Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

ô nhiễm môi trường đất

MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
 Thời gian: thời gian là một yếu tố đặc biệt. Mọi yếu tố ngoại cảnh tác động,
mọi quá trình diễn ra trong đất đều đòi hỏi một thời gian nhất định.
 Con người: vai trò của con người khác hẳn các yếu tố kể trên. Qua hoạt động
sống, nhờ các thành tựu khoa học kỹ thuật mà con người tác động vào thiên
nhiên và đất đai một cách mạnh mẽ. Tác động này có thể là tích cực, phù
hợp với quy luật tự nhiên, đem lại lợi ích cho con người như tưới nước, thủy
lợi, tiêu nước hay bón phân cải tạo đất xấu và trồng rừng cho vùng đồi trọc.
Hoặc tiêu cực như làm ô nhiễm đất bởi các chất độc hóa học, phá rừng gây
xói mòn đất…
2.3. Ô nhiễm đất.
Khái niệm ô nhiễm đất:
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn
môi trường đất bởi các chất ô nhiễm.
Ô nhiễm đất là quá trình làm biến đổi hoặc thải vài đất các chất ô nhiễm làm
thay đổi tính chất và cấu trúc của nó theo chiều hướng không có lợi, mất khả
năng đáp ứng cho các nhu cầu của con người.
Đất bị ô nhiễm có chứa một số độc tố, chất có hại cho cây trồng vượt
quá nồng độ đã được quy định.
Thí dụ nồng độ thuốc trừ sâu, phân hóa học, kim loại nặng quá mức
quy định của Tổ chức Y tế thế giới.
2.4. Ảnh hưởng của tự nhiên và nhân tạo tới môi trường đất.
2.4.1 Phân loại
Có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo
các tác nhân gây ô nhiễm.
 Theo nguồn gốc phát sinh thì có:
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 5
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
 Nguồn gốc tự nhiên.
 Nhiễm phèn: do nước phèn tự một nơi khác di chuyển đến. Chủ
yếu là nhiễm Fe2+, Al3+, SO42 pH môi trường giảm gây ngộ độc
cho con người trong môi trường đó.
 Nhiễm mặn: do muối trong nước biển, nước triều hay từ các mỏ
muối,… nồng độ áp suất thẩm thấu cao gây hạn sinh lí cho thực
vật.
 Gley hóa trong đất sinh ra nhiều chất độc cho sinh thái (CH4,
N2O, CO2, H2S. FeS, ).
 Do hoạt động của núi lửa
 Nguồn gốc nhân tạo.
 Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt
• Rác và phân xả vào môi trường đất: rác gồm cành lá cây,rau,
thức ăn thừa vải vụn , gạch ,vữa, polime, túi nylon
• Rác sinh hoạt thường là hỗn hợp của các chất vô cơ và hữu cơ
độ ẩm cao nhiều vi khuẩn vi trùng gây bệnh.
• Nước thải sinh hoạt theo cống rãnh đổ ra mương và có thể đổ
ra đồng ruộng kéo theo phân rác và làm ô nhiễm đất.
 Ô nhiễm đất do các chất thải công nghiệp:
Khai thác mỏ, sản xuất hóa chất, nhựa dẻo, nylon, các loại
thuốc nhộm, các kim loại nặng tích tụ trên lớp đất mặt làm đất bị chai,
xấu, thoái hóa không canh tác tiếp được
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 6
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
 Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp
• Phân và nước tiểu động vật.
• Sử dụng dư thừa các sản phẩm hóa học như phân bón hóa
học, chất kích thích sinh trưởng, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, tồn tại
lâu trong đất, tích tụ sinh học, thay đổi cân bằng sinh học
giữa đất và cây trồng.
• Lan truyền từ môi trường đã ô nhiễm (không khí, nước), từ
xác bã thực, động vật.
 Theo tác nhân gây ô nhiễm:
 Ô nhiễm đất do tác nhân hóa học: ví dụ như phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật, chất thải sinh hoạt và công nghiệp.
 Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: vi khuẩn, giun sán, ký sinh trùng…
 Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: các chất phóng xạ
Chất ô nhiễm đi vào đất nhiều nhưng đi ra rất ít, vì sau khi thấm vào trong
đất, chất ô nhiễm sẽ ở lại và lưu tồn trong đất. Yếu tố này phụ thuộc nhiều vào khả
năng tự làm sạch của đất.
2.4.2 Khái niệm: Khả năng tự làm sạch của đất
Là khả năng tự điều tiết của đất trong hoạt động của môi trường đất thông
qua một số cơ chế đặc biệt để giảm thấp ô nhiễm từ ngoài vào, tự làm trong sạch
và loại trừ các chất độc hại cho đất. Mức độ làm sạch phụ thuộc vào các yếu tố
như:
 Số lượng và chất lượng hạt keo trong đất, càng nhiều hạt keo (keo
mùn) thì khả năng tự làm sạch cao.
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 7
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
 Đất nhiều mùn, nhiều acid humic
 Trạng thái hiện tại của môi trường đất, đất chưa bị ô nhiễm hoặc ô
nhiễm ít thì khả năng tự làm sạch tốt hơn.
 Sự thoát nước và giữ ẩm
 Cấu trúc đất tốt.
 Các chủng loại vi sinh vật phong phú, số lượng nhiều sẽ giúp đất đào
thải chất độc chất ô nhiễm nhanh chóng.
 Khả năng oxy hóa tốt, chưa bị nhiễm mặn, nhiễm phèn.
2.5. Các nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường đất.
2.5.1 Nguyên nhân tự nhiên.
Trong các khoáng vật hình thành nên đất thường chứa một hàm lượng nhất
định kim loại nặng, trong điều kiện bình thường chúng là những nguyên tố trung
lượng và vi lượng không thể thiếu cho cây trồng và sinh vật đất, tuy nhiên, trong
một số điều kiện đặc biệt chúng vượt một giới hạn nhất định và trở thành chất ô
nhiễm.
Bảng 1: Thành phần kim loại vết trong một số khoáng vật điển
hình.
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 8
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
Trạng thái phong
hoá
Khoáng vật Hiện diện Thành phần kim
loại vết
Dễ bị phong hoá Olivine Đá macma Mn, Co, Ni, Cu,
Zn
Anorthite Mn, Cu, Sr
Augite Đá siêu bazơ và
bazở núi lửa
Mn, Co, Ni, Cu,
Zn, Pb
Hornblende Phân bố rộng
trong đá macma
và biến chất
Mn, Co, Ni, Cu,
Zn
Albite Coase,
intermediate
igneous rocks
Cu
Biotite Mn, Co, Ni, Cu,
Zn
Orthoclase Đá macma axít Cu, Sr
Muscovite Granite, phiến
thạch, thuỷ tinh
Cu, Sr
Khả năng ổn
định khoáng tăng
Magnetite Đá mácma và
biến chất
Cr, Co, Ni, Zn
Bảng 2: Hàm lượng kim loại trong một số loại đá
Đá macma Đá thứ sinh
Nguyên tố Đá siêu
bazơ
(serpentin)
Bazơ
(basalt)
(µg/g)
Granie
(µg/g)
Đá vôi
(µg/g)
Đát cát kết
(µg/g)
Đá phân
lớp
(µg/g)
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 9
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
(µg/g)
Cr 2000-2980 200 4 10-11 35 90-100
Mn 1040-1300 1500-2200 400-500 620-1100 4-60 850
Co 110-150 35-50 1 0.1-4 0.3 19-20
Ni 2000 150 0.5 7-12 2-9 68-70
Cu 10-42 90-100 10-13 5.5-15 30 39-50
Zn 50-58 100 40-52 20-25 16-30 10-120
Cd 0.12 0.13-0.2 0.9-0.2 0.028-0.1 0.05 0.2
Sn 0.5 1-1.5 3-3.5 0.5-4 0.5 4-6
Hg 0.004 0.01-0.08 0.08 0.05-0.16 0.03-0.29 0.18-0.5
Pb 0.1-0.4 3-5 20-2.4 5.7-7 8-10 20-23
Ví dụ:
Chì: Trong các đá magma, Pb có xu thế tăng dần hàm lượng từ siêu mafic đến
axit. Trong các đá magma, Pb chủ yếu tập trung trong khoáng vật felspat, tiếp đó là
những khoáng vật tạo đá xẫm màu mà đặc biệt là biotit.
Trong thành tạo đá trầm tích và biến chất:Ở khu vực Đông Bắc Bộ, Pb được
xếp vào nhóm nguyên tố quặng kim loại (Sn, Cu, Pb, Zn, Ga, Ag) rất phổ biến;
chúng được phát hiện với hàm lượng cao trong các đá trầm tích và trầm tích biến
chất, đặc biệt trong các đá Paleozoi. Ở khu vực Tây Bắc Bộ, Pb và Cu là 2 nguyên
tố quặng kim loại phổ biến với hàm lượng cao trong các đá trầm tích và trầm tích
biến chất. Pb thường tập trung cao trong các đá trầm tích ở 2 bên tả và hữu ngạn
sông Đà. Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường, chì là nguyên tố kém linh động.
2.5.2 Nguyên nhân nhân tạo
 Do chiến tranh
Ở miền Nam Việt Nam, chất độc màu da cam và các loại thuốc diệt cỏ
khác bắt đầu được thử nghiệm bởi quân đội Hoa Kỳ vào năm 1961 và được sử
dụng rộng rãi với hàm lượng cao trong chiến tranh vào các năm 1967 – 1968, rồi
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 10
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
giảm xuống và ngừng sử dụng năm 1971. Các loại hợp chất này được trộn vào
dầuhỏa hoặc nhiên liệu diezen rồi rải bằng máy bay hoặc các phương tiện khác.
Theo công bố của một nhóm tác giả trên tạp chí Nature thì có thể nói chiến
dịch dùng hóa chất ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất thế giới
[3]. Trong thời gian 10 năm đó, quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã rải
76,9 triệu lít hóa chất xuống rừng núi và đồng ruộng Việt Nam. Trong số này có
64% là chất độc màu da cam, 27% là chất màu trắng, 8,7% chất màu xanh và 0,6%
chất màu tím.
Tổng số lượng dioxin Việt Nam hứng chịu là vào khoảng 370kg. (Trong
khi đó vụ nhiễm dioxin ở Seveso, Ý, 1976 chỉ với 30kg dioxin thải ra môi trường
mà tác hại của nó kéo dài hơn 20 năm). Tổng số diện tích đất đai bị ảnh hưởng hóa
chất là 2,63 triệu hécta. Có gần 5 triệu người Việt Nam sống trong 25.585 thôn ấp
chịu ảnh hưởng độc chất màu da cam.
Lượng chất độc trên được rải lên đất, làm ô nhiễm đất, thay đổi hệ sinh
thái của đất, ảnh hưởng trực tiếp đến con người, sinh vật trong một thời gian rất
dài.
2.5.3. Ô nhiễm đất vì nước thải.
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 11
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
Nguyên nhân là không biết cách lợi dụng một cách khoa học các loại nước thải
để tưới cho cây trồng. Sử dụng hợp lý nguồn nước thải tưới đồng ruộng sẽ tận
dụng được lượng Nitơ, Photpho, Kaki trong nước, có lợi cho cây trồng. Nhưng
nếu như nước ô nhiễm chưa qua xử lý cần thiết, tưới bừa bãi, thì có thể đưa các
chất có hại trong nguồn nước vào đất gây ô nhiễm.
Ở Việt Nam, hiện nay nhiều nguồn nước thải ở các đô thị, khu công nghiệp và
các làng nghề tái chế kim loại, chứa các kim loại nặng độc hại như :Cd, As, Cr, Cu,
Zn, Ni, Pb và Hg. Một diện tích đáng kể đất nông nghiệp ven đô thị, khu công
nghiệp và làng nghề đã bị ô nhiễm kim loại nặng.
2.5.4. Ô nhiễm đất vì chất phế thải.
Nguồn chất thải rắn có rất nhiều, chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn
của ngành khai thác mỏ, rác ở đô thị, chất thải nông nghiệp và chất thải rắn
phóng xạ. Chủng loại của chúng rất nhiều, hàm lượng các nguyên tố độc
trong chúng cũng không giống nhau; tỷ lệ nguyên tố độc hại trong chất thải
rắn công nghiệp thường cao hơn; rác thành thị chứa các loại vi khuẩn gây
bệnh và ký sinh trùng; chất thải rắn nông nghiệp chứa các chất hữu cơ thối
rữa và thuốc nông nghiệp còn lưu lại ; chất thải phóng xạ có chứa các
nguyên tố phóng xạ như Uranium, Strontium, Caesium những chất thải rắn
này được vứt bừa bãi, ngấm nước mưa, và rỉ ra nước gây ô nhiễm đất, sông
ngòi, ao hồ và nguồn nước ngầm, nguồn nước ô nhiễm này lại được dùng để
tưới đồng ruộng sẽ làm thay đổi chất đất và kết cấu đất, ảnh hưởng tới hoạt
động của vi sinh vật trong đất, cản trở sự sinh trưởng của bộ rễ thực vật và
ảnh hưởng tới sản lượng cây trồng.
 Chỉ tính riêng Việt Nam, mỗi ngày có hơn 20 ngàn tấn rác các loại,
thành phố Hồ Chí Minh có khoảng hơn 3.000 tấn/ngày; trong đó rác
công nghiệp 50%, rác sinh hoạt 40% và rác bệnh viện 10%.
 Thành phần rác hữu cơ khoảng 40-60%; vật liệu xây dựng, sành sứ
khoảng 25-30%; giấy, bìa, gỗ khoảng 10-14%; kim loại 1-2%.
 Ước tính chỉ thu gom được khoảng 50% mỗi ngày, công suất chế biến
rác chỉ được khoảng 10%.
 Nhược điểm hiện nay là chưa có quy hoạch lâu dài về bãi chôn lấp,
gây mất vệ sinh môi trường; rác thải chưa được phân loại trước khi
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 12
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
thu gom, những rác độc hại, nguy hiểm, lây nhiễm bệnh chưa được
tách biệt ra khỏi rác chung. Ngoài ra còn thiếu các văn bản pháp lý
cũng như các quy định nghiêm ngặt về thải rác, thu gom và xử lý rác.
Áp lực dân số cũng thể hiện ở mức độ gia tăng nhanh chóng khối
lượng rác thải.
2.5.5. Dầu trong đất.
Việc thăm dò và khai thác dầu có tác động xấu lên môi trường đất-đó là
hậu quả tất yếu của sự phát triển kinh tế và văn minh xã hội trong thời đại
khoa học kỹ thuật. Dầu thô làm ô nhiễm sự sống trên trái đất, theo mưa, lan
tràn trên mặt nước. Đất nhiễm dầu gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường
(tai nạn dầu Neptune và các tàu dầu ở Cát Lái, Nhà Bè, Cần Giờ), làm chậm
và giảm tỉ lệ nẩy mầm, làm chậm sự phát triển của thực vật, làm thay đổi sự
vận chuyển các chất dinh dưỡng trong môi trường đất. Đối với vật nuôi, chỉ
cần một vết xước nhỏ trên da của vật nuôi trong ao hồ bị nhiễm dầu cũng có
thể làm cho vật nuôi bị ngộ độc. Người ăn phải những vật nuôi bị ngộ độc dầu
cũng sẽ bị ngộ độc.
2.5.6. Ô nhiễm đất do khí thải.
Các chất khí độc hại trong không khí như ôxit lưu huỳnh, các hợp chất nitơ
kết tụ hoặc hình thành mưa axit rơi xuống đất làm ô nhiễm đất. Một số loại khói
bụi có hại ngưng tụ cũng là nguyên nhân của ô nhiễm đất. Ví dụ, các vùng đất gần
các nhà máy sản xuất hoá chất Photpho, Flo, luyện kim dễ bị ô nhiễm vì khói bụi,
hàm lượng flo chứa trong khoáng chất photpho sử dụng ở các nhà máy phân hoá
học thường là 2 – 4%, nếu khí thải không được xử lý thích đáng, có thể làm cho
một vùng hàng ngàn km2 đất xung quanh bị ô nhiễm flo nặng. Ở gần các xưởng
luyện kim, vì trong khí thải có chứa lượng lớn các chất chì, cadimi, crom, đồng
nên vùng đất xung quanh sẽ bị ô nhiễm bởi những chất này. Đất ở 2 bên đường,
thường có hàm lượng chì tương đối cao là sản phẩm của khí thải động cơ.
2.5.7. Ô nhiễm đất do nông nghiệp hiện đại.
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 13
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI MAI VÂN ANH
Ô nhiễm đất xảy ra chủ yếu ở nông thôn. Trước hết là do sự bành trướng của kỹ
thuật canh tác hiện đại. Nông nghiệp hiện nay phải sản xuất một lượng lớn thức ăn
trong khi đất trồng trọt tính theo đầu người ngày càng giảm vì dân số gia tăng và
cũng vì sự phát triển thành phố, kỹ nghệ và những sử dụng phi nông nghiệp. Người
ta cần phải thâm canh mạnh hơn, dẫn tới việc làm xáo trộn dòng năng lượng và chu
trình vật chất trong hệ sinh thái nông nghiệp.
a. Ô nhiễm đất do sử dụng phân bón hóa học.
Phân hóa học được rãi trong đất nhằm gia tăng năng suất cây trồng. Nguyên tắc
là khi người ta lấy đi của đất các chất cần thiết cho cây thì người ta sẽ trả lại đất
qua hình thức bón phân.
Trong các phân hóa học sử dụng nhiều nhất, ta có thể kể phân đạm, phân lân và
phân kali. Trong một số đất phèn người ta còn bón vôi, thạch cao.
Bảng 3. Các tạp chất trong phân superphosphate (Theo Barrows, 1996)
Kim loại Hàm lượng
Arsenic 2,2 - 12 ppm
Cadmium 50 - 170
Chlomium 66 - 243
Cobalt 0 - 9
Ðồng 4 - 79
Chì 7 - 92
Nicken 7 - 32
Selenium 0 - 4,5
Vanadium 20 - 180
Kẽm 50 - 1490
Bảng 4: Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở nước ta qua các năm
(ĐV: nghìn tấn)
SVTH: NHÓM 3_CA 1 Page 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét