Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
NHỮNG GIẢI PHÁP KINH TẾ VÀ TỔ CHỨC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Lời mở đầu
Ngày nay, “phát triển bền vững” là cụm từ ngày càng được phổ biến
và được nhiều quốc gia quan tâm thực hiện. Vậy phát triển bền vững là gì?
Tại sao phải phát triển bền vững? Phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là
sự phát triển được duy trì một cách liên tục mà hơn thế phát triển ở đây là sự
nỗ lực lien tục nhằm đạt được trạng thai bền vững trên mọi lĩnh vực. Phát
triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại và đảm
bảo không làm tổn thương khả năng đáp ứng đòi hỏi của thế hệ tương lai.
Phát triển bền vững là sự ràng buộc phát triển kinh tế, phát triển xã hội với
bảo vệ môi trường. Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi
chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác
nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy
trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho
phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật
sống trên Trái Đất. Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú
trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận
lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội
phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.Yếu tố
kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững. Nó đòi hỏi
sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những
nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn
tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình
đẳng. Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh,
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản. Yếu tố
được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người,
không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho
phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con
người. Thực hiện phát triển bền vững sẽ giúp mọi người trong xã hội đều có
quyền bình đẳng và luôn gắn phát triển kinh tế với bảo vệ và nâng cao chất
lượng môi trường.
Tại Việt Nam, “phát triển bền vững” được coi là một trong những ưu
tiên hàng đầu. Quá trình thực hiện phát triển kinh tế bền vững đó phát triển
công nghiệp giữ vai trò chủ đạo và then chốt đã mang lại nhiều thành tựu nổi
bật như nền kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối ổn
định, cơ cấu kinh tế ngành-vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước hội nhập vào sự phân công của nền kinh
tế khu vực và thế giới, vấn đề việc làm được giải quyết, đời sống của nhân
dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật
được tăng cường, cơ cấu kinh tế ngành -vùng có sự chuyển dịch tích cực theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, … Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có
không ít những hạn chế như quy mô nền kinh tế nước ta còn nhỏ; thu nhập
bình quân đầu người còn thấp; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh
tranh của toàn nền kinh tế cũng như từng ngành, từng sản phẩm còn chưa
cao; một số cân đối vĩ mô như cân đối xuất nhập khẩu hàng hóa-dịch vụ, cân
đối thu chi ngân sách nhà nước chưa được cải thiện đáng kể; tiến độ thực hiện
và giải ngân vốn đầu tư phát triển của nhà nước còn chậm; công tác quản lý
còn nhiều yếu kém… và để lại nhiều hậu quả như sự phân biệt giàu - nghèo,
thành thị với nông thôn; nhập siêu quá cao; chỉ số giá tiêu dùng và lạm phát
tăng quá mạnh; Nhưng hậu quả trực tiếp, to lớn, nặng nề do phát triển công
nghiệp gây ra là ô nhiễm môi trường sinh thái. Ô nhiễm môi trường sinh thái
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hiện là một vấn đề nóng bỏng, gây nhiều thiệt hại, quan tâm và bức xức trong
dư luận xã hội cả nước ta. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiêp
đến sự phát triển bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và
tương lai.Vì vậy, bảo vệ môi trường sinh thái trong phát triển công nghiệp
hiện nay là đòi hỏi cấp thiết, là nhiệm vụ quan trọng đối với các cấp quản lý,
các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của
toàn xã hội Việt Nam.
Do các yếu tố trên, bắt buộc chúng ta phải có một cách nhìn nhận đúng
đắn hơn về việc phát triển công nghiệp. Phát triển công nghiệp nhằm đạt hiệu
quả cao nhưng phải bền vững, phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Vì vậy tôi
đã chọn đề tài “ Những giải pháp kinh tế và tổ chức bảo vệ môi trường trong
phát triển công nghiệp ” để làm đề án nghiên cứu.
Mục đích thực hiện đề án nghiên cứu:
1. Tìm hiểu những ảnh hưởng tiêu cực của phát triển công nghiệp đến
môi trường.
2. Thực trạng môi trường ở Việt Nam.
3. Đưa ra những giải pháp kinh tế và tổ chức bảo vệ môi trường trong
phát triển công nghiệp.
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP.
1. Khái quát về môi trường và mối quan hệ với con người
1.1 Các khái niệm về môi trường
Chúng ta có những khái niệm về môi trường như sau:
- Định nghĩa về môi trường của Kalesnick: Môi trường là một bộ phận
của Trái Đất bao quanh con người mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài
người có quan hệ trực tiếp với nó.
- Định nghĩa về môi trường của Unesco: Môi trường bao gồm toàn bộ
hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình. Trong
đó con người sinh sống bằng lao động của mình để thỏa khai thác tài nguyên
thiên nhiên và nhân tạo nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người.
- Định nghĩa về môi trường của Việt Nam (1993):
+ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân
tạo có quan hệ mật thiết với nhau do đó nó có ảnh hưởng đến đời sống sản
xuất, sự tồn tại phát triển của con người và tự nhiên.
+ Môi trường là tất cả các điều kiện bao quanh sinh vật có ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật.
1.2 Mối quan hệ giữa môi trường và con người
Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố, hiện tượng, sự vật bao quanh
và cần thiết cho con người. Đó là các chất vô cơ, các tài nguyên, không khí,
đất, nước, động thực vật… Tất cả các yếu tố này tạo thành một mạng lưới
tổng thể có quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự tác động hòa đồng của chúng tạo ra
một môi trường ổn định. Sự rối loạn bất ổn định ở một khâu nào đó sẽ gây ra
hậu quả nghiêm trọng cho môi trường.
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Con người xuất hiện từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên. Hoạt
động của con người được xem là một khâu, một yếu tố trong hệ thống. Thông
qua quá trình lao động, con người khai thác bảo vệ bồi đắp cho thiên nhiên.
Cũng qua quá trình đó con người xã hội dần dần có sự đối lập với tự nhiên.
Do tiếng gọi của những lợi ích nhất thời nào đó, cũng có thể là do sự hoạch
định thiển cận về mặt chiến lược, trong không ít nền kinh tế đã nảy sinh tình
trạng vô tình hoặc cố ý không tính đến tương lai của chính mình. Người ta
khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách tối đa, vay mượn cả tài nguyên của
các thế hệ tương lai, bất chấp quy luật tự nhiên và đạo lý xã hội, gạt sang một
bên những bài toán về môi sinh và những lợi ích chính đáng của thế hệ sau.
-Đầu tư nhằm vào những lĩnh vực sinh lợi nhanh được kêu gọi một cách ồ ạt,
đẩy trách nhiệm trả nợ cho thế hệ kế tiếp. Lợi ích trước mắt được quan tâm
quá mức, gây nên tình trạng phát triển thiếu cân đối hoặc phát triển theo kiểu
“bong bóng xà phòng”. Vô tình hay hữu ý, con người càng phá huỷ môi
trường sống của chính mình một cách nghiêm trọng.
2. Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển công nghiệp
2.1 Sự tác động của môi trường đối với phát triển công nghiệp
-Thứ nhất, để tiến hành sản xuất công nghiệp trước tiên phải có cơ sở hạ
tầng như đất đai, nhà xưởng, thiết bị máy móc…; nguyên - nhiên liệu, vật tư
như điện, nước, khoáng sản… và sức lao động của con người. Mà những dạng
vật chất này không phải gì khác chính là các yếu tố của môi trường sinh thái.
Như vậy chính các yếu tố cấu thành môi trường là “đầu vào” của quá
trình sản xuất công nghiệp. Hay nói cách khác: môi trường là “đầu vào” của
sản xuất công nhiệp. Tuy nhiên, những diễn biến bất thường và khó có thể
lường trước của môi trường tự nhiên như thiên tai, bão lũ … không chỉ gây ra
nhiều thảm họa cho con ngườì mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản
xuất công nghiệp.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
-Thứ hai, kết quả của quá trình sản xuất công nghiệp bao gồm sản phẩm
và chất thải công nghiệp. Sản phẩm của công nghiệp thì được con người tiêu
dùng vào nhiều mục đích khác nhau còn chất thải của công nghiệp thì được
thải ra môi trường sinh thái. Do đó, môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa
“đầu ra” cho quá trình sản xuất công nghiệp.
Vậy, môi trường sinhkhông chỉ cung cấp, đảm bảo “ đầu vào ” mà còn
chứa đựng cả “ đầu ra ” cho quá trình sản xuất công nghiệp.
2.2 Sự tác động của hoạt động công nghiệp tới môi trường sinh thái
Công nghiệp là quá trình sản xuất vật chất có phạm vi to lớn trong nền
kinh tế mỗi quốc gia. Công nghiệp tiến hành khai thác tài nguyên thiên nhiên,
chế biến nguyên liệu và thực hiện các hoạt động sửa chữa. Do vậy, công
nghiệp sản xuấ ra toàn bộ tư liệu lao động, phần lớn đối tượng lao động và
một phần tư liệu tiêu dung. Qúa trình sản xuất công nghiệp sẽ đem lại những
tác động tiêu cực tới môi trường sinh thái
Một là, sản xuất công nghiệp làm thu hẹp đất nông nghiệp, Từ đó đe
dọa đến an ninh lương thực của quốc gia.
Hai là, trong quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên công nghiệp
đã cắt đứt mối liên hệ trực tiếp của đối tượng lao động với môi trường sinh
thái. Hay nói cách khác quá trình khai thác tài nguyên của công nghiệp đã phá
vỡ sự cân bằng của môi trường sinh thái. Khai thác ngày càng nhiều với quy
mô ngày càng lớn sẽ dẫn tới nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên.
Ba là, lượng chất thải mà công nghiệp tạo ra ngày càng nhiều, tồn tại
dưới các dang thức khác nhau như rắn, lỏng, khí, tiếng ồn. Sự mất kiểm soát
các chất thải đã và đang gây ra 3 loại ô nhiễm nghiêm trọng là ô nhiễm và suy
thoái môi trường đất, ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường không
khí.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Suy thoái môi trường đất làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi; làm
nghèo thảm thực vật, suy giảm đa dạng sinh học. Ô nhiễm môi trường đất dẫn
đến sự tích tụ cao các chất độc hai, các kim loại nặng làm tăng khả năng hấp
thụ các nguyên tố có hại trong cây trồng vật nuôi và gián tiếp gây ảnh hưởng
xấu tới sức khỏe con người.
Ô nhiễm môi trường nước trực tiếp ảnh hưởng tới nguồn nước sinh
hoạt của dân cư, nguồn nước phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Ô nhiễm môi
trường nước cũng tác động đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây các
bệnh như tiêu chảy ( do vi rút, vi khuẩn, vi sinh vật, đơn bào ), lỵ trực trùng,
tả, thương hàn, viêm gan. Các bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu
sắt, kém phát triển, tử vong nhất là ở trẻ em. Việc gia tăng dư lượng hóa chất
có trong nước biển đã gây suy thoái các rặng san hô, làm giảm sự sinh trưởng
của các loài hải sản. Nước ven biển bị ô nhiễm gây tác động xấu đến hoạt
động du lich. nghỉ dưỡng của các du khách.
Y học đã ghi nhận nhiều bệnh tật đường hô hấp do môi trường không
khí bị ô nhiễm gây ra như lao, phổi, hen, ung thư. Ô nhiễm môi trường không
khí gây lên hiện tượng hiệu ứng nhà kính, dần phà hủy tầng ozon, là nguyên
nhân dẫn đến sự nóng lên của Trái Đất.
Bốn là, sự tiêu dung các sản phẩm công nghiệp cũng có tác động tiêu
cực đến môi trường sinh thái.
Vậy hoạt động sản xuất công nghiệp dù ở quy mô nào, trình độ nào
cũng tác động xấu đến môi trường.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG TRONG QUẢ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Ở VIỆT NAM
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên
phát triển công nghiệp và do nhận thức hạn chế về việc gắn phát triển công
nghiệp với bảo vệ môi trường nên tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi
trường trong phát triển công nghiệp đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường
ngày càng trầm trọng hiện nay. Đối tượng gây ô nhiễm chủ yếu của hoạt động
sản xuất công nghiệp chủ yếu là các làng nghề và các khu công nghiệp.
1. Ô nhiễm môi trường do các làng nghề gây ra
1.1 Khái quát về làng nghề ở Việt Nam
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Đa số
các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước. Ví dụ
như làng đúc đồng Đại Bái ( Bắc Ninh ) với hơn 900 năm phát triển, làng gốm
Bát Tràng ( Hà Nội ) có gần 500 năm tồn tại,
Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ
công mà còn là điểm văn hóa của khu vực, của vùng. Trong những năm gần
đây , làng nghề đã phát triển và thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị
trường, nhiều làng nghề mới xuất hiện. Theo hiệp hội làng nghề Việt Nam,
hiện nay cả nước có hơn 2800 làng nghề.
Sản phẩm của các làng nghề đáp ứng được thị hiếu ngày càng cao của
người tiêu dùng. Vì vậy trước đây nó chỉ để phục vụ trong khu vực nhỏ bé thì
ngày nay được trao đổi trong nước và còn là sản phẩm xuất khẩu. Năm 2009
các làng nghề đã xuất khẩu đạt 900 triệu USD, chiếm tỉ trọng 15% trong tổng
giá trị sản xuất của khu vực nông thôn.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phát triển làng nghề là một trong những giải pháp phát triển kinh tế
nông thôn rất có hiệu quả vì nó làng nghề đã giải quyết được vấn đề lao động
dư thừa và lao động trong thời gian nông nhàn ở nông thôn. Hiện làng nghề
thu hút hơn 12 triệu lao động bao gồm cả lao động thường xuyên và không
thường xuyên. Bên cạnh đó, làng nghề tạo ra thu nhập đáng kể đối với các hộ
nông dân.
1.2 Ô nhiễm môi trường ở các làng nghề Việt Nam
Bên cạnh những dấu hiệu khả quan trong phát triển làng nghề ở Việt
Nam thì có một nỗi lo lắng va day dứt không kém đó là ô nhiếm môi trường
từ các làng nghề.
Qua khảo sát 52 làng nghề điển hình hiện nay trong cả nước có tới
46% số làng nghề trong số này môi trường bị ô nhiễm nặng nề, 27% ô nhiễm
vừa và 27% ô nhiễm nhẹ. Đáng báo động là mức độ ô nhiễm môi trường tại
các làng nghề không những không giảm mà còn có xu hướng gia tăng theo
thời gian.
Hiệ nay, tình trạng phổ biến của các hộ, cơ sở sản xuất làng nghề là sử
dụng ngay diện tích ở làm nơi sản xuất. Khi quy mô sản xuất tăng lên hoặc sử
dụng thiết bị hóa chất đã làm cho môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề. Cho
đến nay, phần lớn nước thải tại các làng nghề đều thải thẳng ra ngoài không
qua bất kì khâu xử lí nào. Đây chính là nguyên nhân gây khiến cho tình trạng
ô nhiễm nguồn nước tại các làng nghề ngày càn tồi tệ hơn. Theo như một
khảo sát mới đây của Viện khoa học và công nghệ môi trường – đại học Bách
Khoa và Bộ khoa hoc công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng
nghề đều cho thông số vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
Hầu hết các làng nghề đều sản xuất thủ công nên sử dụng than củi và
than đá gây ra ô nhiễm không khí như bụi, SO2, NO2, CO, CO2… Trong đó ,
các khí CO2 và NO2 là các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính. Ngoài ra, các khí
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
độc hại này còn được sinh ra trong quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ có
trong nước thải, chất thải. Kết quả của Sở tài nguyên môi trường cho thấy
hàm lượng bụi tại khu vực dân cư của các làng nghề vượt quá tiêu chuẩn cho
phép nhiều chục lần.
Không chỉ có nguồn nước, đất, không khí tại các làng nghề bị ô nhiễm
mà còn có vấn đề tiếng ồn. Do không gian chật hẹp không có vùng đệm nên
tiengs ồn gây ra cho khu vực xung quanh là khá cao, tại nhiều vị trí mức tiếng
ồn lên tới 80 – 82dB.
Do môi trường bị ô nhiễm nên số người dân tại các làng nghề bị mắc
các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, tiêu hóa, phụ khoa là rất cao. Ngoài ra là
một số bênh mang tính nghề nghiệp như bệnh ung thư phổi, thần kinh, đau
lưng, đau cột sống
Tóm lại: ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng nặng nề, là
mối đe dọa lớn đối với sức khỏe của người lao động và dân cư đang sinh
sống.
2. Ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp
2.1 Khái quát về khu công nghiệp ở Việt Nam
Khu công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp công nghiệp
với mật độ cao, có ranh giới rõ ràng và có ban quản lí. Các doanh nghiệp công
nghiệp trong khu công nghiệp thường có mối liên hệ sản xuất với nhau.
Xây dựng và phát triển khu công nghiệp có vai trò quan trọng trong
phát triển công nghiệp và phát triển ngành vùng. Vì phát triển khu công
nghiệp cho phép sử dụng chung cơ sở hạ tầng nên tiết kiêm được đất đai và
vốn đầu tư. Phát triển khu công nghiệp tạo thuận lợi trong việc tổ chức mối
sản xuất do đầu ra của doanh nghiệp này có thể là đàu vào của doanh nghiệp
khác. Phát triển khu công nghiệp làm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi
trường do có hệ thống xử lí chất thải chung.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Vì vậy, phát triển các khu công nghiệp là hướng đi đúng đắn trong
phát triển công nghiệp ở nước ta.
2.2 Ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp Việt Nam
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày
20/4/2008 cả nước có 185 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đến hết
năm 2008, cả nước có khoảng trên 200 khu công nghiệp. Ngoài ra, còn có
hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương quyết định thành lập. Theo báo cáo giám sát của Uỷ
ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công
nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có
nơi chỉ đạt 15 - 20%, như Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công
nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không
vận hành vì để giảm chi phí.
Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng
30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Tại Hội nghị triển
khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai ngày
26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn nước
thuộc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt
chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Theo số liệu khảo
sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn
thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô
nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các
rạch, cống và các điểm xả. Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước
vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng chì
trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu
chuẩn từ 3 - 9 lần Tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là trên
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư
trên lưu vực sông Đồng Nai. Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp
nhận khoảng 48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này. Dọc lưu vực sông
Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có
21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào
nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận
Hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống
thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước
tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân.
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước
chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định. Thực
trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm
nghiêm trọng. Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với
các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường. Họ phải
sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp
Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của người
dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành
các xung đột xã hội gay gắt.
Tóm lại, các khu công nghiệp giữ vị trí và vai trò to lớn trong phát triển
công nghiệp. Nhưng cũng như mọi hoạt động công nghiệp khác, hoạt động
sản xuất trong các khu công nghiệp đã để lại hậu quả là môi trường bị ô
nhiễm ngày càng nặng nề đòi hỏi phải có những bienj pháp khắc phục kịp
thời.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN GIẢI PHÁP KINH TẾ VÀ TỔ CHỨC ĐỂ
HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT
TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1. Nhà nước
1.1 Đối với công tác quy hoach các cụm , điểm, khu công nghiệp
Việc xác định vị trí phân bố các khu công nghiệp không thể chỉ đơn
thuần xuất phát từ lợi ích kinh tế, mà nó cần dựa trên cơ sở khoa học địa lý,
địa môi trường, xuất phát và tôn trọng các yếu tố, thành phần tự nhiên, tôn
trọng và lấy lợi ích của cư dân trong phạm vi ảnh hưởng làm tiêu chuẩn hàng
đầu cho việc lựa chọn vị trí.
Việc xác định vị trí phân bố các khu công nghiệp không thể chỉ đơn
thuần xuất phát từ lợi ích kinh tế, mà nó cần dựa trên cơ sở khoa học địa lý,
địa môi trường, xuất phát và tôn trọng các yếu tố, thành phần tự nhiên, tôn
trọng và lấy lợi ích của cư dân trong phạm vi ảnh hưởng làm tiêu chuẩn hàng
đầu cho việc lựa chọn vị trí.
Việc xác định vị trí quy hoạch các khu, cụm công nghiệp cần phải xa
các trung tâm dân cư, xa trung tâm các thành phố, thị xã, thị trấn. Bởi các
khu, cụm công nghiệp khi đi vào hoạt động thì tuỳ theo ngành nghề mà có thể
gây ra khói bụi, mùi hôi, tiếng ồn, các chất thải nguy hại khác, gây ắch tắc
giao thông sẽ tác động trực tiếp vào thành phố, các khu dân cư kế cận.
Về lý thuyết, khi xây dựng các khu, cụm công nghiệp, nhà máy, kể cả một lò
gạch đốt bằng than, gỗ cũng không được xây dựng ở vị trí mà khói bụi sẽ
tác động vào khu vực dân cư, nhất là khu vực có mật độ dân cư cao, hoạt
động kinh tế diễn ra sôi động, trong các thành phố trẻ, trung tâm tỉnh lị có tốc
độ phát triển nhanh.
Việc xác định vị trí phân bố cần phải dựa trên cơ sở xác định không
gian mở rộng thành phố, khu dân cư trong tương lai (ít nhất là 30-50 năm).
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trong khi đó, các khu, cụm công nghiệp hiện nay đều nằm trong hay nằm sát
thành phố, khu dân cư, hoặc các khu công nghiệp đang được kỳ vọng là hạt
nhân hình thành các thị tứ, thị trấn, thành phố trong tương lai.
Hơn nữa, các khu, cụm công nghiệp phải thoả mãn các điều kiện địa –
môi trường, phải tránh những vị trí nhạy cảm như vị trí đón gió, trên những
dải đất quá cao, nơi có các kênh dẫn nước, dọc hệ thống các sông suối, các
nhà máy cung cấp nước, các đầu mối giao thông (nhà ga, bến tàu ) Bởi khi
hoạt động, các luồng gió sẽ mang theo nguồn gây ô nhiễm (khói, bụi, mùi hôi
thối, tiếng ồn…) vào khu vục dân cư, khu vực thành phố. Các khu vực cao dễ
phát tán nguồn gây ô nhiễm theo độ nghiêng của địa hình, kể cả theo đường
nước mặt và nước ngầm.
Phát tán thông qua con đường giao thông cũng cần tính đến vì đây là
nơi có nhiều người, phương tiện qua lại. Các nguồn gây ô nhiễm khi gặp điều
kiện phát tán thuận lợi sẽ tác động trên phạm vi rộng, lâu dài và rất khó khắp
phục, kiểm soát. Hậu quả của việc phân bố hàng trăm khu công nghiệp trên hệ
thống sông Đồng Nai – Sài Gòn; hệ thống Sông Cầu, sông Đuống (xả nước
thải xuống các sông) đang làm ô nhiễm cả lưu vực sông rộng lớn, đe doạ
môi trường sống của hàng chục triệu người dân khu vực Đông Nam Bộ, khu
vực đồng bằng sông Hồng. Hay các lò gạch ở các tỉnh An Giang, Long An,
Tiền Giang dù đã phân bố ở khu vực nông thôn, xa khu dân cư nhưng khi có
gió đã mang khói, bụi vào gây ô nhiễm trên diện rộng làm ảnh hưởng đến sản
xuất và sinh hoạt.
Các khu, cụm công nghiệp quy hoạch cần tránh nằm trong, sát hoặc
giao thoa với các khu dân cư hiện hữu. Bởi nếu nằm trong thành phố, trong
các khu dân cư sẽ rất khó khăn và tốn kém trong công tác đền bù và giải
phóng mặt bằng. Chi phí cho đền bù và giải phóng mặt bằng thường rất lớn vì
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét