tư, những khoản nợ mà không có khả năng thanh toán thì không được coi là
vốn.
Vốn luôn vận động để sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền
chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để trở thành vốn thì đồng tiền phải được đưa
vào hoạt động kinh doanh để sinh lời. Trong quá trình hoạt động, vốn có thể
thay đổi hình thái biểu hiện những điểm xuất phát và điểm cuối cùng của
vòng tuần hoàn phải là giá trị – là tiền. Đồng vốn đến điểm xuất phát mới với
giá trị lớn hơn. Đó cũng là nguyên tắc đầu tư, sử dụng, bảo toàn và phát triển
vốn. Nói một cách khác, vốn kinh doanh trong quá trình tuần hoàn luôn có ở
mọi giai đoạn của quá trình tái sản xuất và thường xuyên chuyển từ dạng này
sang dạng khác. Các giai đoạn này được lặp đi lặp lại theo một chu kỳ, mà sau
mỗi chu kỳ vốn kinh doanh được đầu tư nhiều hơn. Chính yếu tố này đã tạo ra
sự phát triển của các doanh nghiệp theo quy luật tái sản xuất mở rộng.
- Trong quá trình vận động vốn không tách rời chủ sở hữu: Trong nền
kinh tế thị trường không thể có một đồng vốn vô chủ. Nếu tách rời thì đó là
những đồng vốn lãng phí, không hiệu quả. Ngược lại, chỉ có xác định rõ chủ
sở hữu thì đồng vốn mới được sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả.
- Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy tác dụng: Để tiến hành hoạt động và mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh vốn phải được tích tụ thành khoản lớn. Do đó doanh nghiệp không
chỉ khai thác tiềm năng về vốn trong doanh nghiệp mà còn phải tìm cách huy
động, thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như: góp vốn liên doanh, liên kết, phát
hành cổ phiếu, trái phiếu, vay nợ,
- Vốn có giá trị về mặt thời gian. Trong điều kiện kinh tế thị trường cần
phải xem xét yếu tố thời gian của đồng vốn vì nó ảnh hưởng đến sự biến động
giá cả thị trường, lạm phát, nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời kỳ là khác
nhau.
- Trong nền kinh tế thị trường, vốn không chỉ được biểu hiện bằng tiền
của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô
hình như: Vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu, bản quyền, phát minh sáng chế,
bí quyết công nghệ
4. Phân loại vốn trong doanh nghiệp
- 5 -
Căn cứ vào mục đích, thời hạn, và tính chất sử dụng vốn mà người ta
phân chia thành các loại sau:
4.1. Vốn cố định:
Là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm
của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn
thành 1 vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động được gắn liền với hình
thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định. Vì vậy, khi nghiên cứu về vốn
cố định trước hết phải dựa trên cơ sở tìm hiểu về tài sản cố định. Tư liệu sản
xuất được chia thành 2 bộ phận là đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Đặc điểm của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó mặc dù tư
liệu sản xuất bị hao mòn nhưng chúng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban
đầu. Chỉ khi nào chúng bị hư hỏng hoàn toàn hoặc không còn lợi ích kinh tế
thì khi đó chúng mới bị thay thế.
a) Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động có
giá trị lớn tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản
xuất của doanh nghiệp qua nhiều chu kỳ sản xuất. Còn giá trị của nó
được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ
sản xuất.
Nếu phân loại theo hình thái vật chất thì tài sản cố định có 2 loại là tài
sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
+ Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái biểu hiện là vật
chất cụ thể như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai, vật tư
+ Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ
thể như: bằng phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, bản quyền, chi phí
sáng lập doanh nghiệp, lợi thế thương mại Trong nền kinh tế thị trường để
nâng cao khả năng của việc đầu tư tài sản cố định vô hình là rất quan trọng.
Những chi phí đó cũng được quan niệm như giá trị của một tài sản cố định và
phải được thu hồi dần để mua sắm tài sản cố định mới.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của tài sản
cố định có những đặc điểm sau:
- 6 -
- Về mặt hiện vật: Tài sản cố định tham gia hoàn toàn và nhiều lần vào
quá trình sản xuất kinh doanh và nó bị hao mòn dần, bao gồm cả hao mòn hữu
hình và hao mòn vô hình. Nói một cách khác, giá trị sử dụng sẽ giảm dần cho
đến khi tài sản cố định bị loại ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh.
- Về mặt giá trị: Giá trị của tài sản cố định được chuyển dịch dần từng
phần vào giá trị sản phẩm mà nó tạo ra trong quá trình sản xuất.
Đặc điểm về mặt hiện vật và giá trị của tài sản cố định đã quyết định đến
đặc điểm chu chuyển của vốn cố định. Song quy mô của vốn cố định lại được
quyết định đến đặc điểm chu chuyển của vốn cố định. Qua mối liên hệ đó ta
có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong sản
xuất kinh doanh:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Có đặc điểm này là
do tài sản cố định có thể phát huy trong nhiều kỳ sản xuất, vì vậy hình thái
biểu hiện bằng tiền của nó cũng được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
tương ứng.
- Vốn cố định luân chuyển dần dần, từng phần khi tham gia vào quá trình
sản xuất, giá trị sử dụng của tài sản giảm dần. Theo đó vốn cố định cũng tách
thành 2 phần: một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình
thức chi phí khấu hao) tương ứng với giảm dần giá trị sử dụng của tài sản cố
định. Phần còn lại của vốn cố định được “cố định” trong đó. Trong các chu kỳ
sản xuất kế tiếp, nếu như phần vốn luân chuyển dần dần được tăng lên thì
phần vốn cố định lại giảm đi tương ứng với mức suy giảm dần về giá trị sử
dụng của tài sản cố định. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó cũng là lúc
tài sản cố định hết thời hạn sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành 1 vòng
luân chuyển.
Để quản lý và sử dụng vốn cố định có hiệu quả ta phải nghiên cứu các
phương pháp phân loại và kết cấu của tài sản cố định.
- Theo hình thái biểu hiện:
+ Tài sản cố định hữu hình: Nhà xưởng, máy móc, thiết bị…
+ Tài sản cố định vô hình: bằng phát minh, sáng chế…
- Theo nguồn hình thành:
+ Tài sản cố định tự có: được đầu tư bằng vốn ngân sách cấp hoặc
- 7 -
vốn CSH.
+ Tài sản cố định đầu tư bằng vay vốn, thuê ngoài…
- Theo công dụng kinh tế:
+ Tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh cơ bản.
+ Tài sản cố định dùng cho ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản.
- Theo tình hình sử dụng:
+ Tài sản cố định đang sử dụng.
+ Tài sản cố định chưa sử dụng.
+ Tài sản cố định không cần sử dụng.
Mỗi cách phân loại có ý nghĩa khác nhâu giúp nhà quản trị đánh giá
được tình hình tài sản cố định và từ đó có biện pháp tác động để sử dụng vốn
cố định có hiệu quả hơn.
4.2. Vốn lưu động.
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền ứng trước để đầu tư,
mua sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản
xuất kinh doanh được tiến hành liên tục.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh bên cạnh tài sản cố định, doanh
nghiệp luôn có một khối lượng tài sản nhất định nằm rải rác trong các khâu
của quá trình tái sản xuất : dự trữ chuẩn bị sản xuất, phục vụ sản xuất, phân
phối, tiêu thụ sản phẩm. Đây chính là tài sản lưu động của doanh nghiệp. Tài
sản lưu động chủ yếu nằm trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp là các
đối tượng lao động. Đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất
không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của đối tượng
lao động sẽ thông qua quá trình sản xuất tạo nên thực thể của sản phẩm, bộ
phận khác sẽ hao phí mất đi trong quá trình sản xuất. Đối tượng lao động chỉ
tham gia vào một chu kỳ sản xuất do đó toàn bộ giá trị của chúng được dịch
chuyển 1 lần vào giá trị sản phẩm và được thực hiện khi sản phẩm trở thành
hàng hoá.
Bên cạnh một số tài sản cố định nằm trong quá trình lưu thông, thanh
toán, sản xuất… thì doanh nghiệp còn có một số tư liệu lao động khác như vật
tư phục vụ quá trình tiêu thụ, các khoản hàng gửi bán, các khoản phải thu…
- 8 -
Từ đó, ta có thể rút ra vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng
trước về tài sản lưu động và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho
quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện một cách thường
xuyên liên tục.
Như vậy, dưới góc độ tài sản thì vốn lưu động được sử dụng để chỉ các
tài sản lưu động. Vốn lưu động chịu sự chi phối bởi tính luân chuyển của tài
sản lưu động, vốn lưu động luôn được chuyển hoá qua nhiều hình thái vật
chất khác nhau và chuyển hoá phần lớn vào giá trị của sản phẩm, phần còn lại
chuyển hoá vào quá trình lưu thông. quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp diễn ra một cách thường xuyên liên tục nên vốn lưu động cũng tuần
hoàn không ngừng và mang tính chu kỳ. Vốn lưu động hoàn thành một vòng
tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình tái sản
xuất. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục thì yêu cầu đặt ra đối với
các doanh nghiệp là phải có đủ vốn lưu động để đầu tư vào các tư liệu lao
động khác nhau, đảm bảo cho các tư liệu lao động tồn tại một cách hợp lý,
đồng bộ với nhau trong một cơ cấu. Do đặc điểm của vốn lưu động là trong
quá trình sản xuất kinh doanh luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần,
tuần hoàn liên tục đã quyết định sự vận động của vốn lưu động-tức hình thái
giá trị của tài sản lưu động là:
+ Khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động dùng để mua sắm các đối
tượng lao động trong khâu dự trữ sản xuất. ở giai đoạn này vốn đã thay đổi
hình thái từ vốn tiền tệ sang vốn vật tư (T – H).
+ Tiếp theo là giai đoạn sản xuất, các vật tư được chuyển hoá thành bán
thành phẩm, thành phẩm. ở giai đoạn này vốn vật tư chuyển hoá thành thành
phẩm và bán thành phẩm. (H – SX…- H’) .
+ Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ vốn lưu động
lại chuyển hoá sang hình thái vốn tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu (H’–T’)
(T’ > T)
Trong thực tế, sự vận động của vốn lưu động không diễn ra một cách
tuần tự như mô hình lý thuyết trên mà các giai đoạn vận động của vốn được
đan xen vào nhau, các chu kỳ sản xuất được tiếp tục lặp lại, vốn lưu động
- 9 -
được liên tục tuần hoàn và chu chuyển.
Trong doanh nghiệp, việc quản lý tốt vốn lưu động có vai trò rất quan
trọng. Muốn quản lý tốt vốn lưu động các doanh nghiệp phải phân biệt được
các bộ phận cấu thành của vốn lưu động để trên cơ sở đó đề ra được các biện
pháp quản lý phù hợp với từng loại. Trên thực tế vốn lưu động của doanh
nghiệp bao gồm những bộ phận sau:
+ Tiền mặt và chứng khoán có thể bán được: Tiền mặt bao gồm tiền
trong quỹ của doanh nghiệp và các khoản tiền gửi không có lãi. Chứng khoán
bán được thường là thương phiếu (kể cả thương phiếu ngắn hạn).
+ Các khoản phải thu: trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu là
không thể tránh khỏi, và đay cũng là một chiến lược trong cạnh tranh của
doanh nghiệp. Các hoá đơn chưa được trả tiền này thể hiện quan hệ tín dụng
thương mại và hình thành nên các khoản phải thu. tín dụng thương mại có thể
tạo nên uy tín, vị thế của doanh nghiệp trên trường đồng thời cũng có thể dẫn
đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Khoản dự trữ: Việc tồn tại vật tư, hàng hoá dự trữ, tồn kho là bước
đệm cần thiết cho quá trình hoạt động thương xuyên của doanh nghiệp. Sự tồn
tại này trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoàn toàn
khách quan.
Để quản lý và sử dụng tốt vốn lưu động cần phải nghiên cứu các biện
pháp phân loại vốn cũng như tỷ trọng của từng loại vốn trong tổn số vốn lưu
động của doanh nghiệp.
Vốn lưu động được phân loại như sau: các căn cứ để phân loại vốn lưu
động trong doanh nghiệp:
- Căn cứ vào quá trình tuần hoàn vốn:
+ Vốn dự trữ sản xuất: nguyên vật liệu.
+ Vốn sản xuất: sản phẩm dở dang.
+ Vốn lưu thông: tiền mặt, thành phẩm.
- Căn cứ vào nguồn hình thành:
+ Vốn tự có: ngân sách cấp.
+ Vốn liên doanh liên kết.
- 10 -
+ Vốn vay tín dụng. TDTM.
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện:
+ Vốn phát hành chứng khoán.
+ Vốn vật tư, hàng hoá.
+ Vốn tiền tệ.
- Căn cứ vào phương pháp xác định:
+ Vốn lưu động định mức.
+ Vốn lưu động không định mức.
Tuỳ theo mỗi cách phân loại mà nhà quản trị sẽ đưa ra những quyết định
cụ thể trong việc quản lý và sử dụng vốn lưu động một cách có hiệu quả nhất.
Từ những đặc điểm trên ta có thể phân biệt được sự khác nhau cơ bản
giưa vốn lưu động và vốn cố định.
Tên vốn Chức năng
Tính chất tham gia
vào quá trình sản
xuất
Hình thức chuyển
hoá giá trị
Vốn cố định
Tư liệu lao
động
Nhiều lần
Chuyển dần nhiều
lần
Vốn lưu động
Đối tượng lao
động
Một lần
Chuyển toàn
bộ 1 lần
4.3. Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
4.3.1. Vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Số vốn
này không phải là một khoản nợ và doanh nghiệp không phải cam kết thanh
toán. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
và mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng. Tuy nhiên với mọi loại hình
doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu bao gồm các bộ phận chủ yếu sau:
- Vốn góp ban đầu
- Lợi nhuận không chia
- Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới.
- 11 -
4.3.2. Công nợ phải trả:
Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp phải
có trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân kinh tế. Đó là số vốn mà doanh
nghiệp đi vay, chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân. Doanh nghiệp có
thể sủ dụng nợ từ các nguồn: Tín dụng ngân hàng; tín dụng thương mại và
vay thông qua phát hành trái phiếu.
4.4. Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
4.4.1. Nguồn vốn thường xuyên:
Là nguồn vốn từ 1 năm trở lên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các
khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp
có thể sử dụng dành cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận
tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
4.4.2. Nguồn vốn tạm thời:
Đây là nguồn vốn có tính chất ngăn hạn (ít hơn một năm) mà doanh
nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng có nhu cầu tính chất tạm thời, bất thường
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
5. Nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, đầu
tư, điều kiện đầu tiên là phải có vốn, vốn đầu tư ban đầu và vốn đầu tư bổ
xung để mở rộng sản xuất kinh doanh. Vốn kinh doanh được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau, cơ bản là những nguồn sau:
- Nguồn vốn do chủ kinh doanh đầu tư: đây là nguồn hình thành vốn ban
đầu còn gọi là vốn điều lệ.
- Nguồn vốn tự bổ xung: là vốn được hình thành từ lợi nhuận để lại từ
vốn vay sau khi đã trả hết nợ và lãi tiền vay, từ các quỹ của doanh nghiệp
được bổ xung vào vốn.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết là vốn do các đơn vị khác tham gia liên
doanh, liên kết với doanh nghiệp.
- Nguồn vốn tín dụng: là các khoản vốn mà doanh nghiệp đi vay.
6. Cơ cấu vốn trong doanh nghiệp.
- 12 -
6.1. Khái niệm:
Cơ cấu vốn trong doanh nghiệp chính là tỉ trọng giữa các khoản nợ với
tổng số vốn của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong trường hợp chia vốn của doanh nghiệp theo nguồn hình thành. Cơ cấu
vốn phản ánh trong mỗi đồng vốn đang sử dụng có bao nhiêu phần trăm được
huy động từ các khoản nợ và qua đó cũng thấy được mức độ đóng góp của
vốn chủ sở hữu.
Một cơ cấu vốn hợp lý phản ánh sự kết hợp hài hoà giữa vay nợ dài hạn,
vay nợ ngắn hạn, nợ trái phiếu…Vì vậy cơ cấu vốn còn có thể được khái niệm
như là việc bố trí các khoản vay để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp hướng đến chính là cơ cấu vốn
tối ưu. Cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp là một cơ cấu hướng về sự cân
bằng rủi ro và lãi suất. Với cơ cấu vốn tối ưu thì chi phí bình quân gia quyền
của vốn là thấp nhất.
6.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
Trong thực tế các doanh nghiệp ở các ngành khác nhau, thậm chí các
doanh nghiệp trong cùng một ngành cũng có cơ cấu vốn rất khác biệt. Có thể
đưa ra một số nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp như sau:
+ Sự ổn định doanh thu và lợi nhuận.
+ Cơ cấu tài sản.
+ Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành
+ Doanh lợi vốn và lãi suất huy động vốn.
+ Mức độ chấp nhận rủi ro của người lãnh đạo.
+ Thái độ của người cho vay.
Xác định được ảnh hưởng của các nhân tố tới cơ cấu vốn của doanh
nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn về việc quản lý
và sử dụng vốn.
Tóm lại, trong những điều kiện khác nhau và trong những thời kỳ khác
nhau mỗi doanh nghiệp đều phải xác định được cơ cấu vốn hợp lý phù hợp
với đặc điểm riêng của mình. Mỗi doanh nghiệp luôn có sự tính toán cân nhắc
các nhân tố làm thay đổi cơ cấu tạo sự chủ động trong sản xuất kinh doanh.
- 13 -
II. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trong nền kinh tế thị trường vốn được coi là yếu tố rất quan trọng. Nó
quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì thế sử
dụng vốn có hiệu quả là một yêu cầu khách quan đối với quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó xuất phát từ lý do chủ yếu sau:
Xuất phát từ mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với bất kỳ
một doanh nghiệp nào thì tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng
tới một mục đích chung là lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh
nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh
của mình: vốn là phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết của bất kỳ một
doanh nghiệp nào tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đảm
bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành theo mục đích đã định.
Ngoài ra vốn còn là điều kiện sử dụng các nguồn vốn tiềm năng khác để phát
triển sản xuất kinh doanh phục vụ cho quá trình tái sản xuất kinh doanh mở
rộng.
Do vậy các doanh nghiệp cần quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, đay là mục tiêu cần đạt tới của việc sử dụng vốn trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Vì hiện
nay các doanh nghiệp phải bảo toàn vốn được giao ngay cả khi trượt giá phải
đầu tư mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp phải hoàn
toàn tự chủ trong việc tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tự tìm thị
trường, tự chịu trách nhiệm trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Do vậy vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngày càng trở nên cấp
thiết.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay có một ý nghĩa hết sức quan
trọng trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp. Nó quyết định sự
sống còn và sự tăng trưởng cũng như sự phát triển của mỗi doanh nghiệp
trong cơ chế mới .
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét