Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
bởi các mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp mà còn bởi các mối quan hệ
với các yếu tố bên ngoài như: khách hàng, nhà cung cấp, tổ chức tài chính,
pháp luật…Sự hoạt động của doanh nghiệp thực chất là sự thích ứng của nó
với môi trường hoạt động. Do vậy khi nhìn nhận doanh nghiệp cần thấy được
vị trí của nó trong nền kinh tế và quan trọng hơn là phải đánh giá được nó về
mặt tổ chức cũng như sự thích ứng của nó với môi trường.
b) Doanh nghiệp là một tổ chức, một thực thể hoặt động chứ không phải là các
tài sản rời rạc được tập hợp vào với nhau
Doanh nghiệp không phải là một kho hàng, doanh nghiệp không đơn
giản là tập hợp của những tài sản vô tri vô giác, giá trị sử dụng của chúng bị
giảm dần theo thời gian. Khi hoạt động, các tài sản trong doanh nghiệp gắn
kết lại với nhau để tạo ra giá trị và giá trị thặng dư cho doanh nghiệp. Chỉ khi
doanh nghiệp bị giải thể hay phá sản, những tài sản ấy mới được coi là những
tài sản đơn lẻ, rời rạc, người ta có thể đem bán nó như một loại hàng hóa
thông thường với mức giá thấp hơn rất nhiều giá trị thực của nó. Do vậy, giá
trị doanh nghiệp là một khái niệm chỉ được dùng cho những doanh nghiệp
đang hoạt động và sẵn sàng hoạt động.
c) Doanh nghiệp là một loại hàng hóa đặc biệt
Doanh nghiệp là một tổ chức được thành lập ra để thực hiện hoạt động
sản xuất kinh doanh chứ không phải là đối tượng để bán, tuy vậy giống như
các hàng hoá thông thường khác, doanh nghiệp cũng là đối tượng của các giao
dịch: mua bán, hợp nhất, chia nhỏ,… Quá trình hình thành giá cả và giá trị đối
với loại hàng hoá này cũng không nằm ngoài sự chi phối của các quy luật giá
trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Nhưng doanh nghiệp là một loại
hàng hóa đặc biệt, bởi nó là một hệ thống phức tạp của nhiều yếu tố cầu
thành, ngoài việc được tạo nên bởi các tài sản hữu hình còn có các tài sản vô
5
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
55
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
hình như: lợi thế thương mại, thương hiệu…Hơn nữa, bản thân các yếu tố tạo
nên giá trị của doanh nghiệp luôn có sự thay đổi, luôn só sự tăng lên hay giảm
đi, có sự ra đời hay biến mất, chính vì vậy giá trị của một doanh nghiệp cũng
thay đổi theo thời gian và giá trị doanh nghiệp là một khái niệm động.
d) Việc thành lập hay mua bán lại doanh nghiệp thực chất là nhằm tìm kiếm
thu nhập từ quyền sở hữu đối với doanh nghiệp đó
Con người muốn sở hữu doanh nghiệp là vì lợi nhuận. Việc sở hữu các
tài sản cố định tài sản lưu động hay sở hữu một bộ máy kinh doanh, chỉ là
cách thức, là phương tiện để đạt mục tiêu lợi nhuận mà thôi. Tiêu chuẩn để
nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động, quyết định bỏ vốn và đánh giá giá trị
doanh nghiệp là các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà
đầu tư trong tương lai.
1.2 Định giá doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về định giá doanh nghiệp
Giá trị (value) là một khái niệm kinh tế có liên quan đến giá cả, chủ yếu
do người mua và người bán xác định. Giá trị là mức giá dự tính sẽ phải trả đối
với hàng hoá hoặc dịch vụ tại một thời điểm nhất định.
Giá trị của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền của các khỏan thu
nhập mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đẩu tư trong suốt quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để xác định được giá trị doanh nghiệp, có thể tiếp cận theo hai cách:
- Tiếp cận trực tiếp: Trực tiếp đánh giá các tài sản của doanh nghiệp, bao
gồm cả tài sản hữu hình, tài sản vô hình và định lượng giá trị các yếu tố
về tổ chức, danh tiếng, thị phần của doanh nghiệp.
- Tiếp cận gián tiếp: Đánh giá doanh nghiệp thông qua việc lượng hóa
các khoản thu nhập kỳ vọng mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà
6
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
66
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
đầu tư trong suốt thời gian hoạt động còn lại của doanh nghiệp.
Với hai cách tiếp cận như vậy, trên thế giới hiện nay có nhiều phương
pháp xác định giá trị doanh nghiệp khác nhau (sẽ được đề cập cụ thể ở phần
sau). Tuy nhiên kết quả xác định giá trị doanh nghiệp thường có sự chênh lệch
lớn thậm chí ngay cả khi sử dụng cùng một phương pháp vì kết quả đó phụ
thuộc rất lớn vào độ chính xác của các tham số tính toán. Do vậy mỗi phương
pháp đưa ra đều có những thích ứng đối với từng hoàn cảnh cụ thể của mỗi
doanh nghiệp và tẩm nhìn của nhà đầu tư. Không thể có một phương pháp
chung phù hợp cho mọi doanh nghiệp nên việc lựa chọn phương pháp nào đó
để áp dụng thống nhất cho mọi doanh nghiệp là điều khó thực hiện và sẽ nảy
sinh nhiều mâu thuẫn. Định giá là một môn khoa học có tính nghệ thuật ước
lượng cao chứ không hẳn là một khoa học chính xác. Kết quả xác định giá trị
doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của nhà thẩm định, điều
quan trọng là quá trình định giá phải thực hiện một cách thống nhất và kết quả
định giá sẽ được sử dụng một cách hữu ích nhất.
1.2.2 Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp
Xác định giá trị doanh nghiệp là sự ước tính với độ tin cậy cao nhất các
khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể tạo ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh, làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch thông thường của thị trường.
a) Giá trị thị trường.
Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán
trên thị trường vào thời điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn
sàng mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch mua bán
khách quan và độc lập, trong điều kiện thương mại bình thường:
+ “Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua
bán trên thị trường ” là số tiền ước tính để tài sản có thể được mua, bán trên
7
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
77
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
thị trường trong điều kiện thương mại bình thường mà sự mua bán đó thoả
mãn những điều kiện của thị trường tại thời điểm thẩm định giá.
+ “vào thời điểm thẩm định giá ” là ngày, tháng, năm cụ thể khi tiến
hành thẩm định giá, được gắn với những yếu tố về cung, cầu, thị hiếu và sức
mua trên thị trường khi thực hiện thẩm định giá trị tài sản.
+ “giữa một bên là người mua sẵn sàng mua ” là người đang có khả
năng thanh toán và có nhu cầu mua tài sản được xác định giá trị thị trường.
+ “và một bên là người bán sẵn sàng bán ” là người bán đang có
quyền sở hữu tài sản (trừ đất), có quyền sử dụng đất có nhu cầu muốn bán tài
sản với mức giá tốt nhất có thể được trên thị trường.
+ “Điều kiện thương mại bình thường” là việc mua bán được tiến hành
khi các yếu tố cung, cầu, giá cả, sức mua không xảy ra những đột biến do chịu
tác động của thiên tai, địch họa; nền kinh tế không bị suy thoái hoặc phát triển
quá nóng…; thông tin về cung, cầu, giá cả tài sản được thể hiện công khai
trên thị trường.
Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường công khai
và cạnh tranh. Thị trường này có thể là thị trường trong nước hoặc thị trường
quốc tế, có thể bao gồm nhiều người mua, người bán hoặc bao gồm một số
lượng hạn chế người mua, người bán.
Giá trị thị trường thể hiện mức giá ước tính mà trên cơ sở đó, bên bán
và bên mua thoả thuận tại một thời điểm sau khi cả hai bên đã khảo sát, cân
nhắc đầy đủ các cơ hội và lựa chọn tốt nhất cho mình từ các thông tin trên thị
trường trước khi đưa ra quyết định mua hoặc quyết định bán một cách hoàn
toàn tự nguyện, không nhiệt tình mua hoặc nhiệt tình bán quá mức.
b) Giá trị phi thị trường
8
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
88
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
Giá trị phi thị trường là số tiền ước tính của một tài sản dựa trên việc
đánh giá yếu tố chủ quan của giá trị nhiều hơn là dựa vào khả năng có thể
mua bán tài sản trên thị trường.
Cơ sở của việc đưa ra khái niệm giá trị phi thị trường cũng xuất phát
trực tiếp từ khái niệm giá trị tài sản: là biểu hiện bằng tiền về những lợi ích
mà tài sản mang lại cho chủ thể nào đó tại một thời điểm nhất định.
Sau đây một số khái niệm giá trị phi thị trường thường dùng:
- Giá trị còn lại (salvage value): là giá trị của tài sản (bao gồm cả đất
đai) không còn được tiếp tục sửa chữa hay sử dụng nữa. Giá trị này có thể
coi như giá trị ròng của chi phí dỡ bỏ. Trong mọi trường hợp, khi định giá
tài sản cần xác định rõ những bộ phận dỡ bỏ và những bộ phận còn lại của
tài sản.
- Giá trị tài sản bắt buộc phải bán (forcedsale value): là tổng số tiền
hợp lý có thể thu về từ bán tài sản trong phạm vị thời gian quá ngắn so với
thời gian trung bình cần có để giao dịch mua bán theo giá trị thị trường. Tại
một số nước, giá trị tài sản bắt buộc phải bán có thể liên quan đến tình
huống người bán tài sản chưa sẵn sàng bán và người mua tài sản biết rõ
việc chưa sẵn sàng bán đó.
- Giá trị đặc biệt (special value): là khái niệm có liên quan đến
những yếu tố đặc biệt có thể làm tăng giá trị tài sản lên vượt quá giá trị thị
trường. Giá trị đặc biệt có thể nảy sinh khi một tài sản này có thể gắn liền
với một tài sản khác về mặt kỹ thuật hoặc kinh tế mà sự liên kết đó chỉ thu
hút mối quan tâm đặc biệt của một số ít khách hàng mà không thu hút sự
quan tâm của nhiều người. Các yếu tố của giá trị đặc biệt có thể nảy sinh
khi xem xét yếu tố của giá trị tài sản đang quan tâm hoặc giá trị đầu tư.
Thẩm định viên phải phân biệt rõ ràng những thông số và nguyên nhân để
9
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
99
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
vận dụng các khái niệm giá trị thị trường nói trên thay vì sử dụng khái niệm
giá trị thị trường.
- Giá trị có thể bảo hiểm (insurable value): là giá trị của tài sản quy
định trong hợp đồng bảo hiểm.
- Giá trị có thể tính thuế (taxable value): là giá trị trong phạm vi luật
pháp liên quan đến việc thuê mướn hoặc thu thuế tài sản. Mặc dù một số
văn bản pháp quy trích
- Giá trị đầu tư (investment value): là giá trị của một tài sản đối với
một số nhà đầu tư áp dụng cho một dự án đầu tư nhất định. Khái niệm này liên
quan đến những tài sản riêng biệt với những nhà đầu tư riêng biệt. Không nên
nhầm lẫn giữa giá trị đầu tư và giá trị thị trường. Giá trị đầu tư của một tài sản
có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thị trường của tài sản đó. Tuy nhiên giá trị
thị trường có thể phản ánh một số đánh giá cá nhân về giá trị đầu tư. Giá trị đầu
tư có liên quan đến giá trị đặc biệt
- Giá trị đang sử dụng (Value in use): là giá trị các tài sản khi nói
đang được một người cụ thể sử dụng cho một mục đích nhất định. Vì vậy,
tài sản đó không liên quan đến thị trường. Loại giá trị này đóng góp vào
một doanh nghiệp với tư cách là một bộ phận của tài sản doanh nghiệp,
không tính đến giá trị sử dụng tối ưu và tốt nhất của tài sản cũng như số
tiền mà tài sản đó mang lại khi nó được mang ra bán. Xét trên giác độ kế
toán, giá trị đang sử dụng là giá trị hiện tại của luồng tiền mặt ước tính có
thể mang lại trong tương lai kể từ khi bắt đầu sử dụng tài sản đến khi thanh
lý tài sản.
Giá trị doanh nghiệp đang hoạt động (going concern): là giá trị toàn
bộ của một doanh nghiệp. Khái niệm này liên quan đến định giá tài sản một
doanh nghiệp đang hoạt động mà mỗi bộ phận tài sản cấu thành nên doanh
10
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
1010
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
nghiệp đó không thể tách rời và cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trị
thị trường.
1.2.3 Các nhân tố tác động tới giá trị doanh nghiệp
Các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh
a) Môi trường kinh doanh tổng quát:
- Môi trường kinh tế: Bối cảnh kinh tế được nhìn nhận thông qua hàng
loạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá cả,
tỷ giá ngoại tệ, tỷ suất đầu tư,…Mặc dù môi trường kinh tế mang tính chất
như yếu tố khách quan nhưng ảnh hưởng của chúng tới giá trị doanh nghiệp
lại là sự tác động trực tiếp, mỗi sự thay đổi nhỏ của yếu tố này bao giờ
cũng ảnh hưởng tới sự đánh giá về doanh nghiệp. Ví dụ: Chỉ số giá chứng
khoán phản ánh đúng quan hệ cung cầu, đồng tiền ổn định, tỷ giá và lãi
xuất có tính kích thích đầu tư sẽ trở thành cơ hội tốt cho doanh nghiệp mở
rộng quy mô sản xuất. Ngược lại, sự suy thoái kinh tế, lạm phát phi mã là
biểu hiện môi trường tồn tại của doanh nghiệp đang bị lung lay tận gốc.
- Môi trường chính trị: Sản xuất kinh doanh chỉ có thể tồn tại và phát
triển trong môi trường có sự ổn định về chính trị nhất định. Chiến tranh sắc
tộc, tôn giáo, sự lộng hành của Mafia và những yếu tố trật tự an toàn xã hội
khác bao giờ cũng tác động xấu đến mọi mặt đời sống xã hội chứ không
riêng gì với sản xuất kinh doanh.
Các yếu tố của môi trường chính trị có sự gắn bó chặt chẽ như:
+ Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng và chi tiết của hệ thống pháp luật.
+ Quan điểm của nhà nước đối với sản xuất kinh doanh được thể hiện
thông qua các văn bản pháp quy như: luật cạnh tranh, sở hữu trí tuệ,…
- Môi trường văn hoá xã hội: Môi trường văn hoá được đặc trưng bởi
những quan niệm, những hệ tư tưởng của cộng đồng về lối sống, đạo đức.
11
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
1111
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
Thể hiện trong quan niệm về “chân, thiện, mỹ” quan niệm về nhân cách,
văn minh xã hội, thể hiện trong tập quán sinh hoạt và tiêu dùng.
Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi,
mật độ, …
- Môi trường khoa học công nghệ: Sự tác động của kỹ thuật - công nghệ
đang làm thay đổi một cách căn bản các điều kiện về quy trình công nghệ
và phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp. Sản
phẩm sản xuất ra ngày càng đa dạng, phong phú, hàm lượng tri thức có
khuynh hướng chiếm ưu thế tuyệt đối trong giá bán sản phẩm.
Sự nhảy vọt của nền văn minh nhân loại không chỉ là cơ hội mà còn là
thách thức đối với sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, khi đánh giá về
doanh nghiệp phải chỉ ra được mức độ tác động của môi trường này đến sản
xuất kinh doanh và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước những bước
phát triển mới của khoa học- công nghệ.
b) Môi trường đặc thù
- Quan hệ doanh nghiệp với khách hàng: Thị trường đối với doanh
nghiệp thể hiện bằng yếu tố khách hàng, thông thường khách hàng sẽ chi
phối hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng cũng có trường hợp khách hàng
lại bị lệ thuộc vào khả năng cung cấp của doanh nghiệp. Do vậy muốn đánh
giá đúng khả năng phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cần phải xác định tính chất, mức độ bền vững và uy tín của doanh
nghiệp trong quan hệ với khách hàng và đặc biệt là thị phần hiện tại, thị
phần tương lai, doanh số bán ra và tốc độ tiến triển của các chỉ tiêu đó qua
các chu kỳ kinh doanh.
- Quan hệ doanh nghiệp với nhà cung cấp: Doanh nghiệp thường
phải trông đợi sự cung cấp từ phía bên ngoài các loại hàng hoá, nguyên vật
12
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
1212
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
liệu, các dịch vụ điện, nước,… Tính ổn định đảm bảo cho sản xuất và tiêu
thụ được thực hiện theo đúng chỉ tiêu đã đề ra.
Để đánh giá khả năng đáp ứng các yếu tố đầu vào đảm bảo cho sản xuất kinh
doanh có thể ổn định phải xem xét đến: Sự phong phú của các nguồn cung
cấp, số lượng, chủng loại các nguyên liệu có thể thay thế được cho nhau, khả
năng đáp ứng lâu dài, tính kịp thời, chất lượng và giá cả.
- Các hãng cạnh tranh: Sự quyết liệt trong môi trường cạnh tranh được
coi là mối nguy cơ trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Do đó, đánh
giá năng lực cạnh tranh, ngoài việc xem xét 3 tiêu chuẩn: Giá cả, chất
lượng sản phẩm và dịch vụ hậu thương mại còn phải xác định được số
lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, năng lực thự sự và thế mạnh của
họ là gì.
- Các cơ quan Nhà nước: Sự hoạt động của doanh nghiệp luôn phải
được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước như: cơ
quan thuế, cơ quan thanh tra, các tổ chức công đoàn…Các tổ chức này có
bổn phận kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho sự hoạt động của doanh nghiệp
không vượt ra khỏi những quy ước xã hội thể hiện trong luật thuế, luật môi
trường,…
Doanh nghiệp có quan hệ tốt đẹp với các tổ chức đó thường là những
doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với xã hội, như nộp thuế
đầy đủ, đúng hạn, chấp hành tốt luật lao động,… Đó cũng là biểu hiện của
những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính vững mạnh. Vì vậy, xác định sự tác
động của yếu tố môi trường đặc thù đến sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp còn cần phải xem xét chất lượng và thực trạng của doanh nghiệp với
các tổ chức đó.
Các yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp
13
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
1313
Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Tài chính – Ngân hàng
- Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp: Khi xác định giá trị doanh
nghiệp, bao giờ người ta cũng quan tâm ngay đến hiện trạng tài sản của
doanh nghiệp, vì 2 lý do chủ yếu:
Thứ nhất: Tài sản của một doanh nghiệp là biểu hiện của yếu tố vật
chất cần thiết, tối thiểu đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Số lượng,
chất lượng, trình độ kỹ thuật và tính đồng bộ của các loạ tài sản là yếu tố
quyết định đến số lượng và chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất
ra.
Thứ hai: Giá trị các tài sản của doanh nghiệp được coi là một căn cứ và
là một sự đảm bảo rõ ràng nhất về giá trị doanh nghiệp. Vì thay cho việc dự
báo các khoản thu nhập tiềm năng thì người sở hữu có thể bán chúng bất cứ
lúc nào để nhận về một khoản thu nhập từ những tài sản đó.
Chính vì vậy, người ta thường đánh giá cao các phương pháp có liên
quan trực tiếp đến việc xác định giá trị tài sản doanh nghiệp.
- Vị trí kinh doanh: Được đặc trưng bởi các yếu tố như: địa điểm, diện
tích của doanh nghiệp và các chi nhánh thuộc doanh nghiệp, yếu tố địa
hình, thời tiết….
Vị trí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất kinh doanh.
Ví dụ: Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ,
được đặt gần đô thị, các nơi đông dân cư, các trung tâm buôn bán lớn và
các đầu mối giao thông quan trọng có thể đem lại rất nhiều lợi thế cho
doanh nghiệp như: Chi phí vận chuyển, bảo quản, chi phí lưu kho, … Đồng
thời doanh nghiệp có những thuận lợi lớn để tiếp cận và nắm bắt nhanh
chóng nhu cầu, thị hiếu của thị trường, thực hiện tốt các dịch vụ hậu thương
mại… Tuy nhiên, với vị trí đó cũng có thể kéo theo sự gia tăng một số
khoản chi phí như thuê văn phòng giao dịch thuê lao động…
14
Sinh viên: Bùi Thị Miền T i cà hính doanh nghiệp 46B
1414
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét