉ
USD tại hội nghị CG năm 2009 (cam kết ODA cho năm 2010). Tổng vốn ODA
cam kết của cộng đồng tài trợ quốc tế cho Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010
đạt 26,689 tỉ USD đã vượt xa chỉ tiêu đề ra trong Đề án định hướng thu hút và
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA thời kì 2006 – 2010 (từ 19 đến
21 tỷ USD ODA cam kết), chưa kể đến nguồn vốn ODA kí kết từ 5 năm 2001 –
2005 chuyển tiếp sang 5 năm 2006 – 2010 khoảng 8 tỷ USD.
Biểu đồ 1: Vốn ODA cam kết đối với Việt Nam từ 2006 đến 2010
Đơn vị: Tỉ USD
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Vốn ODA cam kết
cho từng năm
3,740 4,445 5,426 5,9 8,063
% Tăng vốn cam kết 9,01 18,85 22,07 8,74 36,67
Nguồn: Phân tích và dự báo kinh tế – tạp chí Kinh tế và dự báo
Qua biểu đồ trên có thể thấy vốn ODA cam kết qua các năm liên tục tăng
với tốc độ khá nhanh, cam kết ODA cho Việt Nam năm 2010 tăng gấp 2,16 lần
so với năm 2006: từ 3,74 tỉ USD lên 8,063 tỉ USD. Năm 2009, cam kết ODA
cho Việt Nam là 5,015 tỉ USD, ít hơn năm 2008 nhưng giai đoạn này trùng với
cuộc khủng hoảng tài chính, đặc biệt do Nhật là nước tài trợ ODA lớn nhất của
Việt Nam trong những năm trước nhưng không cam kết viện trợ cho Việt Nam
trong năm này, hơn nữa nếu tính khoản ODA cam kết muộn của Nhật Bản, cam
kết ODA cho nước ta trong năm 2009 đạt 5,9 tỉ USD, tăng 8,74% so với năm
2008 và vẫn cao hơn vốn cam kết của các năm trước đó. Năm 2010, vốn ODA
cam kết dành cho Việt Nam là 8,063 tỷ USD - tăng 1,4 tỷ USD so với 2009 và là
mức cam kết cao nhất từ trước tới nay thể hiện rõ rệt sự ủng hộ mạnh mẽ của
cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam,
đặc biệt trong bối cảnh một số nhà tài trợ vẫn còn đang gặp khó khăn do khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét