Về hình thức tổ chức bao gồm các loại hình: Doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hộ kinh tế cá thể.
* Trình độ quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất hạn chế, thiếu kiến
thức về quản trị kinh doanh va luật pháp, thiêu kinh nghiêm. Trình độ văn hóa kinh
doanh con thấp, tồn tại nhiều tiêu cực.
* Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta phân bố không đồng đều, tập trung chủ
yếu ở các thành phố lớn. Xu hướng tập trung vào các ngành ít vốn thu hồi vốn
nhanh, lãi xuất cao như: Thương nghiệp, du lịch, dịch vụ.
* Nhà nớc chỉ mới có các định hớng lớn khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ,
cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, nguồn lực tài chính của Nhà nớc còn hạn chế.
III. Sự cần thiết khách quan phát triển Doanh nghiẹp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
3.1. Lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ có những lợi thế sau:
* Gắn liền với các công nghệ trung gian, là cầu nối giữa công nghệ truyền
thống với công nghệ hiện đại. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng và
nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng khoa
học công nghệ hiện đại.
* Quy mô nhỏ có tính năng động, linh hoạt, tự do sáng tạo trong sản xuất kinh
doanh
* Danh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần lợng vốn đầu t ban đầu ít nhng hiệu quả cao
và thời gian thu hồi vốn nhanh.
* Danh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ suất vốn đầu t trên lao động thấp hơn nhiều so
với các doanh nghiệp lớn, cho nên chúng có hiệu suất tạo việc làm cao hơn.
* Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ gọn
nhẹ, linh hoạt, công tác điều hành mang tính trực tiếp. Quan hệ giữa ngời lao
động và ngời quản lý (quan hệ chủ – thợ) trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ
khá chặt chẽ.
* Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ảnh hởng
rất ít hoặc không gây nên khủng hoảng kinh tế – xã hội, đồng thời ít chịu
ảnh hởng bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế dây chuyền.
Bên cạnh những lợi thế quan trọng, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có những
bất lợi sau:
* Nguồn vốn tài chính hạn chế
* Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thờng yếu kém, lạc hậu.
* Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị
hạn chế rất nhiều
* Trình độ quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất hạn chế.
* Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng suất lao động và sức cạnh tranh kinh
tế thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp lớn.
3.2 Vai trò và tác động kinh tế - xã hội của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Mặc dù có những bất lợi trên nhưng doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí, vai trò
và tác động kinh tế-xã hội rất lớn.
Thứ nhất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí rất quan trọng ở chỗ, chúng
chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày
càng gia tăng manh. Ở hầu hết các nước,số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ
chiếm trên dưới 90% tổng số các doanh nghiệp. Tốc độ gia tăng các doanh nghiệp
vừa và nhỏ nhanh hơn số lượng các doanh nghiệp lớn. Ở Việt Nam con số này
cũng tương tự.
Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự tăng trởng
của nền kinh tế. Chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc
dân của các nớc trên thế giới, bình quân chiếm khoảng trên dới 50% GDP ở mỗi
nớc. ở Việt Nam, theo đánh giá của viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW thì hiện
nay khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ của cả nớc chiếm khoảng 24% GDP
Thứ ba, tác động kinh tế xã hội lớn nhất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là
giải quyết một số lợng lớn chỗ làm việc cho dân c, làm tăng thu nhập cho ngời lao
động, góp phần xoá đói, giảm nghèo. Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm và
thu nhập cho ngời lao động thì khu vực này vợt trội hơn hẳn các khu vực khác, góp
phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc. ở hầu hết các nớc, doanh nghiệp vừa
và nhỏ tạo việc làm cho khoảng 50 – 80% lao động trong các ngành công nghiệp
và dịch vụ. Đặc biệt, trong nhiều thời kỳ các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân
thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thu hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu
hút lao động mới cao hơn các doanh nghiệp lớn.
Thứ t, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm năng động nền kinh tế trong
cơ chế thị trờng. Do lợi thế của quy mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong
kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hoá
và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp với đòi hỏi uyển chuyển của nền kinh tế thị
trờng cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn góp phần làm năng
động nền kinh tế trong cơ chế thị trờng.
Thứ năm, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút đợc khá nhiều vốn ở trong
dân. Do tính chất nhỏ lẻ dễ phân tán và yêu cầu về lợng vốn ban đầu không nhiều
nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn trong việc thu hút các nguồn vốn
nhàn rỗi trong mọi tầng lớp nhân dân để đầu t vào sản xuất kinh doanh.
Thứ sáu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn đối với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn. Sự phát triển của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành
thơng mại – dịch vụ phát triển. Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
thành thị cũng góp phần làm tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ và làm thu
hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Các doanh
nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần làm thay đổi và đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp.
Thứ bảy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần đáng kể vào việc thực
hiện đô thị hoá phi tập trung và thực hiện phơng châm “Ly nông bất ly ơng”
Thứ tám, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi ơm mầm các tài năng kinh doanh,
là nơi đào tạo, rèn luyện các doanh nghiệp.
3.3 Tính tất yếu khách quan của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển các doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Lịch sử ra đời và phát triển nền sản xuất hàng hoá gắn liền với sự hình thành và
phát triển của các doanh nghiệp. Giai đoạn sản xuất hàng hoá giản đơn không có sự
phân biệt giữa giới chủ và ngời thợ. Ngời sản xuất hàng hoá vừa là ngời sở hữu các
t liệu sản xuất, vừa là ngời lao động trực tiếp, vừa là ngời quản lý công việc của
mình, vừa là ngời trực tiếp mang sản phẩm của mình ra trao đổi trên thị trờng. Đó
là loại doanh nghiệp cá thể, doanh nghiệp gia đình, còn gọi là doanh nghiệp cực
nhỏ. Trong thời kỳ hiện đại, thông thờng đại đa số những ngời khi mới trởng thành
để đi làm việc đợc, đều muốn thử sức mình trong nghề kinh doanh. Với một số vốn
trong tay ít ỏi, với một trình độ tri thức nhất định lĩnh hội đợc trong các trờng
chuyên nghiệp, bắt đầu khởi nghiệp, phần lớn họ đều thành lập doanh nghiệp nhỏ
của riêng mình, tự sản xuất – kinh doanh.
Trong sản xuất, kinh doanh có một số ngời gặp vận may và đặc biệt là nhờ tài
ba, biết chớp thời cơ, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khéo léo điều hành và tổ chức
sắp xếp công việc, càn cù, chịu khó, tiết kiệm… đã thành đạt, ngày càng giàu lên,
tích luỹ đợc nhiều của cải, tiền vốn, thờng xuyên mở rộng quy mô sản xuất, kinh
doanh, đến một giai đoạn nào đó, lực lợng lao động gia đình không đảm đơng hết
các công việc, cần phải thuê ngời làm và trở thành ông chủ. Ngợc lại, một bộ phận
lớn ngời sản xuất hàng hoá nhỏ khác, hoặc do không gặp vận may trong kinh
doanh – sản xuất và đời sống, hoặc do kém cỏi không biết chớp thời cơ, không có
sáng kiến cải tiến kỹ thuật, không biết tính toán quản lý và điều hành công việc,
hoặc thiếu cần cù chịu khó, nhng lại hoang phí trong chi tiêu… đã dẫn đến thua lỗ
triền miên, buộc phải bán t liệu sản xuất, đi làm thuê cho ngời khác. Những giai
đoạn đầu, các ông chủ và những ngời thợ cùng trực tiếp lao động và những ngời
thợ làm thuê thờng là bà con họ hàng và láng giềng của ông chủ, về sau mở rộng ra
đến những ngời hàng xóm và ở xa đến. Các học giả thờng xếp những loại doanh
nghiệp này vào phạm trù doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trong nền kinh tế của 1 quốc gia là do tổng thể các doanh nghiệp lớn nhỏ tạo
thành.Phần đông các doanh nghiệp lớn trởng thành,phát triển từ các doanh nghiệp
nhỏ,thế nhng để phát triển các doanh nghiệp lớn thì nhất thiết phải phát triển các
doanh nghiệp vừa và nhỏ,điều đó cũng phù hợp với quy luật đi từ nhỏ đến lớn và
để hiểu rõ hơn vì sao phải cần thiết phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ,chúng
ta hãy nhìn vào những đóng góp tích cực của nó,bao gồm:
+ Đóng góp kết quả của hoạt động kinh tế:
Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nớc ta.Doanh nghiệp vừa và nhỏ
có sức lan toả vào mọi lĩnh vực sản xuất xã hội,ngày càng phát triển về chất và
lợng đã góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trởng cũng nh vào ngân sách nhà
nớc.Theo tiêu chí mới số lợng Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 98% tổng số
doanh nghiệp thuộc các hình thức doanh nghiệp tập thể,doanh nghiệp t
nhân,công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn,doanh nghiệp có vốn đầu t
nứơc ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể .Tính đến thang 6 năm 2005,cả nớc có
trên 125000 Doanh nghiệp vừa và nhỏ và đợc thành lập với tổng số vốn đăng ký
xấp xỉ 250 tỷ đồng đa tổng số các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cả nớc lên
gần 2000 doanh nghiệp với số vốn đăng ký gần 400000 tỷ đồng trong đó:loại
hình công ty trách nhiêm hữu hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 55,4%,công ty
cổ phần chiếm 12,5%,các loại hình khác nh công ty hợp doanh,doanh nghiệp
nhà nớc và các công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên chiếm tỷ lệ nhỏ
khoảng 0,3%,các doanh nghiệp t nhân chiếm 31,8% còn lại.
Bảng 1:Các loại hình doanh nghiệp t năm 2002-2005
Năm tiêu
chí
2002 2003 2004 2005
Tổng số
doanh
nghiệp
Doanh
nghiệp vừa
và nhỏ
DN FPI
Tập thể
DN và công
ty t nhân
Cá thể
+Tăng thu nhập cho đời sống nhân dân:
Theo bộ tài chính,năm 2003 số thu t Doanh nghiệp nhân doanh chiếm khoảng
15% tổng số thu ngân sách,tăng 29,5% so với cùng kỳ các năm trớc.Năm
2004,thu từ khu vực kinh tế t nhân đạt khoảng 13100 tỷ đồng so với ngân sách
trung ơng thì đóng góp của khu vực kinh tế t nhân ( chủ yếu là các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ) trong nguồn thu của ngân sách địa phơng lớn hơn rất nhiều.
Điển hình nh TP.HCM kinh tế t nhân đóng góp trong tổng số thu ngân sách địa
phơng khoảng 15%,tiền giang 24%,đồng tháp 16%,gia lai 22%,Ninh Bình
19%,thai nguyên 17%.
+ Tạo công ăn việc làm cho ngời lao động:
Lực lợng lao động trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tơí 25-26% lực
lợng lao động xã hội,vì vậy các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tiếp nhận
phần lớn số lợng mới hàng năm và số lợng d thừa do xắp xếp lại doanh nghiệp nhà
nớc hay cải cách hành chính,góp phần chủ yếu trong tạo việc làm,tăng thu nhập
cho ngời lao động,đóng góp cho tăng trởng kinh tế và ổn định xã hội.(xem bảng 2)
BảNG 2:Số lao động đang làm việc trong các loại hình sản xuất kinh doanh.
Năm
Tiêu
Chí
2002 2003 2004 2005
Lao
động(ngời)
DN nhà nớc
Tập thể
DN có vốn
nớc ngoài
DN và công
ty t nhân
Cá thể
Nguồn:Báo cáo của tổng cục thống kê.
+Làm cho nền kinh tế năng động:
Số lợng các doanh nghiệp vừa và nhỏ khá lớn lại thờng xuyên tăng lên,nên
đã làm tăng khả năng cạnh tranh giảm bớt mức độ rủi ro cho các doanh nghiệp
đồng thời tăng số lợng hàng hoá và dịch vụ thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng
của ngời tiêu dùng phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
có tác dụng tích cực đối với việc chuyển dịch nền kinh tế, nhất là đối với nền
kinh tế nông nghiệp và nông thôn.Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm
cho việc phân bố doanh nghiệp hợp lý về mặt lãnh thổ cả nớc ở nông thôn và
thành thị,miền núi và đồng bằng giảm sức ép về dân số đối với các thành phố
lớn.
ChơngII:những vớng mắc gặp phải đối với các Doanh nghiẹp vừa và
nhỏ
ở Việt Nam hiện nay
I. Khó khăn về cơ chế chính sách
1.Đất đai và quản lý.
Khuân khổ pháp lý của quản lý đất đai đợc xây dựng trên cơ sở luật đất đai
năm 1993,sửa đổi năm 1998,2001 và luật đất đai năm 2003 ,quyền sử dụng đất đợc
thực hiện thông qua thuê của nhà nớc và qua giao dịch mua bán. Con đờng thuê đất
của nhà nớc rất dài và tốn kém. Thủ tục cấp quyến sử dụng đất bình quân ở HN là
325 ngày, thành phố HCM 418 ngày, Đà nẵng 309 ngày,Bình dơng 64 ngày, Huế
82 ngày.
Chuyên môn hoá sử dụng đất cũng làm tăng chi phí và thời gian để chuyển
đổi mục đích sử dụng đất. Các chi phí giải toả đền bù, chuyển quyền sử dụng đất
đang là ngánh nặng chi phí đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở VN hiện nay. Vấn
đề giải toả ,đền bù không hợp lý, di rời dân c không đúng tiến độ hay thực hiện
không nghiêm làm đình trệ tiến trình đầu t và cản trở hoạt động của DN.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn phải vợt qua những trở ngại nh: quy
hoạch đất đai cha ổn định;thời gian chờ đợi nhận đất trong các khu công nhiệp quá
lâu;đối sử không công bằng trong việc chuyển quyền sử dụng đất do chính sách u
đãi tiền thuê đất đợc áp dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp nhà nớc và doanh
nghiệp FDI .
2. Thuế và quản lý thuế:
Cơ chế chính sách thuế đã có những chuyển biến tích cực theo hớng khuyến
khích sản xuất trong nớc và xuất khẩu. Tiêu biểu nh luật thuế VAT đợc sửa đổi,bỏ
mức thuế suất 20%,mở rộng áp dụng thuế 0% để khấu trừ và hoàn thuế đầu vào
cho hàng hoá xuất khẩu, sửa đổi pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngời có thu nhập
cao, miễn giảm thuế sử dụng thuế nông nghiệp, đơn giản hoá thủ tục, hồ sơ thuế,
cải tiến công tác thanh tra. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung các chính sách thuế
thay đổi quá nhanh đã gây lúng túng trong việc quyết định kinh doanh của các
doanh nghiệp. Quy trình quản lý và giám sát vẫn còn phiền hà, chồng chéo giữa
các cơ quan thuế và hải quan trong đăng ký và cấphờng mã số thuế cha thống nhất
trong việc xác định mã số hàng hoá , thuế suất hoặc giá trị tính thuế, cỡng chế và
làm thủ tục hải quan thiếu chính xác.
Hệ thống thuế hiện hành vẫn còn tập chung quá nhiều vào các biện pháp thu
thuế và xử phạt, cha chú trọng đến việc xác định mức thuế, đối tợng chịu thuế.
Trong khi đó diện thuế vẫn cha đợc mở rộng một cách đầy đủ và thoả đáng, các
khoản thất thu thuế vẫn còn rất lớn, việc chốn thuế trong khu vực t nhân đang trở
thành hiện tợng khá phổ biến. Trong chế độ thuế hiện hành còn quá nhiều loại thuế
suất với mức thuế cao, các quy định về thuế quá phức tạp, chồng chéo, quá nhiều
trờng hợp miễn trừ thuế và cha đảm bảo sự công bằng.
Về nguyên tắc thuế VAT chỉ đạt hiệu quả và công bằng khi áp dụng một loại
thuế suất duy nhất và có ít trợng hợp miễn trừ. Nhng thuế VAT áp dụng tại VN lại
có tới 4 loại thuế suất và trên 20 trờng hợp miễn trừ. Dù đã có tiến bộ so với thuế
doanh thu gồm 11 loại thuế suất , nhng với 4 loại thuế suất và nhiều trờng hợp đợc
miễn trừ, việc thu thuế VAT vẫn còn gặp nhiều khó khăn cho cả ngời nộp thuế lẫn
cơ quan thuế và khi thủ tục phức tạp hơn, khả năng chốn thuế cũng tăng lên tơng tự
nh trờng hợp thuế lợi tức, các loại thuế suất khác nhau cũng đợc áp dụng phân biệt
giữa các hoạt động kinh doanh( thuế suất 45% cho thơng mại, 35% cho ngành
công nghiệp nhẹ và 25% cho các ngành công nghiệp nặng).
Ngoài ra còn có sự phân biệt đối xử về thuế ,lợi tức giữa các thành phần kinh
tế hoạt động khác nhau trong cùng 1 lĩnh vực. Bằng chứng là các doanh nghiệp
trong nớc chịu suất thuế lợi tức từ 25-45%, trong khi các doanh nghiệp có vốn FDI
chỉ phải trả mức thuế suất 10-25% vì vậy, sự cảm nhận bị đối xử không công bằng
chính là động cơ mạnh mẽ trong hành vi lậu thuế hoặc trốn thuế của một số doanh
nghiệp. chính sách thuế VAT cha cho phép các doanh nghiệp trực tiếp cung cấp các
dịch vụ cho doanh nghiệp chế xuất đợc hởng thuế suất 0% ,mà phải chịu thuế
10%. Đối vói thuế đánh vào hàng hoá XNK ,các cục hải quan dịa phơng lúng túng
khi định giá va ap giá tinh thuế nhập khẩu, giá áp còn cao và bảng giá tối thiểu cha
phù hợp với tình hình thực tế.
DN chậm nộp thuế thì bị phạt trong khi đó các cơ quan thuế chậm trễ trong
việc xét hoàn thuế thì không chịu bất cứ một trách nhiệm gì về thiệt hại gây cho
doanh nghiệp.
3. Hải quan và xuất khẩu:
Về thủ tục hải quan, nhìn chung địa điểm và phơng tiện vật chất phục vụ công tác
kiểm hoá của một số cửa khẩu còn bất hợp lý. Do các yếu tố kỹ thuật phát sinh và
một số nguyên nhân khác, từng xẩy ra các việc cỡng chế nhầm các doanh nghiệp
đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Bên cạnh đó là các tồn tại nh: quy định, ghép
container, thời gian và chi phí lu kho, bốc xếp tại cảng.
Việc xác định chủng loại hàng hoá sản phẩm của một số mặt hàng cha rõ
ràng, dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp, nhất là trong các trờng hợp cán bộ hải
quan có nghiệp vụ hạn chế. Bên cạnh đó, tình trạng thếu đồng bộ về quy định tỷ lệ
kiểm hoá xuất nhập khẩu của các chi cục hải quan cửa khẩu vẫn còn tồn tại. Điều
này tất yếu dẫn đến nạn nhũng nhiễu, trung chi và thoả thuận ngầm giữa nhân viên
hải quan và doanh nghiệp một mặt để giải phóng hàng nhanh, mặt khác doanh
nghiệp tìm cách né tránh tỷ xuất thuế nhập khẩu cao, làm giảm nguồn thu cho ngân
sách nhà nớc, ngoài ra tình trạng cỡng chế nhầm tranh chấp trong kết quả giám
định, áp giá tối thiểu để tính thuế một số các mặt hàng còn bất hợp lý; áp mã số
thuế không chính xác, cha thống nhất với hệ thống của nhà nớc trong khu vực và
trên thế giới.
4. Tính thiếu minh bạch của môi trởng thể chế:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét