phân tích đánh giá hiện trạng tài nguyên thiên nhiên, dân số, lao động, cơ
cấu kinh tế Đồng thời Viện cũng tổ chức nhiều cuộc sinh hoạt khoa học
về các lĩnh vực kinh tế- xã hội với sự tham gia của nhiều chuyên gia trong và
ngoài nước, cử nhiều lượt cán bộ tham gia giảng dạy, báo cáo khoa học tại
tại các trường đại học, các Viện nghiên cứu, các cơ quan Trung ương và địa
phương để thông tin và trao đổi các kết quả nghiên cứu đã đạt được.
Trực tiếp chủ trì một số dự án quy hoạch và dự án hợp tác quốc tế phù
hợp với chức năng của Viện. Tổ chức việc phân tích và nghiên cứu dự báo
phát triển kinh tế- xã hội trong nước và quốc tế phục vụ cho nghiên cứu và
quản lý kinh tế. Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận và phương pháp
xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội.
Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ phù hợp
với chức năng của Viện, nổi bật là:
- Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước 70A, nghiên cứu
cơ sở khoa học của định hướng phát triển công nghiệp, nông nghiệp, giao
thông, đô thị, dân số, lao động, việc làm và phân bố dân cư, phát triển vùng.
- Tham gia soạn thảo Văn kiện các Đại hội của Đảng và một số hội
nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng.
- Nghiên cứu xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế- xã hội và
tham gia triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược này.
- Chủ trì phối hợp cùng các đơn vị trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư và
với các nghành Trung ương triển khai lập dự án quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế- xã hội đến năm 2010 cho 8 vùng kinh tế lớn, 3 vùng kinh tế
trọng điểm, quy hoạch kinh tế biển. Chủ trì xây dựng quy hoạch phát triển
công nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996- 2010, quy hoạch các khu công
nghiệp, đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực nghiên cứu chiến lược, chính sách. quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội.
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu chiến lược, chính sách ,
quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội. Chủ trì tổ chức nghiên cứu chiến lược
phát triển kinh tế- xã hội của Lào và Campuchia thời kỳ 1991-2000. Giúp
Uỷ ban kế hoạch Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào xây dựng quy
hoạch tỉnh Khăm Muội, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội cả nước Lào
đên năm 2020, và xây dựng chiến lược hợp tác giữa hai nước Việt Nam- Lào
đến năm 2010. Để đáp ứng các nhiệm vụ được giao trong giai đoạn phát
triển mới và nhằm học tập kinh nghiệm của các nước về nghiên cứu chiến
lược và quy hoạch phát triển, Viện chiến lược phát triển đã mở rộng quan hệ
hợp tác quốc tế với nhiều cơ quan và Viện nghiên cứu của các nước
ASEAN, Đông Bắc Á, châu Âu, Bắc Mỹ, Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức
quốc tế khác. Viện đã chủ trì tổ chức thực hiện 14 dự án nghiên cứu do nước
ngoài tài trợ.
3. Cơ cấu tổ chức của Viện Chiến lược phát triển.
Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của viện chiến lược phát triển
VIỆN TRƯỞNG HỘI ĐỒNG
KHOA HỌC
CÁC VIỆN PHÓ
CÁC BAN NGHIÊN CỨU
Ban
tổng
hợp
Ban
phân
tích
và
dự
báo
kinh
tế vĩ
mô
Ban
vùng
và
lãnh
thổ
Ban
công
nghiệp,
thương
mại và
dịch vụ
Ban
nông
nghiệp
và
nông
thôn
Ban
nghiên
cứu phát
triển
vùng:
Ban
nghiên
cứu
phát
triển hạ
tầng
Trung
tâm
nghiên
cứu
kinh tế
miền
Nam
Trung
tâm
thông tin
tư liệu,
đào tạo
và tư
vấn phát
triển
Tæ chøc, tiÒm lùc
Viện có hội đồng khoa học và 10 ban nghiên cứu: Văn phòng viện;
tổng hợp; dự báo; ban nghiên cứu và phát triển các ngành sản xuất; ban
nghiên cứu và phát triển các ngành dịch vụ; nghiên cứu và phát triển nguồn
nhân lực và các vấn đề xã hội; nghiên cứu phát triển vùng; nghiên cứu phát
triển hạ tầng; trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam; trung tâm thông tin,
tư liệu, đào tạo và tư vấn phát triển.
Hiện nay Viện có 02 phó giáo sư,25 tiến sỹ, 10 thạc sỹ và 60 cử nhân.
Nhiệm vụ chủ yếu của các Ban và văn phòng viện như sau:
Hội đồng khoa học:
Hội đồng khoa học là tổ chức tư vấn giúp Viện trưởng xây dựng các
chương trình khoa học, tổ chức công tác nghiên cứu khoa học và đánh giá
kết quả nghiên cưú khoa học của Viện.
Ban Tổng hợp:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng các báo cáo
về chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Nghiên cứu
dự báo kinh tế.
Văn phòng Viện:
Đảm bảo các điều kiện vất chất và tài chính cho Viện hoạt động. Thực
hiện các công tác hành chính văn thư, lưu trữ , tổ chức cán bộ và đào tạo. Xử
lý thông tin đầu vào, đầu ra và quản lý tư liệu chung của Viện. Theo dõi,
quản lý hoạt động khoa học và các hoạt động hợp tác quốc tế.
Ban dự báo:
Phân tích tổng hợp, dự báo về biến động kinh tế, công nghệ, môi
trường, liên kết quốc tế của thế giới và các biến động kinh tế- xã hội, trong
nước phục vụ nghiên cứu chiến lược, quy hoạch. Dự báo các khả năng phát
triển, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của nền kinh tế Việt Nam.
Ban nghiên cứu phát triển các nghành sản xuất:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,
quy hoạch phát triển các nghành công nghiệp, xây dựng và nông, lâm, ngư
nghiệp trên phạm vi cả nước và các vùng lãnh thổ. Đầu mối tổng hợp, tham
mưu những vấn đề liên quan về quản lý Nhà nước đối với công tác quy
hoạch các nghành sản xuất.
Ban nghiên cứu phát triển các ngành dịch vụ.
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,
quy hoạch phát triển các ngành dịch vụ của cả nước và trên các vùng lãnh
thổ. Đầu mối tổng hợp, tham mưu về các vấn đề liên quan về quản lý Nhà
nước đối với công tác quy hoạch các ngành dịch vụ.
Ban nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực và các vấn đề xã hội.
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,
quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực và các vấn đề xã hội trên
phạm vi cả nước và trên các vùng lãnh thổ; xây dựng các giải pháp đảm bảo
thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực và các
vấn đề xã hội. Đầu mối tổng hợp, tham mưu các vấn đề liên quan về quản lý
Nhà nước đối với công tác quy hoạch phát triển con người, nguồn nhân lực
và các vấn đề xã hội.
Ban nghiên cứu phát triển vùng:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng các đề án
chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch sử dụng
đất các vùng lãnh thổ (trong đó có các vùng kinh tế- xã hội, các vùng kinh tế
trọng điểm, các vùng khó khăn, vùng ven biển và hải đảo). Đầu mối tổng
hợp, tham mưu các vấn đề liên quan về quản lý Nhà nước đối với công tác
quy hoạch vùng, lãnh thổ, tỉnh.
Ban nghiên cứu phát triển hạ tầng:
Nghiên cứu, tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng chiến lược,
quy hoạch phát triển hạ tầng của cả nước và trên các vùng lãnh thổ. Đầu mối
tham mưu các vấn đề quản lý Nhà nước liên quan đến lĩnh vực hạ tầng.
Tham gia thẩm định quy hoạch các ngành liên quan.
Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam:
Đầu mối nghiên cứu và đề xuất về chiến lược, quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế- xã hội vùng ở Nam Bộ; tổ chức hoạt động tư vấn về lĩnh vực
chiến lược và quy hoạch phát triển cho các tỉnh ở Nam Bộ. Theo dõi việc
thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội các tỉnh và vùng ở Nam Bộ.
Trung tâm thông tin tư liệu, đào tạo và tư vấn phát triển:
Thu thập, phân tích, xử lý, lưu trữ thông tin, kết quả nghiên cứu của
các ban nghiên cứu của Viện, và các kết quả nghiên cứu khoa học có liên
quan của các tổ chức bên ngoài. Tổ chức đào tạo cán bộ nghiên cứu chiến
lược và quy hoạch, tư vấn trong công tác lập chiến lược và quy hoạch trong
chương trình hợp tác quốc tế với Lào và Campuchia.
II. NHỮNG KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA VIỆN CHIẾN
LƯỢC TRONG THỜI GIAN QUA
1.Các thành tựu đạt được
1.1.Giai đoạn 1964- 1988
a)Về mặt nghiên cứu phân vùng kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất.
- 1964- 1975: Trong tình hình đất nước bị chia cắt, có chiến tranh,
nhiệm vụ kinh tế lớn lúc này là tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng
và củng cố quan hệ sản xuất mới, từng bước xây dựng cơ sở vật chất của chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm hậu phương lớn chi viện kháng chiến chống
Mỹ cứu nước ở miền Nam. Viện cùng với các nghành, các Viện và một số
trường đại học, được chuyên gia Liên Xô hướng dẫn triển khai giới thiệu về
phân vùng kinh tế, miền Bắc được chia thành 4 vùng nông nghiệp lớn gồm
46 tiểu vùng, năm 1969 đã trình Thường vụ Chính phủ xem xét kết quả
nghiên cứu này. Các dự án phân vùng kinh tế kể trên là bước thử nghiệm
đầu tiên nhằm đưa ra một sơ đồ tổ chức sản xuất trên lãnh thổ ở phạm vi một
số nghành kinh tế chủ yếu. Đồng thời tích luỹ một số kinh nghiệm ban đầu
về công tác điều tra cơ bản, phân vùng quy hoạch, đào tạo được một lớp cán
bộ đầu tiên về công tác nay ở Trung ương và địa phương.
- Năm 1970 bắt đầu triển khai quy hoạch phát triển kinh tế ở 30
huyện. Việc làm quy hoạch các vùng nhỏ, các huyện điểm đã phục vụ việc
lập kế hoạch kinh tế quốc dân và kế hoạch nhành ở Trung ương và địa
phương. Việc tiến hành quy hoạch các huyện điểm và các vùng kinh tế mới
để làm cơ sở cho việc tổ chức lại sản xuất ở đơn vị cơ sở đã cho chúng ta
một số kinh nghiệm bước đầu để sau này thực hiện chủ trương của Đảng và
Nhà nước về xây dựng huyện.
- Năm 1976 triển khai công tác phân vùng quy hoạch kinh tế trên
phạm vi cả nước, theo một quan điểm tổng hợp chung- kết hợp ngành và
lãnh thổ, đã có những tiến bộ mới trong công tác phân vùng quy hoạch.,
đánh dấu bằng việc hoàn thành xây dựng một số dự án phân vùng nông, lâm
nghiệp và công nghiệp chế biến và dự án phân bố một số ngành công nghiệp.
- Đi đôi với phân vùng nông, lâm nghiệp, công tác phân bố công
nghiệp cũng được triển khai đồng đều hơn và có thêm nhiều tiến bộ về mặt
nhận thức cũng như cách làm. Từ chỗ chủ yếu tìm địa điểm cho từng nhà
máy, công trình riêng lẻ, đã bắt đầu nghiên cứu bố trí một hệ thống các nhà
máy có tính chất liên ngành thành các khu, cụm công nghiệp. Nhiều ngành
công nghiệp đã nghiên cứu quy hoạch như các ngành điện, than, cơ khí,
luyện kim, hoá chất, giao thông vận tải, vật liệu xây dựng Quy hoạch các
thành phố cũng được triển khai nghiên cứu song song với việc bố trí công
nghiệp. Nhìn chung quy hoạch ngành đã có tác dụng nhất định phục vụ cho
công tác kế hoạch hoá của ngành. Các phương án quy hoạch đã đề cập một
cách tổng hợp các yếu tố kinh tế, kỹ thuật của ngành, đã đi vào nghiên cứu
các khu cụm công nghiệp theo quan điểm tổng hợp. Vấn đề kết hợp kinh tế
với quốc phòng cũng được coi trọng trong quá trình nghiên cứu bố trí công
nghiệp.
- 1978-1988: Xây dựng “Tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất trên
phạm vi cả nước thời kỳ 1986- 2000”. Lần đầu tiên ở Việt Nam, Uỷ ban kế
hoạch Nhà nước chủ trì triển khai nghiên cứu quy hoạch một cách hệ thống,
toàn diện từ Trung ương đến địa phương. Tất cả các ngành, các tỉnh và thành
phố trực thuộc Trung ương đã xây dựng sơ đồ phát triển và phân bố lực
lượng sản xuất giai đoạn 1986- 2000.
Về mặt tổ chức cán bộ, đã xây dựng được một hệ thống từ Trung
ương đến địa phương chuyên nghiên cứu về phân vùng quy hoạch
b) Về mặt nghiên cứu kế hoạch dài hạn
- Năm 1964: Ngay sau khi thành lập Vụ tổng hợp kế hoạch kinh tế
quốc dân dài hạn, đã triển khai mạnh mẽ công tác điều tra cơ bản, dự báo
dân số và nguồn lao động, xây dựng cơ bản trọng điểm. Triển khai hàng loạt
nghiên cứu về triển vọng dài hạn và khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến
tranh.
- Năm 1976- 1982: Trên cơ sở tiến hành các điều tra cơ bản, dự báo
các nguồn lực và nghiên cứu quy hoạch phát triển các nghành, vùng kinh tế,
đã chủ trì tổ chức xây dựng kế hoạch 5 năm 1976- 1980, phục vụ quá trình
khôi phục và phát triển đất nước trong điều kiện cả nước thống nhất và đi lên
chủ nghĩa xã hội, đã được Chính phủ trình lên đại hội lần thứ IV của Đảng.
Tiếp theo đó chủ trì xây dựng kế hoach 5 năm 1981- 1985, được trình lên
Đại hội lần thứ V của Đảng.
- Năm 1983- 1988: Viện nghiên cứu kế hoạch dài hạn đã triển khai
hàng loạt các nghiên cứu đánh giá các nguồn lực phát triển.
1.2. Giai đoạn 1988 đến nay.
Do yêu cầu cải tiến bộ máy của Chính phủ và thực tế đòi hỏi kết hợp
việc nghiên cứu kế hoạch dài hạn với nghiên cứu phân bố lực lượng sản xuất
nên hai nhiệm vụ này đã được thu về một mối do một Viện đảm nhận- đó là
Viện Kế hoạch dài hạn và Phân bố lực lượng sản xuất thuộc Uỷ ban Kế
hoạch Nhà nước, nay là Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và
Đầu tư.
Trong thời gian này, tập trung nghiên cứu để đáp ứng việc xây dựng
và phát triển kinh tế - xã hội dài hạn trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi
từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý điều tiết của
Nhà nước. Đồng thời Viện cũng tổ chức nghiên cứu chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội thời kỳ 1991- 2000. Viện đã có những đóng góp tích cực đối
với việc xây dựng chiến luợc và cũng nhận được nhiều bài học bổ ích: Quan
niệm về chiến lược, nội dung và phương pháp xây dựng chiến lược phát
triển kinh tế xã hội. Viện cũng tham gia soạn thảo các văn kiện của các Đại
hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và một số Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương Đảng.
Triển khai nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cả theo
chiều rộng và chiều sâu trên phạm vi cả nước, công tác quy hoạch được tiến
hành tương đối bài bản.
- Đối với nông nghiệp: Viện đã tham gia cùng Bộ chuyên ngành
nghiên cứu: Chiến lược phát triển nông nghiệp đến năm 2000; “Định hướng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét