Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
lệch trong việc ghi chép và trình bày nợ phải trả có thể tương ứng với các
sai lệch trọng yếu trong kết quả hoạt động kinh doanh.
Xuất phát từ những rủi ro tiềm tàng nêu trên, khi kiểm toán nợ phải
trả, kiểm toán viên cần quan tâm đến những vấn đề sau:
Kiểm toán viên phải chú ý về khả năng nợ phải trả bị khai thấp
hoặc không được ghi chép đầy đủ. Việc khai thiếu nợ phải trả có thể dẫn
đến kết quả làm cho tình hình tài chính phản ánh trên báo cáo tài chính tốt
hơn thực tế, trong một số trường hợp có thể dẫn đến khai báo chi phí không
đầy đủ và lợi nhuận tăng giả tạo.
Các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện các khoản nợ phải trả không
được ghi chép khác với thủ tục phát hiện sự khai khống tài sản:
Sự khai khống nợ phải trả thường dựa trên việc ghi chép không đúng
trên sổ sách kế toán, chẳng hạn ghi chép các nghiệp vụ không thực sự xảy
ra. Những nghiệp vụ ghi sai này có thể phát hiện được thông qua việc kiểm
tra từng số dư chi tiết hoặc nghiệp vụ được ghi chép liên quan đến số dư tài
khoản. Việc xác định trách nhiệm cá nhân trong trường hợp này tương đối
dễ dàng.
Việc khai thiếu nợ phải trả thường chỉ là sự bỏ sót nghiệp vụ hình
thành nợ phải trả nên thường khó phát hiện hơn khai khống. Mặt khác nếu
bị phát hiện thì cũng khó xác định đây là lỗi do cố ý hay chỉ là vô tình bỏ
sót. Vì vậy, một trong những loại sai phạm khó phát hiện nhất là gian lận
bằng cách không ghi chép các nghiệp vụ.
Đối với các khoản vay dài hạn cần chú ý để có thể vay được những
khoản này, đơn vị thường phải chấp nhận một số giới hạn về việc sử dụng
tiền vay do đã cam kết với chủ nợ. Nếu những cam kết bị vi phạm, chủ nợ
có quyền yêu cầu phải thanh toán ngay toàn bộ số nợ. Do đó kiểm toán
viên cần chú ý nghiên cứu hợp đồng vay và kiểm tra việc chấp hành những
giới hạn cam kết.
Trần Thị Hải Hà 5 Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2. Phân loại nợ phải trả
Theo tính chất và thời hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả được chia
thành 3 loại sau:
2.1. Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn là các khoản tiền nợ mà doanh nghiệp phải trả cho các
chủ nợ trong một thời gian ngắn (không quá một năm).
Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản như: vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến
hạn trả, phải trả cho người bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản
còn phải nộp Nhà nước, lương và phụ cấp phải trả cho công nhân viên, các
khoản phải trả nội bộ, các khoản phải trả, phải nộp khác.
2.2. Nợ dài hạn
Nợ dài hạn là khoản tiền mà doanh nghiệp nợ các đơn vị, cá nhân, các
tổ chức kinh tế xã hội trên một năm mới phải hoàn trả.
Nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm các khoản như: vay dài hạn cho
đầu tư phát triển, nợ thuê mua TSCĐ (thuê tài chính), doanh nghiệp phát
hành trái phiếu.
2.3. Nợ khác
Là các khoản phải trả như nhận ký quỹ, ký cược dài hạn, tài sản thừa
chờ xử lý và các khoản chi phí phải trả.
3. Nhiệm vụ kế toán các khoản nợ phải trả
Do tính chất, phạm vi và thời hạn huy động các khoản nợ phải trả
khác nhau, mặt khác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp các khoản nợ phải trả luôn luôn biến động, do đó cần phải
được quản lý một cách chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và
theo dõi chi tiết riêng cho từng khoản.
Nợ phải trả được đánh giá là khoản mục quan trọng trong báo cáo tài
chính, hơn nữa rất hay xảy ra sai sót ở khoản mục này gây ảnh hưởng tới
Trần Thị Hải Hà 6 Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính. Do đó, khi hạch toán các
khoản nợ phải trả cần phải tôn trọng một số nguyên tắc kế toán sau:
Mọi khoản nợ phải trả của doanh nghiệp cần phải được theo dõi chi
tiết theo từng đối tượng công nợ.
Các khoản nợ cần phải được chi tiết thành nợ ngắn hạn và nợ dài
hạn căn cứ vào thời hạn phải thanh toán các khoản nợ để từ đó có kế hoạch
thanh toán nợ cụ thể.
Cần phải đối chiếu, kiểm tra định kì hoặc cuối tháng các khoản nợ
phải trả, đặc biệt là các khoản nợ phát sinh lớn, bất thường.
Cuối năm tài chính phải đánh giá lại chênh lệch tỷ giá đối với các
khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.
Không được phép bù trừ công nợ giữa các đối tượng khác nhau.
II. KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ TRONG KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1. Vai trò của kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo
cáo tài chính
Nợ phải trả là một yếu tố cấu thành nên nguồn vốn và phản ánh cơ
cấu vốn của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tỷ lệ Nợ phải trả trên
Tổng nguồn vốn cao thể hiện khả năng tự tài trợ yếu, tuy nhiên khi tỷ lệ
này quá thấp thì doanh nghiệp lại bị đánh giá là khả năng huy động hay
chiếm dụng vốn chưa tốt. Việc phản ánh sai nợ phải trả sẽ ảnh hưởng đến
báo cáo tài chính, làm phản ánh sai lệch khả năng thanh toán của doanh
nghiệp.
Nợ phải trả là khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính của doanh
nghiệp vì nợ phải trả được coi là nguồn tài trợ cho hoạt động và có ảnh
hưởng trực tiếp tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nợ phải trả đòi
hỏi phải được quản lý và theo dõi một cách chặt chẽ. Điều này sẽ giúp cho
Trần Thị Hải Hà 7 Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
doanh nghiệp có thể có được một cơ cấu vốn hợp lý, không bị mất cân đối
về tài chính và sai lệch khả năng thanh toán.
Nợ phải trả còn có liên quan đến rất nhiều tài khoản trên báo cáo tài
chính như hàng hóa, dịch vụ mua vào, vốn vay, lương…̣cần nhiều thời gian
kiểm tra chi tiết trong một cuộc kiểm toán. Như vậy, có thể nói Kiểm toán
các khoản nợ phải trả là một bộ phận không thể tách rời trong kiểm toán
báo cáo tài chính.
2. Mục tiêu kiểm toán nợ phải trả
Việc xác định hệ thống mục tiêu kiểm toán khoa học trên cơ sở các
mối quan hệ vốn có của đối tượng và của khách thể kiểm toán sẽ giúp kiểm
toán viên thực hiện đúng hướng và có hiệu quả hoạt động kiểm toán. Ngoài
ra, mục tiêu kiểm toán còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những
tồn tại, sai sót để khắc phục, nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính
của đơn vị.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) - Mục tiêu và
nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính: mục tiêu của kiểm
toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa
ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực
và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật
liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính trên các
khía cạnh trọng yếu hay không.
Với kiểm toán viên, việc xác minh không chỉ dừng ở các mục tiêu
chung mà phải cụ thể vào từng khoản mục hay phần hành kiểm toán (gọi là
mục tiêu đặc thù). Các mục tiêu chung lại được chia thành mục tiêu hợp lý
chung và các mục tiêu khác. Các mục tiêu chung khác được đặt ra tương
ứng với cam kết của nhà quản lý là tính hiệu lực, tính trọn vẹn, quyền và
nghĩa vụ, chính xác cơ học, phân loại và trình bày, định giá.
Mục tiêu hiệu lực là hướng xác minh vào tính có thật của số tiền trên
các khoản mục, là hướng xác minh bổ sung vào cam kết về sự tồn tại của
Trần Thị Hải Hà 8 Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
các nghiệp vụ của nhà quản lý. Mục tiêu hiệu lực có quan hệ đến khả năng
ghi khống số tiền bởi những nghiệp vụ, tài sản hoặc vốn không có thực.
Kiểm toán viên có trách nhiệm thu thập bằng chứng kiểm toán về sự hiện
hữu của các tài sản và nợ phải trả bằng nhiều phương pháp khác nhau.
Mục tiêu trọn vẹn là hướng xác minh vào sự đầy đủ về thành phần (nội
dung) cấu thành số tiền ghi trên các khoản mục. Mục tiêu trọn vẹn quan hệ
với những bộ phận thực tế phát sinh nhưng không ghi sổ. Kiểm toán viên
cần thu thập bằng chứng để chứng minh là mọi nghiệp vụ, tài sản, nợ phải
trả đều được ghi chép và phản ánh đầy đủ trong báo cáo tài chính. Công
việc này đòi hỏi kiểm toán viên phải sử dụng rất nhiều kỹ thuật kiểm tra
như kiểm tra gián tiếp ở những khoản mục có liên quan, dựa vào sự quan
sát và kết quả kiểm kê để phát hiện những tài sản nằm ngoài sổ sách…
Mục tiêu quyền và nghĩa vụ bổ sung cho cam kết về quyền và nghĩa vụ
với ý nghĩa xác minh lại quyền sở hữu của tài sản và nghĩa vụ pháp lý của
các khoản nợ và vốn. Kiểm toán viên cần phải kiểm tra chủ quyền thực sự
của đơn vị đối với tài sản như xem xét hợp đồng mua bán, chứng từ…̣và
các khoản nợ phải trả có thực sự là nghĩa vụ của doanh nghiệp hay không.
Mục tiêu định giá là hướng xác minh vào cách thức và kết quả biểu
hiện tài sản, vốn và các hoạt động thành tiền. Kiểm toán viên cần thu thập
bằng chứng để xem tài sản, nợ phải trả và nghiệp vụ có được đánh giá theo
những chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không.
Mục tiêu phân loại là hướng xem xét lại việc xác định các bộ phận,
nghiệp vụ được đưa vào tài khoản, cùng việc sắp xếp các tài khoản trong
các báo cáo tài chính theo bản chất kinh tế của chúng được thể hiện bằng
các văn bản pháp lý cụ thể đang có hiệu lực.
Mục tiêu chính xác cơ học là hướng xác minh về sự đúng đắn tuyệt đối
qua các con số cộng sổ và chuyển sổ. Trước khi kiểm tra từng đối tượng chi
tiết, kiểm toán viên cần rà soát lại quá trình tính toán, tổng cộng, lũy kế, đối
Trần Thị Hải Hà 9 Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chiếu giữa số liệu trên sổ chi tiết và sổ cái, giữa số liệu trên sổ sách với số
liệu trên báo cáo tài chính.
Mục tiêu trình bày hướng xác minh vào cách ghi và thuyết trình các số
dư (hoặc tổng số phát sinh của tài khoản) vào các báo cáo tài chính. Kiểm
toán viên phải áp dụng các thủ tục kiểm toán thích hợp để đảm bảo cho
mục tiêu trình bày này.
Tương ứng với các mục tiêu chung trên, Kiểm toán các khoản nợ phải
trả bao gồm các mục tiêu đặc thù sau:
Các khoản phải trả được ghi chép thì hiện hữu và là nghĩa vụ của
đơn vị (Hiện hữu, Nghĩa vụ).
Các khoản nợ phải trả thực tế đã xảy ra đều được ghi trong danh
sách các khoản phải trả (Tính đầy đủ).
Các khoản nợ phải trả được cộng dồn chính xác và thống nhất với
sổ cái và các sổ chi tiết (Ghi chép chính xác).
Các khoản nợ phải trả trong danh sách được đánh giá đúng đắn
(Đánh giá).
Các khoản nợ phải trả được trình bày đúng đắn và khai báo đầy đủ
(Trình bày và công bố).
3. Quy trình Kiểm toán các khoản nợ phải trả trong kiểm toán báo
cáo tài chính
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc
kiểm toán, cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị
làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của
số liệu trên báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo
quy trình gồm ba giai đoạn như sau: lập kế hoạch và thiết kế các phương
pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán
và công bố báo cáo kiểm toán.
Trần Thị Hải Hà 10 Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
3.1. Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên
cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý
cũng như các điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Có ba lý do chính
khiến kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán một cách đúng đắn: để
giúp cho kiểm toán viên có thể thu được bằng chứng có giá trị và đầy đủ
cho các tình huống; để giúp giữ các chi phí kiểm toán ở mức hợp lý; và để
tránh những bất đồng với khách hàng.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA 300) - Lập kế
hoạch kiểm toán nêu rõ kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế
hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán được tiến
hành một cách có hiệu quả. Việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất
phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện
cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc
cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi
hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công
tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng.
Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau:
Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được bằng chứng
kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về
các báo cáo tài chính.
Kế hoạch kiểm toán giúp các kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với
nhau, cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm
toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài…
Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh
xảy ra những bất đồng đối với khách hàng.
Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán
viên có thể kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và
đang thực hiện.
Trần Thị Hải Hà 11 Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Có thể nói việc kế hoạch kiểm toán được lập một cách khoa học, đầy
đủ là một trong những nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công của cuộc
kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các công ty kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán (bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế
hoạch kiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc và được thể hiện theo sơ
đồ sau:
Sơ đồ 1 : Các bước công việc trong lập kế hoạch kiểm toán
3.1.1. Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán là quá trình tiếp cận để thu thập
những thông tin về khách hàng nhằm giúp kiểm toán viên tìm hiểu về các
nhu cầu của họ, đánh giá về khả năng phục vụ và các vấn đề khác như thời
gian thực hiện, phí kiểm toán…
Một cuộc kiểm toán bao giờ cũng bắt đầu từ việc kiểm toán viên và
công ty kiểm toán thu nhận một khách hàng. Trên cơ sở đã xác định được
Trần Thị Hải Hà 12 Kiểm toán 44
Chuẩn bị kế hoạch
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và thiết kế chương trình
kiểm toán
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đối tượng khách hàng có thể phục vụ trong tương lai, công ty kiểm toán sẽ
tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán.
* Sự chấp nhận khách hàng mới và tiếp tục với khách hàng cũ
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) - Kiểm soát
chất lượng hoạt động kiểm toán, trong quá trình duy trì khách hàng hiện có
và đánh giá khách hàng tiềm năng, công ty kiểm toán phải cân nhắc đến
tính độc lập, năng lực phục vụ khách hàng của công ty kiểm toán và tính
chính trực của ban quản lý của khách hàng.
Kiểm toán viên phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng
mới hay tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng cũ có làm tăng rủi ro cho
hoạt động của kiểm toán viên hay làm hại đến uy tín của công ty kiểm toán
hay không.
Quá trình điều tra về khách hàng mới:
Trước khi chấp nhận một khách hàng mới, hầu hết các công ty kiểm
toán đều tìm hiểu lý do mời kiểm toán của khách hàng, điều tra công ty
khách hàng để xác định khả năng chấp nhận kiểm toán. Kiểm toán viên cần
phải tăng lượng thông tin cần thu thập khi báo cáo tài chính của khách hàng
được sử dụng rộng rãi.
Đối với một khách hàng tương lai mà trước đây đã được kiểm toán bởi
một công ty khác, kiểm toán viên mới phải liên lạc với kiểm toán viên tiền
nhiệm, việc tiếp xúc này rất hữu ích, giúp cho kiểm toán viên kế tục có
được những thông tin về tính chính trực của ban quản lý, các bất đồng giữa
hai bên (nếu có)…qua đó đánh giá khả năng có chấp nhận kiểm toán hay
không. Sự liên lạc này cần thiết phải có sự đồng ý của khách hàng. Kiểm
toán viên kế tục phải xem xét một cách nghiêm túc khả năng thỏa đáng của
việc chấp nhận một hợp đồng sắp tới mà không cần việc điều tra đáng kể
tới nếu khách hàng không cho phép sự liên lạc hoặc kiểm toán viên tiền
nhiệm không đáp ứng toàn diện.
Trần Thị Hải Hà 13 Kiểm toán 44
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Khi một khách hàng tương lai chưa được kiểm toán bởi một công ty
kiểm toán khác thì cần có các cuộc điều tra khác như thông qua việc nghiên
cứu sách báo, thẩm tra các bên có liên quan, thậm chí có thể thuê các nhà
điều tra chuyên nghiệp để điều tra các vấn đề cần thiết.
Kiểm toán viên không nên nhận lời kiểm toán khi tính độc lập không
được bảo đảm hoặc xét thấy không đủ năng lực phục vụ khách hàng.
Sự tiếp tục đối với khách hàng cũ:
Công ty kiểm toán đánh giá số khách hàng hiện có hàng năm để xác
định liệu có những lý do nào để không tiếp tục thực hiện kiểm toán hay
không, như những mâu thuẫn giữa công ty kiểm toán và khách hàng có thể
khiến cho kiểm toán viên phải đình chỉ hợp tác.
Kiểm toán viên cũng có thể đánh giá tính liêm chính của Ban giám
đốc khách hàng để đánh giá khả năng tiếp tục kiểm toán. Những nghi ngại
về tính liêm chính của Ban giám đốc có thể nghiêm trọng đến mức kiểm
toán viên kết luận cuộc kiểm toán không thể thực hiện được.
* Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng
Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách
hàng là việc xác định người sử dụng Báo cáo tài chính và mục đích sử dụng
của họ. Việc xác định người sử dụng Báo cáo tài chính và mục đích sử
dụng của họ là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng phải
thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến mà kiểm toán viên đưa ra
trong báo cáo kiểm toán.
Công ty kiểm toán cần phải xác định lý do kiểm toán của khách hàng
căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như dựa trên khả
năng của công ty để đưa ra quyết định hợp lý trong việc kí kết hợp đồng
kiểm toán, cũng như thiết kế phương pháp kiểm toán.
* Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán
Phân bố đội ngũ nhân viên thích hợp cho hợp đồng là điều quan trọng
để thỏa mãn các chuẩn mực kiểm toán đã được thừa nhận và để tăng tính
Trần Thị Hải Hà 14 Kiểm toán 44
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét