Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Tài liệu Đề tài " Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp" pdf

LỜI NÓI ĐẦU
Các hoạt động kinh tế luôn có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định
sự tồn tại cũng như phát triển của xã hội. Để thực hiện chức năng kinh tế, ngày nay
Nhà nước nào cũng ban hành Hệ thống các qui phạm pháp luật để điều chỉnh các
quan hệ kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh thường khó tránh khỏi các tranh chấp do nhiều
nguyên nhân khác nhau, do vậy, giải quyết các tranh chấp kinh tế cũng là yêu cầu tất
yếu. Để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo các quan hệ kinh
doanh được ổn định, lành mạnh và phát triển, Nhà nước thông qua các cơ quan chức
năng hoặc các tổ chức được pháp luật thừa nhận để giải quyết tranh chấp.
Giải quyết tranh chấp kinh tế không phải là vấn đề mới mẻ đối với khoa học
pháp lý. Bởi vì, ngày nay các quan hệ kinh tế càng trở nên phong phú và đa dạng thì
pháp luật về giải quyết tranh chấp cũng phải từng bước đổi mới về pháp luật nội
dung cũng như pháp luật tố tụng để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam, thực tiễn cho thấy các văn bản pháp luật về giải quyết tranh chấp
kinh tế ngày càng bộc lộ những hạn chế. Hệ thống văn bản hướng dẫn còn thiếu
đồng bộ và chậm được ban hành, chưa phù hợp, chưa thống nhất dẫn đến cách hiểu
và vận dụng sai. Đây là vấn đề nổi cộm trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, việc tìm hiểu nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh tế trong
điều kiện hiện nay vẫn còn mang tính chất thời sự có ý nghĩa về lý luận cũng như
thực tiễn.
Đề tài " Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và
giải pháp" sẽ góp phần làm rõ thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế của Toà án
kinh tế và các Trung tâm trọng tài phi Chính phủ, phân tích rõ những khó khăn,
thuận lợi hiện nay của các cơ quan tài phán cũng như những hạn chế của các văn bản
pháp luật kinh tế hiện hành, trên cơ sở đố kiến nghị một số vấn đề cần sửa đổi bổ
sung trong hệ thống pháp luật kinh tế cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của nền
kinh tế thị trường.
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
về kinh tế xã hội và tư duy. Ngoài ra đề tài cũng vận dụng phương pháp phân tích
tổng hợp để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu .
Kết cấu của khoá luận gồm 3 Chương
- Chương 1: Tổng quan về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta
hiện nay
- Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam hiện nay
- Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp ở
nước ta
Ù1Ẳ0ầ^hbrdr|rcf1 CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ TỐ TỤNG KINH TẾ
1. Khái niệm tranh chấp kinh tế:
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường với sự tham
gia của nhiều thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, các quan hệ kinh tế ngày
càng trở nên đa dạng và phức tạp. Mục đích tìm kiếm lợi nhuận chẳng những là động lực
trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lưu kinh tế, mà còn là lý do tồn tại của các
chủ thể kinh tế.
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dưới sự tác động trực tiếp của
quy luật cạnh tranh, tranh chấp kinh tế cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại, gay
gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Chính vì vậy, việc áp dụng hình thức và
phương thức giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách
quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm nguyên
tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, thông qua đó góp phần tạo môi trường pháp lý lành mạnh
để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế.
Tranh chấp kinh tế là tranh chấp biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về
quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Như vậy tranh chấp kinh tế có thể phát sinh
trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, dù tồn tại dưới hình thức
nào và có thể bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, nhưng đặc
trưng chung của tranh chấp kinh tế là luôn gắn liền với hoạt động kinh tế và chủ thể tham
gia chủ yếu là các nhà doanh nghiệp. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản
ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên
Tranh chấp kinh tế khác với tranh chấp dân sự ở một số điểm sau:
♦ Tranh chấp kinh tế thường chỉ gắn liền với những yếu tố tài sản, những lợi ích
của các bên có tranh chấp và chỉ phát sinh từ các quan hệ vì mục đích kinh doanh, các
tranh chấp dân sự vừa mang tính chất tài sản, tính chất nhân thân phi tài sản.
♦ Giá trị tranh chấp kinh tế thường rất lớn, các tranh chấp kinh tế thường làm ảnh hưởng
kinh tế không những cho bên cùng tranh chấp mà còn làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh
doanh của cả cộng đồng kinh doanh nữa. Do đó, tranh chấp kinh tế thường có tính nguy
hiểm hơn tranh chấp dân sự.
♦ Bên bị vi phạm trong quan hệ kinh tế không những được bồi thường
thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) giống như bên bị vi phạm trong quan
hệ luật dân sự mà có quyền đòi hỏi phạt vi phạm hợp đồng kinh tế.
♦ Chủ thể trong quan hệ có tranh chấp kinh tế chủ yếu là chủ thể kinh doanh khi tham gia
quan hệ kinh doanh hoặc nếu không trực tiếp kinh doanh thì ít nhất họ là những người
tiến hành hành vi đầu tư vốn nhằm mục đích kinh doanh sinh lời. Trong khi đó tranh chấp
dân sự chủ yếu phát sinh từ các chủ thể không tham gia kinh doanh.
Tranh chấp kinh tế gồm các loại sau:
• Tranh chấp Hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
• Tranh chấp giữa Công ty với thành viên Công ty hoặc giữa thành viên Công ty với nhau
liên quan đến việc thiết lập hoạt động hoặc giải thể công ty.
• Tranh chấp đến việc mua bán chứng khoán (Cổ phiếu, Trái phiếu);
• Và các tranh chấp kinh tế khác theo qui định của pháp luật;
Trong điều kiện kinh tế thị trường sự đa dạng về đối tượng cũng như sự
xuất hiện của các thị trường yếu tố phi truyền thống đã làm phát sinh
nhiều tranh chấp mới như tranh chấp về thương hiệu, Ly- xăng, tranh
chấp về quảng cáo
Những tranh chấp kinh tế xảy ra mà được cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết theo
một trình tự thủ tục nguyên tắc nhất định thì được gọi là "Vụ án kinh tế".
2. Khái niệm tố tụng kinh tế:
Tố tụng kinh tế là một chế định pháp luật quan trọng của pháp luật kinh tế, là tổng
hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ tố tụng giữa cơ quan toà án và
người tham gia tố tụng, trong quá trình toà án giải quyết các vụ án kinh tế để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Cũng có thể hiểu tố tụng kinh tế
là quá trình cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế theo một trình tự
nhất định.
Với nội dung khái niệm tranh chấp kinh tế như trên có thể thấy các tranh chấp
kinh tế hiện nay là rất đa dạng và phức tạp, các chủ thể của nền kinh tế được mở rộng hơn
trước và phạm vi hoạt động cũng đa dạng hơn trước. Vì vậy, pháp luật áp dụng cho việc
giải quyết các tranh chấp kinh tế phải linh hoạt và mềm dẻo hơn, các cơ quan tài phán
vừa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình, vừa phải thay đổi phương pháp giải
quyết tranh chấp kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế mở như hiện nay của nước ta.
II. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC BAN HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ
1. Sau chiến thắng mùa xuân 1975, cả nước ta bước vào
giai đoạn lịch sử mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế
quản lý cũ tập trung, quan liêu bao cấp trong thời kỳ chiến
tranh đã không phát huy tác dụng tích cực mà còn làm trì
trệ sự phát triển kinh tế, gây nhiều hiện tượng tiêu cực
trong xã hội, trước tình hình trên Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI (1986) đã kịp thời chỉ ra mặt yếu kém, sai lầm
chủ quan duy ý chí trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp,
đề ra đường lối đổi mới toàn diện đặc biệt đường lối phát
triển kinh tế. Đường lối đổi mới đó được hoàn thiện và
chính thức đưa vào đời sống xã hội bằng pháp luật đó là
Hiến pháp 1992, đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo cơ chế thị trường ở nước ta.
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tư pháp và các
Cơ quan tài phán nói chung và các cơ quan tài phán kinh tế nói riêng
cũng nằm trong khuôn khổ của công cuộc đổi mới này. Đáp ứng các đòi
hỏi tất yếu khách quan đó Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa
Việt nam khoá IX kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật sửa đổi bổ xung Luật
tổ chức Toà án nhân dân với những qui định và chức năng mới của toà
án là giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản doanh nghiệp, Luật phá sản doanh nghiệp và pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế cũng được ban hành với tư cách là luật nội
dung để giải quyết các tranh chấp kinh tế trong cơ chế mới.
Pháp lệnh Hội đồng trọng tài kinh tế ban hành ngày 12/1/1990
cũng không còn phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần nữa. Bởi
trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan thuộc hệ thống các cơ quan quản
lý Nhà nước nhưng lại có thẩm quyền xét xử. Đây là một cơ quan vừa có
chức năng quản lý lại vừa có chức năng của cơ quan tư pháp, kèm theo
đó thực lực của đội ngũ trọng tài viên còn hạn chế. Các quyết định của
trọng tài kinh tế không có một cơ chế thi hành hiệu quả, chủ yếu chỉ
mong vào sự tự nguyện của bên phải thi hành.
2. Nhằm hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nhà nước ta thực hiện một chính
sách kinh tế mở. Mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta vừa thu hút được đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam, vừa nắm bắt được những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến
và kinh nghiệm kinh doanh của các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Vấn đề đặt ra là
khi mở rộng các quan hệ kinh tế chúng ta buộc phải xem xét, chấp nhận những tập quán
thương mại quốc tế và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế về các lĩnh vực thương mại
kinh doanh quốc tế.
Mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế đã tác động tích cực vào nền kinh tế của
chúng ta làm các hoạt động kinh doanh trở nên đa dạng, sôi động và đương nhiên dẫn đến
sẽ có phát sinh các tranh chấp trong hoạt động kinh tế ngày càng nhiều và gay gắt. Các
chủ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam họ đều quan tâm đến sự bảo đảm về mặt pháp lý cho
hoạt động kinh doanh của mình và pháp luật phải bảo đảm đầy đủ các quyền và lợi ích
chính đáng của họ khi nảy sinh các tranh chấp.
Chính vì vậy khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam ngoài các yếu tố đảm bảo về mặt
pháp lý cho hoạt động kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thì các chủ đầu tư cũng đặc biệt
quan tâm đến việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, giải
quyết các tranh chấp phải nhanh chóng, có hiệu lực mới bảo đảm quyền lợi chính đáng
của họ.
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ TẠI VIỆT
NAM
Việc chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi quan niệm về một loạt vấn
đề xung quanh các chế định hợp đồng kinh tế (HĐKT), tranh chấp kinh tế, tài phán kinh
tế, quyền tự do của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn cơ quan, tổ chức giải quyết
tranh chấp kinh tế, vị trí của cơ quan tài phán kinh tế trong bộ máy Nhà nước v.v.
Từ năm 1987 - 1990, nước ta đã có nhiều cố gắng để tiếp tục phát huy vai trò của
trọng tài kinh tế. Do đó năm 1989 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế và
năm 1990 ban hành Pháp lệnh Trọng tài kinh tế với mục đích làm cho hai chế định này
thích nghi với cơ chế quản lý kinh tế mới và mới đây Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban
hành Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/PL UBTVQH 11 ban hành ngày 25/2/2003
nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tính tương thích với các quy định của
luật pháp quốc tế.
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã đánh dấu những thay đổi quan trọng trong chế độ
kinh tế của Nhà nước CHXHCN Việt nam và phần nào đã làm cho sự tồn tại của hệ
thống trọng tài kinh tế trở nên không còn phù hợp. Đó là những nguyên tắc như đa dạng
hóa các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cá nhân được tự do kinh doanh, tự do thành lập
doanh nghiệp, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh
đúng pháp luật của các doanh nghiệp
Tranh chấp kinh tế tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh vì vậy, giải quyết
tranh chấp phát sinh được coi như là đòi hỏi tự thân của quá trình kinh tế. Theo cách hiểu
thông thường giải quyết tranh chấp kinh tế là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt
động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội.
Khi xảy ra tranh chấp các chủ thể kinh doanh đều muốn giải quyết tranh chấp kinh
tế được nhanh chóng và thuận lợi, từ đó các chủ thể kinh doanh có nhu cầu lựa chọn một
hình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế phù hợp với mình.
1.Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:
1.1 Khái niệm, đặc điểm:
a. Khái niệm: Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các
bên cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ
hợp đồng của mình mà không có sự tham gia của bên thứ ba.
b. Đặc điểm:
- Thương lượng là một phương pháp tự giải quyết tranh chấp của các bên.
- Thương lượng không mang tính chất bắt buộc trừ khi hợp đồng có quy định và không
đòi hỏi sự can thiệp hành chính của bất cứ một thiết chế nào. Thương lượng được áp
dụng tương đối phổ biến để giải quyết tranh chấp kinh tế thời gian và chi phí giành cho
cuộc thương lượng thông thường phụ thuộc vào tính chất và trị giá tranh chấp. Tuy nhiên,
trong thực tế thương lượng lại phụ thuộc vào thiện trí của các bên và cách thức thương
lượng là thương lượng trực tiếp hay thông qua thư tín, telex, fax
Việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng nhằm gạt bỏ các ý kiến bất đồng để
đạt tới sự thống nhất, thiện trí là một phương pháp giải quyết tranh chấp rất phổ biến ở
nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia Á Đông.
Theo Điều 7 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Các tranh chấp phát sinh khi thực
hiện hợp đồng kinh tế được giải quyết bằng cách tự thương lượng giữa các bên với nhau
hoặc đưa ra trọng tài kinh tế”. Phương thức thương lượng này đẩy nhanh tốc độ giải
quyết tranh chấp giữa hai bên bày tỏ thái độ tôn trọng bên vi phạm hợp đồng cũng như để
hai bên hiểu rõ nội dung sự việc, nội dung tranh chấp dẫn đến sự thiện trí của cả hai bên.
- Trong các hợp đồng kinh tế, tại điều khoản về xử lý tranh chấp thường được ghi: “ Các
tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng trước hết được giải quyết thông
qua đàm phán, thương lượng giữa các bên. Nếu tranh chấp không giải quyết được bằng
thương lượng sẽ được đem ra xét xử tại (toà án hoặc trọng tài) theo quy tắc của (toà án,
trọng tài) phí xét xử sẽ do bên thua kiện chịu” điều này càng chức tỏ một trong những
đặc điểm nổi bật của thương lượng là " hình thức tự giải quyết tranh chấp" được áp dụng
phổ biến nhất.
1.2 Cách thức thương lượng:
a. Thương lượng bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Thương lượng bằng cách gặp nhau trực
tiếp là việc các bên cử đại diện của mình gặp mặt nhau tại một địa điểm nhất định trong
một thời gian xác định để bàn bạc vấn đề tranh chấp nhằm đưa ra các giải pháp giải quyết
tranh chấp.
b. Thương lượng thông qua thư từ, điện tín, telex
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ điện tử Internet, email thì việc thương lượng
giữa các bên đương sự được thực hiện hết sức thuận lợi. Tuy vậy tất cả các thư từ điện tín
email đều phải được trả lời một cách nhanh chóng cho dù nguyên nhân tranh chấp là do
phía mình gây ra cũng cần phải được trả lời sớm, để giải quyết thoả đáng nếu trì hoãn
hoặc cố tình quên không trả lời sẽ gây ấn tượng xấu.
Khi xem xét những điểm cơ bản về phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế
thông qua thương lượng cho thấy rằng phương pháp này cũng có một số điểm hạn chế
nhất định, cụ thể do sự thành công hay thất bại của việc thương lượng chủ yếu phụ thuộc
vào thái độ thiện chí của các bên tranh chấp nên chỉ cần một trong các bên đương sự
thiếu thiện chí thì quá trình thương lượng có thể đi đến chỗ bế tắc buộc các bên phải tìm
kiếm hình thức giải quyết tranh chấp khác.
Một số bước thương lượng, đàm phán lại để gỡ rối khi các bên
tranh chấp bế tắc:
Bước 1: Trong một số trường hợp, cuộc thương lượng giải quyết tranh chấp gặp bế tắc,
điều quan trọng nhất là các bên tìm được giải pháp thích hợp, vấn đề sẽ đơn giản hơn
nhiều nếu hai bên có thiện chí và tìm cách xử lý hợp lý.
Khi đối mặt với những tình huống gay cấn, trước hết các bên phải thật bình tĩnh,
tập trung tìm các phương pháp khắc phục những vướng mắc để đi tới thống nhất, sự bình
tĩnh sẽ mang lại cho cả hai bên một thái độ tích cực làm cho việc giải quyết tranh chấp đi
theo hướng thuận lợi.
Hai bên lần lượt đưa ra các giải pháp của mình, tránh tranh luận cái nào tốt và hợp
lý hơn cái nào. Sau đó, tất cả các giải pháp được gộp thành một bản danh sách lần lượt
sắp xếp chúng theo thứ tự cho là thích hợp nhất. Sau khi phân loại các phương án đã hoàn
thành, đôi bên mới bắt đầu trình bày lý do việc lựa chọn của mình, bằng cách trên mới
vượt qua được một số “điểm chết” trong quá trình thảo luận, đây là tiền đề để cho việc
tìm kiếm một phương án khả thi nhất. Cuộc thảo luận nhờ đó chuyển hướng từ chỗ bế tắc
sang chọn lựa một giải pháp tối ưu nhất.
Bước 2: Xem xét nội dung chính của vấn đề:
Trong trường hợp này cần thiết phải tập trung vào vấn đề chính của cuộc thảo
luận thay vì cân đong đo đếm xem phương án nào nặng nhẹ hơn, xem xét lại vấn đề từ
đầu từ chỗ khúc mắc mà hai bên chưa có cách giải quyết, tránh sa đà vào các cuộc tranh
luận ngoài lề nếu cảm thấy phương án đưa ra không được phía bên kia chấp nhận, tiếp tục
đặt lại vấn đề chính yếu nhất mà cả hai bên đều có ý định đạt được trong buổi gặp gỡ.
Chọn một phương án nào đó tối ưu nhất cho cả hai bên, đề nghị bên kia cũng
nghiên cứu trên tinh thần xây dựng và với yêu cầu phải bám sát mục tiêu chính của cuộc
thương lượng chỉ có như vậy mới không rơi vào bế tắc một lần nữa.
Khi có quá nhiều vấn đề được nêu ra nhưng rút cục hai bên đều không đạt được
sự thống nhất cần thiết, các bên đương sự cần phải biết cách chẻ nhỏ vấn đề đặt riêng
từng cái một để dễ dàng nhất trí được với nhau về cách giải quyết. Nếu thấy cần thiết đại
diện của các bên chủ động rút lại các vấn đề của mình, lần lượt cùng nhau xem xét và giải
quyết từng vấn đề theo thứ tự, không nên vội vàng vì nông nóng dễ làm hỏng việc.
2. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hoà giải:
2.1 Định nghĩa và đặc điểm của hoà giải: Hoà giải là một phương pháp để giải quyết
tranh chấp, trong đó bên thứ ba là người đóng vai trò trung gian hoà giải tham gia vào các
cuộc họp chung giữa các bên và tham gia vào các phiên họp riêng với từng bên để điều
hoà lợi ích các bên, phân tích cho họ thấy nội dung, thực chất của tranh chấp và cố gắng
giúp các bên tìm ra một giải pháp để giải quyết tranh chấp.
Từ khái niệm đó hoà giải mang những đặc điểm chủ yếu sau:
♦ Các bên tranh chấp thoả thuận bên thứ 3 tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán.
♦ Bên thứ 3 không có quyền quyết định tranh chấp;
♦ Khi các bên đạt được sự nhất trí trong việc giải quyết tranh chấp, thì sự nhất trí phải
được thể hiện bằng văn bản và văn bản này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên.
Việc hoà giải thành công hay không là do sự kết hợp hai yếu tố chủ chốt trong bất
kỳ cuộc thương lượng nào, sự trao đổi thông tin và sự tin cậy lẫn nhau, Vì vậy, bên thứ 3
phải là người mà các bên tranh chấp đủ tin cậy để có thể trao đổi những lập trường riêng
đích thực của họ trong vụ tranh chấp. Quá trình hoà giải mang tính chất tự nguyện, mềm
dẻo và không bắt buộc, thông thường việc hoà giải diễn ra nhanh chóng với chi phí vừa
phải. Các vụ giải quyết tranh chấp bằng hoà giải có thể rất đơn giản hoặc có thể lớn và
phức tạp, có thể chỉ có hai bên hay nhiều bên tham gia tranh chấp.
Trong quá trình hoà giải tính đối kháng của các bên ít quyết liệt hơn so với các
hình thức giải quyết tranh chấp bằng toà án hoặc trọng tài do vậy đặc trưng của việc hoà
giải là cho phép duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài và đưa ra những giải pháp hữu hiệu.
Các bên có thể xoá bỏ vai trò của người hoà giải vào bất cứ thời điểm nào mà họ muốn,
người hoà giải không áp đặt quan điểm riêng của mình cho các bên mà để các bên thoả
thuận và thể hiện bằng văn bản có giá trị bắt buộc cho cả hai bên. Khi người hoà giải nắm
được các sự kiện, nguyên nhân các tình tiết của vụ tranh chấp đồng thời lại biết được
những chi tiết riêng tư trong lập trường của từng bên thì họ có thể tháo gỡ hoặc góp phần
làm giảm đi những bất đồng, những rào cản và khác biệt trong quan điểm của các bên
theo những cách thức, lập luận, dẫn dắt của mình nếu chỉ có các bên tranh chấp với nhau
cùng với những lập trường riêng của họ thì không thể giải quyết nổi.
Nhìn chung hoà giải là phương pháp giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chi
phí, nỗ lực giải quyết tranh chấp của các bên cùng với sự đóng góp của hoà giải viên sẽ
làm cho tiến trình hoà giải diễn ra nhanh chóng và mang lại kết quả theo mong muốn của
các bên.
3. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án.
3.1 Cơ cấu tổ chức của toà án kinh tế.
a. Cơ cấu của toà án trong điều kiện mới:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét