Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số loại phân bón sinh học đến sinh trưởng, phát triển và năng suất chất lượng dưa Kim Cô Nương trồng trong nhà kính vụ Xuân Hè tại Hải Phòng

ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
Citrllus naudinianus (sond.) Hook.
Shimotsuma đã mô tả các loài đó nh sau:
- C.lanatus (thunb.) Mansf là cây hàng năm, nguồn gốc ở miền nam châu
Phi. Loại này đợc cung cấp rộng rãi ở Ai Cập và miền Nam, miền Tây và trung
á. Lá lớn và xanh, chia thùy sâu từ 3-5 cánh, đôi khi thùy đơn giản. Hoa trung
bình, đơn tính cùng gốc. Quả từ trung bình đến lớn,vỏ quả dày,thịt quả chắc có
nhiều nớc. Mỗu sắc thịt quả có thể đỏ, vàng, trắng.[8]
- C. colocynthis là cây lu niên, có nguồn gốc ở Bắc Phi, loài này khác với
C. vulgaris chủ yếu hình thái các bộ phận trên cây. Lá nhỏ, thùy lá hẹp, lông
phủ trên thân lá màu xám. Hoa đơn tính cùng gốc.Hạt nhỏ, màu hạt nâu.[8]
- C. naudinianus và C. ecirrhosus cogn. Cả 2 đều có nguồn gốc ở vùng sa
mạc Nam Phi và Tây Phi. Đặc điểm sinh trởng dinh dỡng của C. naudinianus
khác với các loài trên ở lá hình chân vịt, xẻ thùy sâu, phủ đầy lông. Tua cuốn
đơn giản, kéo dài hoặc mảnh mai[8]
Hoa đơn tính cùng gốc, ra hoa ở năm thứ 2.
Tất cả 4 loài có thể thụ phấn chéo lẫn với nhau.hạt nảy mầm tốt,F1 sinh tr-
ởng tốt.
2.1.2. Đặc điểm thực vật học
* Rễ
Theo các tác giả ( Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà) Da
thuộc họ bầu bí xuất xứ ở vùng đồng cỏ miền trung Châu Phi, nên hệ rễ của
chúng có thể ăn sâu nh da hấu, bí ngô. Khi gặp điều kiện thời tiết khô hạn rễ
chính có thể ăn sâu tới 40 cm và chiều rộng 0,7- 1,2 cm. Vì vậy chúng có thể
sinh trởng và phát triển ở vùng bán sa mạc và thảo nguyên trừ da chuột chúng
có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm ớt nên hệ rễ cây da chuột nhìn chung yếu hơn
hệ rễ của cây thuộc họ bầu bí: bí ngô, da hấu, da thơm. Hệ rễ không chịu khô
hạn cũng nh ngập úng nhng hệ rễ da chuột có thể ăn sâu dới tầng đất 1m. Rễ
nhánh, rễ phụ phát triển theo điều kiện đất đai. Hệ rễ phân bố ở tầng đất 0 30
cm, chủ yếu tập trung ở tầng đất 15 20 cm.[8]
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
5
ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
* Thân
Theo một số tài liệu đã nghiên cứu của một số tác giả (Tạ Thu Cúc, Hồ
Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà) cây da thuộc loại thân thảo có đặc tính là bò, có
thể trồng không giàn. Chiều dài thân có thể tới 20 m nh bí ngô, bí xanh khả
năng sinh trởng của thân thay đổi theo thời gian.
Thời kỳ cây có 1 2 lá đến 4-5 lá thật cây ở trạng thái đứng đốt
ngắn, thân mảnh,yếu đặc biệt là da lê, da gang, da hấu, da chuột, mớp. Thời kỳ
hoa phát triển mạnh nhất và tốc độ sinh trởng nhanh, lóng dài đến cuối đời cây
dài đạt tốc độ tối đa của mỗi loài. Chiều dài của mỗi loài là khác nhau nh bí
ngô, da hấu, bí xanh trung bình có thể đạt 8-10 m. Họ bầu bí có chiều dài biến
động từ 1.2-2m đến 4-5 m riêng chiều dài của loài da chuột thân phụ thuộc chủ
yếu vào giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc.
Căn cứ vào chiều cao cây có thể chia làm 3 nhóm:
- Loại lùn : chiều cao cây từ 0,6-1 m
- Loại Trung bình: chiều cao cây từ 1-1,5 m
- Loại cao : chiều cao > 1,5 m, có loại tới 4- 5 m
Còn với da thân là dạng bụi, ít khả năng leo bò những dạng bụi mới càng
phát triển mạng khi cây còn non trẻ. Các giống trồng trọt chủ yếu là lan bò,
thân thảo, thân có khía, ở thời kỳ đầu thân chính sinh trởng là chủ yếu, sau khi
chiều dài thân trên 1 m, lúc đó cành cấp 1 mới sinh trởng và duy trì trong thời
gian tiếp theo.[8]
* Lá :
Da thuộc loại 2 lá mầm, hai lá mầm đầu tiên mọc đối xứng nhau qua
đỉnh sinh trởng, hình trứng. Độ lớn của 2 lá mầm rất khác nhau giữa các loài. Bí
ngô là cây hai lá mầm lớn nhất: các loài da lê, da gang, da hấu mớp có đôi lá
mầm nhỏ. Quá trình nghiên cứu số lá, tuổi thọ lá của một số loài trong họ bầu
bí của các tác giả (Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà) đã cho kết
quả nh bảng sau:[8]
Bảng 1: Số lá và tuổi thọ lá của một số loài trong họ bầu bí
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
6
ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
Tên giống
Tổng số lá trên
cây thân chính
Tuổi thọ trung bình của 1
lá(ngày)
Lá mầm Lá thật
Bí Ngô
57,3 25,0 28,0
Bí xanh
49,4 23,0 26,0
Da hấu
49,1 27,0 27,0
Da lê
45,8 20,0 26,0
Da gang
47,6 22,0 24,0
Lá thật của các loài trong họ bầu bí rất khác nhau về kích cỡ, hình dạng. Lá
thật mọc trên cành thân chính. Lá có độ lớn tối đa vào thời kỳ sinh trởng mạnh
ra hoa rộ. Lá có hình chân vịt, xẻ thùy sâu hoặc không xẻ thùy. Trên lá và
cuống có lớp lông dài, lớp lông này có tác dụng bảo vệ và chống thoát nớc.
Lá da chuột cũng gồm có 2 lá mầm và lá thật, 2 lá mầm mọc đối xứng qua
phần thân.Lá mầm có hình trứng và là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và dự
đoán tình hình sinh trởng của cây. Ngời trồng da quan tâm tới độ lớn, sự cân đối
và thời gian duy trì lá mầm trên cây dài hay ngắn. Những yếu tố ảnh hởng tới
chất lợng 2 lá mầm là dinh dỡng, khối lợng hạt giống to hay nhỏ, độ ẩm đất,
nhiệt độ, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp sẽ làm lá bị co rút lại. Màu sắc lá thay
đổi theo giống xanh vàng hoặc xanh thẫm.
Lá da hấu có hình tim, xẻ thùy, có 3-7 thùy lá có màu xanh mốc.
* Hoa :
Hoa có tính đực cái thể hiện rất phức tạp. Thông thờng hầu hết hoa của
các loài là hoàn chỉnh. Đó là trên cùng một hoa có nhị và nhụy, nh vậy có khả
năng tự thụ phấn hoặc thụ phấn chéo chiếm u thế nhờ ong bớm.
Trong họ bầu bí có ba kiểu sắp xếp hoa cơ bản. Đó là hoa cái, hoa đực
hoặc hoa hoàn chỉnh( hoa lỡng tính), những hoa này có khả năng tự thụ phấn và
sinh ra ở cùng một chùm trong cùng một lá nách. Những hoa lỡng tính có đầy
đủ bộ phận mặc dù nhị và nhụy có khả năng hoặc không có khả năng kết hợp
với hoa khác. Số lợng mỗi hoa trên cây nhiều nhất là hoa đực thứ đến là hoa cái
kế tiếp đến là hoa lỡng tính.[8]
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
7
ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
Với da chuột hoa có màu vàng đờng kính 2-3 cm. Tính đực cái của hoa
da chuột biểu hiện rất phong phú. Đó là dạng cây có hoa đơn tính cùng gốc,
( Moneci ous ) hoa đực và hoa cái trên cùng một cây. Dạng bình khác là trên
cây chỉ có hoa cái (gynoecious), hoặc đôi khi xuất hiện đơn tính khác gốc
( dioeciuos ), đó là trên cây tất cả là hoa đực hoặc tất cả lad hoa cái. Trong quá
trình phát triển, da chuột còn sản sinh ra dạng hoa cái và hoa lỡng tính cùng gốc
( gynomonoecious ). Dạng hình cơ bản là trên cây có hoa cái hoặc trên cây có
tập tính ra hoa cái nhng mang thêm một số hoa đực. Hoa đực mọc thành chùm ở
lá nách, hoa cái mọc đơn nhng ở vị trí cao hơn hoa đực, hoa cá có cuống ngắn
và mập hơn hoa đực. Hoa da chuột thụ phấn nhờ côn trùng (ong mật ) trừ hoa l-
ỡng tính, da chuột không thể thụ phấn với hoa thơm. Sự xuất hiện của hoa cái
sớm muộn phụ thuộc vào nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, dinh dỡng và nồng độ
CO
2
.[8]
Nhiệt độ 18
0
C 6
0
C, thời gian chiếu sáng 10 -11h / ngày, nồng độ CO
2
thích hợp, dinh dỡng đầy đủ thì hoa cái xuất hiện sớm hay nhiều. Nừu nhiệt độ
cao, thời gian chiếu sáng > 14h/ngày hoa cái ra muộn ở vị trí cao hơn.
Riêng với hoa da hấu, hoa nhỏ hơn các cây trong các giống da, màu hoa
không sặc sỡ. Hoa mọc ở nách hoặc hầu hết chúng mọc riêng rẽ. Hoa của hầu
hết các giống trồng là đơn tính cùng gốc (monoecious ). Nhng một số giống
trồng trọt lâu đời có hiện tợng sản sinh ra loại hoa đầy đủ và hoa đực
(andromonoecious). Hoa cái và hoa lỡng tính thờng xuất hiện ở nách lá thứ 7,
xen vào giữa các lách lá là hoa đực. Trong khi ngời ta phân loại da hấu là cây
thụ phấn chéo tự nhiên thì vẫn có một số lớn hoa tự thụ phấn xảy ra một cách
bình thờng. Hoa da hấu thụ phấn nhờ côn trùng.[8]
* Quả và hạt
Quả của các giống da thuộc loại quả thịt gồm ba lá noãn, hình dạng khối
lợng, kích cỡ và màu sắc sai khác rất lớn, khối lợng quả từ 4- 5 g (da chuột bao
tử) đến 10-15 kg ( da hấu Miền Nam ). Hình dạng quả tròn, dài , trụ. Vỏ ngoài
nhẵn có sọc, có múi. Màu sắc quả vàng, xanh nhạt, xanh thẫm.
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
8
ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
Quả da chuột quả thờng dài có ba múi, hạt đính vào giá noãn. Hình
dạng, độ dài, khối lợng màu sắc quả sai khác rất lớn. Sự sai khác đó chủ yếu
phụ thuộc vào giống. Màu sắc quả của hầu hết các giống da chuột là màu xanh,
xanh vàng khi chín vỏ quả thờng nhẵn và có gai. Màu xanh khi chín thơng
phẩm thờng phù hợp với thị hiếu của ngời tiêu dùng. Sau khi thu hái quả chuyển
sang màu vàng nhanh đó cũng là nhợc điểm của giống. Trong sản xuất da chuột
thờng xuất hiện những hiện tợng quả dị hình, quả phát triển không cân đối , đó
là sự biến đổi quá mạnh trong thời kỳ phôi thai. Sự thay đổi không bình thờng
trong thời kỳ hình thành hạt sẽ sinh ra quả dị hình.[8]
Ví Dụ: Quả da có hình dạng của con ong, có thể là do thụ phấn muộn sau
1-2 ngày ra hoa nở rộ. Mặt khác do yếu tố nội tạng, chất dinh dỡng trong hoa.
Khi trồng trong nhà kính cũng thờng gặp quả dị hình, độ ẩm thay đổi thất th-
ờng, nhiệt độ quá thấp trong quá trình phát triển dẫn đến quả phát triển không
cân đối. Khi không có côn trùng thụ phấn đầy đủ sẽ sản sinh quả không hạt.
Đờng kính quả là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lợng và giá trị sử
dụng. Tuy nhiên nó cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh : Giống, điều kiện
chăm sóc, mục đích sản xuất. Đối với da chuột bao tử yêu cầu quả phải thon
đều tỷ lệ chiều rộng/ chiều dài là 1/3. Quy cách quả thu hái căn cứ vào hợp
đồng có thể căn cứ vào trọng lợng quả hoặc đờng kính quả. Trung bình 3-5 cm
chiều dài, 1-1,5 cm đờng kính hoặc có thể nhỏ hơn.
Đối với da hấu quả rất phong phú và đa dạng về khối lợng và kích cỡ,
hình dạng, màu sắc. Khối lợng quả từ 1-2 kg đến 5-10 kg. Hình dạng dài, trụ,
cầu, elip. Màu sắc vỏ quả từ trắng đến xanh, hầu hết các giống có màu xanh
nhạt, xanh đen, có đờng sọc, đờng vằn hoặc có vết đốm. Vỏ quả thờng giòn dễ
vỡ. Màu sắc thịt quả có thể là : trắng, vàng, da cam, hồng hoặc đỏ. Thịt quả
xốp, nhiều nớc đến rắn chắc.
Tuy nhiên loại giống khác nhau hạt cũng có những hình thái và màu sắc
khác nhau, thông thờng hạt có hình ovan, thuôn hình chữ nhật, màu sắc hạt
trắng hoặc nâu.[8]
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
9
ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
2.2. tình hình sử dụng phân bón hiện nay
2.2.1. Phân bón vô cơ:
ở các nớc trên thế giới, vai trò của phân bón trong việc tăng năng suất,
phẩm chất cây trồng và tăng độ phì của đất đã đợc xác nhận.
Nhà bác học Rumani Davideson (5/1957) trong hội nghị quốc tế đã nói:
Cơ sở nông nghiệp là độ phì nhiêu của đất và cơ sở của độ phì nhiêu của đất là
phân bón. Nhờ có phân bón mà diện tích nhỏ cho năng suất cao, với 26 năm
kinh nghiệm nghiên cứu tại viện khoa học, ông đã chứng minh rằng không có
cách nào hiệu quả hơn là nâng cao năng suất bằng cách sử dụng phân bón,ông
nêu nên vai trò của phân bón trong việc nâng cao năng suất và chất lợng nông
sản khi diện tích đất đai ngày càng thu hẹp dần. Năm 1989, toàn thế giới đã sử
dụng 147 triệu tấn phân hóa học. Song việc bón phân vô cơ về lâu dài nh ở Việt
Nam làm đất chua (PH cao), tỷ lệ mùn giảm,đất chai cứng, gây ô nhiễm môi tr-
ờng, dẫn đến năng suất và chất lợng nông sản giảm, đồng thời trong nông sản
thờng tích rụ nhiều độc tố gây hại đến sức khỏe của con ngời, vì vậy bón phân
vô cơ không phải là phơng án tối u khi sản xuất về lâu dài.[21]
2.2.2 Phân bón hữu cơ :
Phân hữu cơ tạo ra sản phẩm chất lợng cao, an toàn cho ngời tiêu dùng
( thành phần kim loại nặng, hàm lợng NO
3
- đều rất thấp ),thành phần dinh dỡng
trong rau cao, phân hữu cơ còn làm tăng độ tơi xốp cho đất, làm cho đất không
bị trai cứng và bạc màu. Hiện nay ở các nớc trên thế giới đang quan tâm đến
việc sử dụng các loại phân bón hữu cơ (phân bón sinh học )và các chế phẩm
sinh học bao gồm các loại phân chuồng, phân ủ, phân xanh các loại, phân vi
sinh. ở ấn Độ, hàng năm sản xuất ra khoảng 265 triệu tấn phân ủ, lợng bón bình
quân 2 tạ/ha/năm,tơng đơng với 3,5-4 triệu tấn NPK và 6,7 triệu ha cây phân
xanh,mỗi ha thu đợc 40-50 kg đạm,ớc tính thu đợc khoảng 0,3 triệu tấn
đạm(theo tác giả Phạm Văn Toản năm 2004) [21].
Đặc biệt Trung Quốc là nớc sử dụng phân bón hữu cơ rất lớn nhất là
phân chuồng, phân xanh rơm rạ, tơng đơng với 9,8 tấn NPK nguyên chất, và sử
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
10
ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
dụng nhiều loại phân sinh học trên đồng ruộng. Phân sinh học sử dụng cho 1 ha
tơng đơng với 65 kg (N+ P
2
O
5
+K
2
O ).
Bón các loại phân hữu cơ vào trong đất, có tác dụng làm cho đất về lâu
dài có điều kiện để tích lũy thêm đợc mùn do đó tăng độ phì của đất.
Việc bón phân hữu cơ có khả năng cải thiện tính chất lý, hóa sinh của đất
rõ rệt và trong điều kiện đất nhiệt đới của nớc ta, điều đáng chú ý hơn hết là
việc tăng thêm dung tích hấp thu cho đất, nhờ đó mà khả năng hấp thu và dự trữ
dinh dỡng cho cây.
Tác dụng của bùn ao khô dầu cũng đợc nêu lên từ thế kỷ 13 trong cuốn
Nông trang tạp yếu của Phơng nguyên, đời nguyên.Than bùn chứa đầy đủ các
hợp chất hữu cơ, vô cơ cũng nh các loại phân hữu cơ khác,trong đó chất hữu cơ
chiếm từ 39,5 60,5 % trong chất hữu cơ thờng tỷ lệ axit humic khá cao.
Axit humic có dung tích hấp thụ và khả năng giữ ẩm cao. Tác dụng sinh
lý, hóa nông của axit humic là kích thớc tác dụng có bộ rễ làm cho cây sinh tr-
ởng mạnh. Chính vì vậy ở Liên Xô,ngoài việc dùng than bùn độn chuồng, chế
biến các loại phân khác, than bùn còn dùng để điều chế các loại phân kích thích
nh : Humat natri, Humophot [21]
Từ hàng năm nay, Rong biển cũng nh một loại phân hữu cơ, đợc dùng
trong nông nghiệp để cải tạo những loại đất có môi trờng hóa học bất thuận cho
cây trồng và để làm phân bón. Rong bón vào đất giải phóng chất hữu cơ và chất
khoáng vi lợng giúp ích cho cấu trúc đất thêm tơi xốp và tăng độ màu mỡ. ở
Mỹ, Canada và một số nớc phát triển, các loại phân bón sinh học mới sử dụng
trong nông nghiệp đều cho nông sản đạt giá trị hữu cơ,Cà chua trồng trong nhà
kính đạt tới 740 tấn/ha/năm,da chuột đật 1000 tấn/ ha/năm. ở Thái Lan việc sử
dụng các chế phẩm sinh học hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp đã làm chi giá
trị nông sản của nớc này có vị thế rất cao trên thị trờng thế giới.[21]
Hiện nay ngoài việc sử dụng phân hữu cơ thì ngời sản xuất rau còn dùng
các chế phẩm hữu cơ. Tại thành phố Hồ Chí Minh có rất nhiều loại chế phẩm
sinh học với thành phần chủ yếu là các nguyên tố vi lợng, chất điều hòa sinh tr-
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
11
ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
ởng dới dựng hỗn hợp hoặc dùng riêng lẻ. Thực tế sản xuất trong thời gian đã
cho thấy một số loại đã cho thấy một số loại đã và đang đợc dùng phổ bến trên
nhiều loại cây trồng nh Rubi, Seahumic, KumicAtonik đã đem lại kết quả rõ
rệt.
Rubi và Seahumic do trung tâm nghiên cứu nông dợc triển khai, không
gây ô nhiễm, đáp ứng tiêu chuẩn đề ra cho những sản phẩm trong hệ thống
nông nghiệp hữu cơ. Rubi và Seahumic là sản phẩm có nguồn gốc từ rong,tảo
biển,đợc chế biến thao cách tách triết thủy phân, dùng nguyên liệu là:
ascophllum nodosum, một loiaj rong nâu đợc xem là thực vật biển tốt nhất đợc
dùng trong nông nghiệp.[21]
Phân Komic do công ty sinh hóa nông nghiệp và thơng mại Thiên Sinh
sản xuất. Là loại phân sinh hóa hữu cơ sử dụng quy trình lên men vi sinh vật để
hoạt hóa than bùn(hoặc rác thải) rồi phối trộn với các loại phân hóa học (đạm,
lân, kali, lu huỳnh ) các nguyên tố trung lợng, vi lợng cùng các chất giữ ẩm,
các chất điều tiết cho cây trồng.
Phân bón sinh hóa Thiên Nông do công ty hóa phẩm Thiên Nông sản
xuất, sản phẩm đợc triết suất từ than bùn,rong biển và cá biển với enzim sinh tố
đợc triết suất từ giống giun hồng(nuôi theo công nghiệp). Có đầy đủ NPK vi l-
ợng để bón cho các loại cây trồng qua đờng lá. Bón phân qua lá,cây hấp thụ
nhanh, không mất mát lãng phí, hoa mau cứng khỏe, hiệu quả kinh tế cao.
Thuốc kích thích sinh trởng cây trồng Atonik do hãng hóa chất Asahi-
nhật bản sản xuất. Asahi là thuốc kích thích sinh trởng cây trồng thế hệ mới.
Cũng nh các vitamin,làm tăng khả năng sinh trởng, bảo vệ cây trồng tránh khỏi
những ảnh hởng xấu của điều kiện sinh trởng không thuận lợi gây ra.Asahi có
tác dụng làm tăng khả năng ra rễ, tăng năng suất và chất lợng nông sản.[21]
2.3 Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam
Mỗi năm nông dân Việt Nam sử dụng khoảng 5 triệu tấn phân bón vô cơ
quy chuẩn, không phân hữu cơ và các phân khác do các cơ sở t nhân và công ty
TNHH sản xuất, cung ứng.[23]
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
12
ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ trung bình 7,2%/ năm, phân lân tăng
13,9%/năm, riêng kali có mức tăng cao nhất là 23,9%/năm. Tổng sử dụng N+
P
2
O
5
+ K
2
O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0 %/ năm và trong thời gian tới
có xu hớng tăng 10%/ năm. Trong 15 năm qua, ở các giai đoạn : 1985-1990 ;
1991 1995 ; 1996 2001 lợng tiêu thụ phân kali ở Việt Nam tăng rất nhanh
và liên tục. ở các giai đoạn : 1985 1990 ; 1991 1995 ; 1996 2001 mức
tiêu thụ phân đạm tăng hàng năm là 10,3 %; 16,7%; 8,2% tơng ứng. Nh vậy
trong 5 năm trở lại đây mức tiêu thụ phân đạm đã giảm dần. ở 3 giai đoạn trên,
mức tiêu thụ phân lên là 13,4 %, 26,8%,21,1% tơng ứng và cũng có xu hớng
giảm mức tăng nh phân đạm. Theo kết quả điều tra tại vùng sản xuất rau ở xã
Tú Sơn Kiến Thụy Hải Phòng, ngời trồng rau tại đây sử dụng chủ yếu là
đạm, lân, và phân tơi tới cho rau.[23]
Hiện nay ngành sản xuất phân hóa học ở nớc ta mới đáp ứng đợc 45%
nhu cầu của nông nghiệp còn lại phải nhập khẩu hầu nh toàn bộ phân đạm ure,
kali và phân phức hợp DAP, một lợng khá lớn NPK với tổng số 3 triệu tấn /năm
riêng đối với phân khoáng kali, do phải nhập khẩu hoàn toàn nên tiêu thụ kali ở
nớc ta bị phụ thuộc thị trờng nớc ngoài.[23]
Vấn đề sử dụng phân bón ở Miền Bắc:
Trớc những năm 70 ở Miền Bắc Việt Nam, nông nghiệp sử dụng phân
hữu cơ là chủ yếu. Phân bón chủ yếu là phaan compot, phân rác phân xanh các
loại Từ khi bắt đầu cuộc Cách Mạng Xanh đến nay, với các cơ cấu cây
trồng mới, giống mới (đặc biệt là các giống lai), hệ thống tới tiêu đợc cải thiện,
khả năng cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đợc tăng cờng. Đặc biệt sau
khi một số điều trong luật đất đai đợc sửa đổi(12/1998), sản xuất nông nghiệp
nớc ta đã đi theo hớng thâm canh, tăng vụ để tăng năng suất, chất lợng nông sản
với yêu cầu của thị trờng.
Trong số các thiếu hụt về dinh dỡng cho cây trồng trên các loại đất ở Việt
Nam, lớn nhất và quan trọng nhất vẫn là sự thiếu hụt về đạm, kali, lân. Đây
cũng là các chất dinh dỡng mà cây trồng hấp thụ với lợng lớn nhất và sẽ chi
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
13
ỏn tt nghip Ngnh: K thut nụng nghip
phối hớng sử dụng phân bón. Mặt khác, khi bón phân ngời ta cũng bắt đầu tính
đến nhu cầu dinh dỡng của từng loại cây trồng, thậm chí cho từng giống cụ thể,
trong các vụ gieo trồng trên từng loại đất riêng. Vì vậy trong việc bố trí cơ cấu
sản phẩm phân bón, vấn đề quan trọng là phải nắm đợc cơ cấu ding dỡng cây
trồng trong vụ đồng thời có tính đến đặc điểm của các loại cây trồng vụ trớc.
Thực tế cũng chứng minh, phân hữu cơ chỉ có thể là một loại phân bón
bổ sung chứ không thể thây thế hoàn toàn phân vô cơ ( phân khoáng). Do vậy,
để đảm bảo cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững, phải tăng cờng sử
dụng phân bón trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và phân hữu cơ, trong
các loại phân bón đợc sử dụng không những cân đối về tỷ lệ mà phải cân đối với
lợng hấp thụ để bù lại lợng thiếu hụt do cây trồng lấy đi từ đất.
Vì vậy nông nghiệp nớc ta nói chung và Miền Bắc nói riêng không thể
chấp nhận đợc nguyên lý tuyệt đối không sử dụng phân hóa học và thuốc trừ
sâu hóa học đặc biệt trong điều kiện chúng ta ngày càng trồng nhiều giống cây
trồng có năng suất cao. Định hớng phát triển nông nghiệp bền vững đang đặt ra
yêu cầu sử dụng phân bón hợp lý và phù hợp với điều kiện thực tế. Trớc hết phải
tăng cờng sử dụng phân hữu cơ cùng với các biện pháp kỹ thuật khác nh: cày
vặn rạ, cày vùi các loại phụ phẩm cây trồng (đặc biệt là các loại cây họ đậu)
hoặc trồng xen loại cây họ đậu lớn cây bóng mát ở vờn cà phê hay vờn cây ăn
quả Trên cơ sở đó dùng một loại phân bón hóa học hợp lý bón cân đối cho
mỗi loại cây trồng trong hệ thống cơ cấu cây trồng trên từng loại đất.
Kết quả điều tra tình hình sử dụng phân bón ở viện thổ nhỡng nông hóa
và các viện, trờng Đại Học Nông Nghiệp từ năm 1995 đến nay cho thấy một số
hạn chế về việc sử dụng phân bón Miền Bắc nớc ta nh sau:[22]
- Việc bón phân mới chỉ chú trọng ở đồng bằng nơi có một số cây trồng có l-
ợng nông sả hàng hóa tơng đối lớn nh : lúa, ngô, lạc, khoai tây, rau vụ đông ở
đất đồi núi,ngời ta chỉ chú trọng bón phân cho các vùng chuyên canh nh chè,
mía. Trong 10 năm qua, tỷ lệ bón phân N, P, K đã cân đối hơn (tỷ lệ N: P: K
của các năm 1990, 1995, và 2000 là 1: 0,12 : 0,05; 1: 0,46 : 0,12; 1:0,44 :0,37 t-
Sinh viờn: Nguyn Th Phng Anh - Lp KN 901
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét