Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Pin Hà Nội

6
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết
với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, khơng có chi tiêu thì khơng có chi
phí. Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm tồn bộ giá trị tài sản hao
phí hoặc tiêu dùng hết cho q trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này.
Có thể nói rằng chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tồn
bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện q trình
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí sản xuất là sự dịch chuyển vơn -
chuyển giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá( sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ…)
1.3. Phân loại chi phí
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm rất nhiều loại, nhiều khoản
khác nhau cả về nội dung kinh tế, tính chất, cơng dụng, vai trò, vị trí… trong q
trình kinh doanh. hạch tốn chi phí sản xuất theo từng loai sẽ nâng cao tính chi tiết
của thơng tin hạch tốn, phục vụ đắc lực cho cơng tác kế hoạch hố và quản lý nói
chung đồng thời có cơ sở tin cậy cho việc phấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả
kinh tế của chi phí.
Để thuận lợi cho cơng tác quản lý và hạch tốn thì cần thiết phải tiến hanh
phân loại chi phí sản xuất. Xuất phát từ các mục đích và u cầu khác nhau của
quản lý, chi phí sản xuất cũng được phân loại theo những tiêu thức khác nhau. Phân
loại chi phí sản xuất kinh doanh là việc sắp xếp chi phí sản xuất kinh doanh vào
từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định. Trên thực tế có rất
nhiều cách phân loại chi phí khac nhau và mỗi cách phân loại đều áp ứng ít nhiều
cho mục đích quản lý, hạch tốn, kiểm tra, kiểm sốt chi phí phát sinh ở các góc độ
khac nhau. Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:
 Phân loại theo yếu tố chi phí:
Theo cách phân loại này, để phục vụ cho việc tập hợp quản lý chi phí theo
nội dung kinh tế ban đầu thống nhất của nó mà khơng xét đêns cơng dụng cụ thể,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
địa điểm phát sinh của chi phí, chi phí sản xuất được phân theo yếu tố và theo quy
định hiện hành thì tồn bộ chi phí được chia làm 7 yếu tố sau:
• Yếu tố ngun liệu, vật liệu: Bao gồm tồn bộ giá trị ngun vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, cơng cụ, dụng cụ mà doanh nghiệp đã sử dụng cho
các hoạt động sản xuất và quản lý sản xuất trong kỳ( loại trừ số dùng khơng hêts
nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
• Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quấ trình sản xuất kinh doanh
trong kỳ( loại trừ số dùng khơng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
• Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Gồm tổng số tiền lương và
phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho tồn bộ cơng nhân viên chức.
• Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ: Phản ánh phần BHXH, BHYT, KPCĐ trích
theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả cơng nhân
viên chức.
• Yếu tố khấu hao TSCĐ: Bao gồm tồn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ sử
dụng ỏ các phân xưởng, tổ đội sản xuất trong kỳ.
• Yếu tố dịch vụ mua ngồi: Phản ánh tồn bố số tiền mà doanh nghiệp đã
chi trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngồi phục vụ cho hoạt động sản xuất ở
doanh nghiệp.
• Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Bao gồm tồn bộ các chi phí khác dùng cho
hoạt động sản xuất trong ky ngồi các yếu tố đã nêu ở trên.
Việc phân loại theo yếu tố có tác dụng là cho biết tỷ trọng của từng yếu tố
chi phí để phân tích đánh giá tình hình dự tốn chi phí sản xuất. Đồng thời là căn
cứ để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố, cung cấp tài liệu tham khảo để lập
dự tốn chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương và kế
hoạch về vốn lưu động cho kỳ sau. Ngồi ra còn cung cấp tài liệu để tính tốn thu
nhập quốc dân trong các ngành sản xuất.
 Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm( hay còn
gọi là phân loại chi phí theo mục đích, cơng dụng của chi phí).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Căn cứ vào ý nghĩa cảu chi phí trong giá thành sản phẩmvà để thuận lợi cho
việc tính giá thành tồn bộ, chi phí sản xuất được phân chia theo khoản mục. Cách
phân loại này dựa trên ngun tắc xem xét cơng dụng của chi phí và mức phân bổ
chi phí cho từng đối tưoựng:
Về mặt hạch tồn chi phí sản xuất kinh doanh hiện nay, giá thành sản xuất(
giá thành cơng xưởng) bao gồm 3 khoản mục chi phí:
- Chi phí ngun vật liệu trực tiếp: Bao gồm tồn bộ chi phí về ngun vật
liệu chính, ngun vật liệu phụ, nhiên liêu… sử dụng trực tiếp vào việc sản xuất
chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dich vụ.
- Chi phí nhân cơng trực tiếp: Gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản
trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh của
cơng nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dung chung cho hoạt động sản
xuất ở phân xưởng hoặc tổ đội sản xuất.
Ngồi ra, khi tính chỉ tiêu giá thành tồn bộ( hay giá thành đầy đủ) thì chỉ
tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục sau:
- Chi phí bán hàng: Bao gồm những chi phí liên quan đến hoạt động bán
hàng như lương nhân viên bán hàng, ngun vật liệu dùng cho bán hàng, khấu hao
TSCĐ dùng cho bán hàng.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm những chi phí lao động đến hoạt
động quản lý doanh nghiệp như lương nhân viện quản lý, ngun vật liệu dùng cho
quản lý, khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý.
Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp số liệu để tính giá
thành cho nhưng sản phẩm hồn thành, phục vụ cho u cầu quản lý chi phí sản
xuất theo định mức và giúp cho việc phân tích tình hình thực hiện kée hoạch giá
thành được đảm baỏ liên tục.Các cách phân loại trên giúp cho các nhà quản trị
doanh nghiệp xác định phương hướng, biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản
phẩm . Để làm được điều đó thì phải phấn đấu giảm thấp các định mức tiêu hao vật
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
liệu, lao động, cải tiến cơng nghệ, hợp lý sản xuất. Đối với các chi phí chung thì
cần triệt để để tiết kiệm, hạn chế thậm chí loại trừ những chi phí khơng cần thiết.
 Phân loại chi phí theo chức năng trong sản xuất kinh doanh:
Căn xứ vào chức năng hoạt động trong q trình kinh doanh và chi phí liên
quan đến việc thực hiện các chức năng, chi phí sản xuất kinh doanh được chia làm
3 loại:
- Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: gồm những chi phí phát sinh liên
quan đến việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ trong phạm vi
phân xưởng.
- Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: gồm tất cả những chi phí phát sinh
liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ…
- Chi phí thực hiện chức năng quản lý: Bao gồm các chi phí quản lý kinh
doanh, hành chính và những chi phí chung phát sinh liên quan đến những hoạt động
của doanh nghiệp.
Cách phân loại chi phí này là cơ sở để xác định giá thành cơng xưởng, giá
thành tồn bộ, xác định giá trị hàng tồn kho, phân biệt được chi phí theo từng chức
năng cũng như làm căn cứ để kiểm sốt và quản lý chi phí.
* Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và quan hệ với
đối tượng chịu phí:
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia làm 2 loại:
- Chi phí sản xuất trực tiếp: Là những chi phí có quan hệ trực tiếp với viếc
sản xuất ra một sản phẩm, một cơng việc nhất định và có thể được ghi chép ngay từ
những chứng từ gốc cho từng đối tượng.
- Chi phí sản xuất gián tiếp: là chi phí có liên quan đến nhiều loại sản phẩm,
nhiều cơng việc mà khơng thể ghi chép riêng cho từng đối tượng, kế tốn phỉa dùng
phương pháp kế tốn phân bổ cho từng đối tượng. Cách phân loại này có ý nghĩa
đối với việc xác định phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối
tượng có liên quan một cách đúng đắn và hợp lý.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
 Phân loại theo nội dung cấu thành của chi phí:
Theo cách này thì chi phí được chia thành:
- Chi phí đơn nhất là chi phí do một yếu tố duy nhất cấu thành như chi phí
ngun vật liệu chính dùnh cho sản xuất, tiền lương do cơng nhân sản xuất …
- Chi phí tổng hợp: là những chi phí do nhiều yếu tố khác nhau tập hợp lại
theo cùng một cơng dụng như chi phí sản xuất chung.
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý nhận thức được từng loại phí để tổ
chức cơng tác tập hợp chi phí sản xuất thích hợp.
 Phân loại chi phí căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với quy trình
cơng nghệ sản xuất sản phẩm và qúa trình kinh doanh :
- Chi phí cơ bản: là những chi phí có liên quan trực tiếp đến quy trình cơng
nghệ sản xuất sản phẩm như chi phí ngun vật liệu, chi phí nhân cơng trực tiếp,
chi phí khấu hao TSCĐ dùng trực tiếp vào sản xuất, chế tạo sản phẩm. Chi phí cơ
bản có thể là chi phí trực tiếp nhưng có thể là chi phí gián tiếp khi có liên quan đến
hai hay nhiều đối tượng khác nhau.
- Chi phí chung: là các loại chi phí dùng vào tổ chức quản lý và phục vụ cho
sản xuất có tính chất chung như chi phí quản lý ở phân xưởng, chi phí quản ly
doanh nghiệp, chi phí bán hàng. Chi phí chung thường là chi phí gián tiếp nhưng có
thể là chi phí trực tiếp nếu phana xưởng chỉ sản xuất một loại sản phẩm.
 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với khối
lượng cơng việc, sản phẩm hồn thành( phân loại theo cách ứng xử của chi phí ).
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và điều tra chi phí, đồng thời làm căn cứ
để đề ra các quyết định kinh doanh, tồn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được phân
chia theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất hồn thành trong kỳ. Theo
cách này, chi phí được chia thành hai loại:
- Chi phí khả biến( biến phí): là những chi phí có sự thay đổi về lượng tương
quan tỉ lệ thuận với sự thay đổi của khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
- Chi phí bất biến ( định phí ) : là những chi phí khơng thay đổi về tổng số
cho dù có sự thay đổi trong mức độ hoạt động của sản xuất hoặc thay đổi khối
lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
Ngồi ra còn chi phí hỗn hợp. Đây là những chi phí mà bản thân nó bao gồm
cả yếu tố biến phí và yếu tố định phí. Thuộc loại này gồm có chi phí như tiền điện
thoại…
Cách phân loại này có tác dụng đối với việc quản trị doanh nghiệp. Trong
việc phân tích điều hồ vốn và phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý cần thiết
để hạ giá thành sản phẩm và tăng hiệu quả kinh doanh.
2. Giá thành sản phẩm
2.1. Khái niệm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của tồn bộ các khoản hao phí về
lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng cơng việc, sản
phẩm, lao vụ đã hồn thành.
 Bản chất của giá thành sản phẩm:
Sự vận động của q trình sản xuất trong doanh nghiệp là một q trình
thống nhất bao gồm hai mặt có quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau. Một mặt là các
chi phí sản xuất mà các doanh nghiệp đã chi ra, mặt thứ hai là kết quả sản xuất đã
thu được những sản phẩm, khối lượng cơng việc đã hồn thành trong kỳ phục vụ
cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Như vậy, khi quyết định sản xuất một loại sản
phẩm nào đó doanh nghiệp cần phải tính đén tất cả những khoản chi phí đã thực sự
chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó, nghĩa là doanh nghiệp phải xác dịnh
được giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hố,
giá thành sản phẩm lại là một chỉ tiêu tính tốn khơng thể thiếu của quản lý theo
ngun tắc hạcht ốn kinh tế, do vậy có thể nói giá thành sản phẩm vừa mang tính
chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan ở một phạm vi nhất định. Đạc điểm
đó dẫn đén sự cần thiết phải xem xét giá thành trên nhiều góc độ nhằm sử dụng chỉ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
tiêu giá thành có hiệu quả trong việc xác định hiệu quả kinh doanh, thực hiện tái
sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Tóm lại, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất
lượng tồn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của doanh
nghiệp. Giá thành được tính tốn chính xác cho từng loại sản phẩm hoặc lao vụ cụ
thể( đối tượng tính giá thành ) và chỉ tính tốn xác định đối với số lượng sản phẩm
hoặc lao vụ đã hồn thành khi kết thúc một số giai đoạn cơng nghệ sản xuất( Nửa
thành phẩm).
2.2. Phân loại giá thành
Để đáp ứng các u cầu của quản lý, Hạch tốn và kế hoạch hố giá thành
cũng như u cầu xây dựng giá cả hàng hố, giá thành được xem xét dưới nhiều
góc độ, nhiều phạm vi tính tốn khác nhau. Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau
nên trong doanh nghiệp giá thành được chia thành các loại sau:
 Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá
thành:
Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành, giá thành sản
phẩm chia thành giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
 Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của
doanh nghiệp tính, giá thành kế hoạch được tính trước khi tiên hành hoạt động sản
xuất và nó là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích,
đánh giá tình hình thực hiệ kế hoạch giá thành và hạ giá thành.
 Giá thành định mức: Giá thành định mức được tính trên cơ sở các định
mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ ( thường là ngày đầu
tháng )
Giá thành này chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm do bơ phận quản lý quy
định mức của doanh nghiệp và đựơc tính trước khi tiến hành quy trình sản xuất .
Giá thành định mức là mức của doanh nghiệp tính và cũng được tính trước khi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
doanh nghiệp tiến hành sản xuất .Giá thành định mức là thước đo để xác định kết
quả việc sử dụng tài sản , vật tư , lao động trong sản xuất giúp cho đánh giá đúng
đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện.
 Giá thành thực tế : là chỉ tiêu được tính trên cơ sở số liệu sản xuất thực tế
đã phát sinh thực tế tập hợp được trong kỳ và sản lượng sản phẩm thưc tế đã sản
xuất hồn thành trong kỳ . Giá thành thực tế chỉ được tính sau khi kết thúc q trình
sản xuất .Giá thành thực tế được coi là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết q
phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp tổ chức
kinh tế , tổ chức kỹ thuật trong q trình sản xuất và là cơ sở để xác định kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
 Phân loại theo pham vi phát sinh chi phí giá thành được chia thành giá
thành sản xuất và giá thành tiêu thụ :
- Giá thành sản xuất ( giá thành cơng xưởng ) : là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí sản xuất tính cho những sản phẩm , cơng việc , lao vụ đã hồn thành
trong phạm vi phân xưởng sản xuất( chi phí vật liệu trực tiếp, nhân cơng trực tiếp
và chi phí sản xuất chung). Giá thành sản xuất được dùng để ghi sổ cho sản phẩm
hồn thành nhập kho, những sản phẩm gửi bán và những sản phẩm đã bán. Giá
thành sản xuất là căn cứ để tính trị giá vốn của hàng bán và tính tốn lãi gộp trong
hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Giá thành tiêu thụ( giá thành tồn bộ): là chỉ tiêu bao gồm giá thành sản
xuất của sản phẩm + chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản
phẩm đó.Giá thành tồn bộ của sản phẩm chỉ được tính để xác định kết quả những
sản phẩm đã tiêu thụ. Do vậy, giá thành tiêu thụ còn được gọi là giá thành đầy đủ
hay giá thành tồn bộ và được tính theo cơng thức:
Giá thành Giá thành Chi phí Chi phí
Tồn bộ = sản xuất + quản lý + tiêu thụ
Sản phẩm tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp sản phẩm

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt tiêu biểu của q trình sản
xuất, có mối quan hệ rất mật thiết với nhau vì nội dung cơ bản của chúng đều là
những hao phí về lao động sống và lao động vật hố mà doanh nghiệp đã bỏ ra
trong q trình sản xuất. Chi phí sản xuất trong một kỳ là cơ sở để tính tốn, xác
địng giá thành của những sản phẩm, cơng việc, lao vụ đã hồn thành. Việc sử dụng
tiết kiệm hợp lý chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau nhất
định, sự khác nhau đó thể hiện:
- Chi phí sản xuất gắn liền với thời kỳ phát sinh chi phí còn giá thành sản
phẩm gắn với khối lượng sản phẩm, lao vụ đã sản xuất hồn thành.
- Chi phí sản xuất trong một kỳ bao gồm cả những chi phí sản xuất đã trả
trước nhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả của kỳ trước nhưng
kỳ này mới phát sinh thực tế. Ngược lại, giá thành sản phẩm chỉ liên quan đến chi
phí phải trả trong kỳ và chi phí trả trước phân bổ trong kỳ.
- Chi phí sản xuất trong kỳ khơng chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hồn
thành mà còn liên quan đến những sản phẩm đang còn dở dang ở cuối kỳ và những
sản phẩm hỏng, trong khi đó giá thành sản phẩm khơng liên quan đến chi phí sản
xuất dở dang của kỳ trước chuyển sang.
Có thể phản ánh mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
qua cơng thức sau:
Tổng giá thành Chi phí SX Chi phí SX Chi phí SX
sản phẩm = dở dang + phát sinh - dở dang
hồn thành đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ
bằng nhau hoặc các ngành sản xuất khơng có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành
sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
15
Việc phân biệt trên giúp cho cơng tác kế tốn sản phẩm sản xuất và tính giá
thành sản phẩm hoạt động có hiệu quả trong bộ máy kế tốn của doanh nghiệp,
đảm bảo cho giá thành sản phẩm được phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời.
4. Nhiệm vụ của kế tốn chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Kế tốn chi phí sản xuất và tính giá thành là phần hành kế tốn quan trọng có
liên quan đến rất nhiều phần hành kế tốn khác như ngun vật liệu, tiền lương, tài
sản cố định, xác định kết quả… thơng tin về chi phí và giá thành là cơ sở cho việc
xác định kết quả, xác định điểm hồn vốn, mức lợi nhuận sản phẩm , lập báo cáo
tài chính.
Đồng thời chỉ tiêu giá thành cũng phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định chính xác và kịp
thời. Vì thế tổ chức tốt phần hành kế tốn chi phí giá thành là một u cầu khách
quan.
Hơn nữa trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay,cạnh tranh đã trở nên
khốc liệt. Sự cạnh tranh đã chuyển từ chiều rộng là cạnh tranh về mẫu mã, hình
thức về sản phẩm sang cạnh tranh về chiều sâu là chất lượng và giá bán. Vì vậy u
cầu đặt ra đối với mọi doanh nghiệp là muốn tồn tại và phát triển là phải tăng sức
mạnh cạnh tranh bằng cách nâng cao chất lượng và hạ giá thành. Điều đó khiến cho
các nhà doanh nghiệp hiện nay rất quan tâm đến việc tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành chính xác đầy đủ, tìm mọi biện pháp hạ giá thành sản phẩm.
- Ngồi mục đích quản trị doanh nghiệp, các thơng tin về chi phí và giá
thành cũng được để cung cấp cho bên quan tâm khác( cơ quan quản lý NN, ngân
hàng, tổ chức tín dụng…) trong việc định giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả
năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp.
- Để thực sự là cơng cụ đắc lực cho quản lý, kế tốn tập hợp chi phí và tính
giá thành phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét