Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Tài liệu Thông tư số 101/1998/TT-BTC doc

Căn cứ dự toán ngân sách năm 1998 được giao, điều hành chi ngân sách đảm bảo đúng
chế độ và phù hợp với tiến độ thực hiện các nhiệm vụ, đồng thời tiếp tục rà soát đình
hoãn những nhu cầu chi chưa thực sự cấp bách để dành kinh phí cho những nhiệm vụ
quan trọng. Đánh giá thực hiện chi ngân sách phải dựa trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm
vụ kinh tế - xã hội được giao, phân tích những lĩnh vực còn lãng phí, phân tích rõ nguyên
nhân và đề ra các biện pháp cụ thể để thực hiện tốt nhiệm vụ còn lại của 6 tháng cuối
năm, đồng thời có cơ sở để tính toán dự toán năm 1999.
2.1. Về chi xây dựng cơ bản: Các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương tập trung tiến
hành soát xét, phân loại toàn bộ các dự án, công trình của kế hoạch đầu tư năm 1998 của
các Bộ, ngành và các địa phương để xử lý vốn theo nguyên tắc:
- Những dự án, công trình đầu tư có hiệu quả, có điều kiện hoàn thành đưa vào hoạt động
trong năm 1998 (bao gồm cả đầu tư dở dang và đầu từ mới) nhất thiết phải được bố trí đủ
vốn để hoàn thành đúng thời hạn.
- Những dự án, công trình đầu tư có hiệu quả, và có tiến độ hoàn thành đưa vào hoạt động
trong năm 1999-2000 cần xem xét bố trí theo tiến độ và khả năng thi công của từng dự
án, công trình.
- Các dự án, công trình đã có quyết định đầu tư, nay xét điều kiện thi công không thể làm
nhanh thì bố trí phù hợp với khả năng nguồn vốn kế hoạch 1998.
- Các dự án, công trình đã có quyết định đầu tư, nay xét thấy không có hiệu quả hoặc
chưa thực sự cần thiết thì kiên quyết đình hoãn và cắt giảm.
- Các dự án, công trình có khối lượng thực hiện vượt kế hoạch của các năm trước, không
bố trí vốn kế hoạch 1998 để thanh toán.
Căn cứ vào các nguyên tắc trên để đánh giá, tổng hợp khối lượng thực hiện 6 tháng đầu
năm và dự kiến thực hiện cả năm, số vốn đã thanh toán 6 tháng đầu năm và cấp phát,
thanh toán cả năm để xác định khối lượng phải bố trí vốn thanh toán trong dự toán năm
1999 đối với từng dự án, công trình.
2.2. Đối với các khoản chi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các
công trình phúc lợi xã hội, phát triển quỹ nhà, đầu tư phát triển nông nghiệp và nông
thôn, chi tái tạo quỹ rừng của ngân sách địa phương từ các nguồn thu giao quyền sử dụng
đất, tiền thuê đất, tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, thu từ hoạt động xổ số kiến
thiết, thuế sử dụng đất nông nghiệp trồng lúa, thuế tài nguyên rừng; các địa phương cần
đánh giá cụ thể khả năng thực hiện từng khoản thu để điều hành chi cho phù hợp; trường
hợp thu không đạt dự toán thì cần điều chỉnh giảm chi tương ứng, chỉ thực hiện chi khi
thực tế có thu để tránh nợ khối lượng không có nguồn thanh toán.
2.3. Đối với các chương trình, mục tiêu: Trên cơ sở dự toán kinh phí đã được giao và tiến
độ thực hiện, cơ quan chủ quản chương trình quốc gia cần đánh giá khối lượng công việc
thực hiện cả năm 1998, khối lượng công việc và kinh phí thực hiện được từ khi có
chương trình mục tiêu đến hết năm 1998 để từ đó có kiến nghị cụ thể về cơ chế cho phù
hợp và có căn cứ lập dự toán chi thực hiện chương trình năm 1999.
2.4. Đối với các khoản chi thường xuyên: Căn cứ vào dự toán được giao đầu năm, tiến độ
thực hiện các nhiệm vụ để đánh giá khả năng thực hiện cả năm cho sát với tình hình thực
tế của Bộ, địa phương, đơn vị. Đánh giá chi cả năm cần phân tích rõ cơ cấu chi về tiền
lương, các khoản có tính chất lương và các khoản chi bắt buộc trích theo lương (bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, ), các khoản chi nghiệp vụ thường xuyên và
các khoản chi đột xuất hoặc không có tính chất thường xuyên (mua sắm, sửa chữa, ) để
làm căn cứ tính toán bố trí năm 1999.
B. XÂY DỰNG DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 1999:
Năm 1999 là năm thứ tư thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000, tình hình năm 1998 cho
thấy:
- Nền kinh tế chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực, tốc độ
tăng trưởng kinh tế chung và của nhiều ngành kinh tế gặp khó khăn.
- Lạm phát được kiềm chế, nhưng vẫn tiềm Nn nhiều yếu tố làm tái lạm phát nếu không
được xử lý có hiệu quả và kịp thời.
- Nhu cầu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên cho các sự nghiệp giáo dục, y tế, văn
hoá, xã hội và các lĩnh vực quốc phòng, an ninh đòi hỏi ngày càng lớn; trong khi đó công
tác triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội
còn rất chậm, kết quả chưa cao, dẫn đến áp lực đối với ngân sách nhà nước còn rất lớn.
- Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài đến hạn lớn, trong khi đó diễn biến tỷ giá phức tạp càng làm
khó khăn thêm cho ngân sách nhà nước.
- Năm 1999 là năm đầu thực hiện các luật thuế mới (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập
doanh nghiệp) nên có khả năng thu biến động lớn.
C. YÊU CẦU VÀ MỤC TIÊU:
Từ tình hình trên cho thấy ngân sách nhà nước năm 1999 sẽ rất khó khăn, căng thẳng:
ngân sách nhà nước phải thực hiện những chính sách khuyến khích doanh nghiệp phát
triển theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước, nên một số khoản thu có thể giảm, vay
cho bù đắp bội chi phải được kiềm chế; khi đó chi ngân sách sẽ rất hạn hẹp, có những
lĩnh vực chi sẽ phải bố trí thấp hơn năm 1998. Vì vậy, công tác xây dựng dự toán ngân
sách nhà nước năm 1999 phải đáp ứng được các yêu cầu và mục tiêu sau:
1. Yêu cầu:
a. Dự toán ngân sách nhà nước năm 1999 phải góp phần quan trọng vào việc tiếp tục
củng cố khả năng và tiềm lực tài chính của đất nước, hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực
của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực; lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia,
tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn trong việc cơ cấu lại ngân sách nhà nước; triệt để tiết
kiệm trên cơ sở triển khai thực hiện tốt Pháp lệnh tiết kiệm chống lãng phí; hạn chế chi
có tính chất tiêu dùng, quản lý hành chính nhà nước, ưu tiên cho đầu tư phát triển, cho sự
nghiệp giáo dục - đào tạo, cho sự nghiệp khoa học công nghệ và môi trường; bối trí chi
hợp lý để đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ sức khoẻ nhân dân và giải quyết các vấn
đề bức xúc trong xã hội; triển khai thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá nhằm phát huy các
nguồn lực của toàn xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hoá, xã hội; bố trí dự
phòng dự trữ tài chính trong ngân sách nhà nước đủ mạnh để chủ động đối phó và khắc
phục kịp thời ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán bất thường, những nhiệm vụ đột xuất phát
sinh.
b. Xây dựng dự toán ngân sách nhà nước phải thực hiện theo đúng quy định của Luật
ngân sách nhà nước (đã sửa đổi, bổ sung) và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, thực
hiện đúng các quy định về: nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức làm việc thảo luận, nội dung
báo cáo dự toán ngân sách, đảm bảo các căn cứ cơ sở tính toán, đúng yêu cầu biểu mẫu
và thời gian gửi báo cáo.
2. Mục tiêu:
a. Dự toán thu ngân sách nhà nước phải được xây dựng theo đúng các luật thuế và chế độ
thu hiện hành; tính thu sát, đúng các quy định của Luật thuế giá trị gia tăng; Luật thuế thu
nhập doanh nghiệp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khNu, thuế nhập
khNu; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; Luật khuyến khích đầu tư trong nước đã được Quốc hội
khoá IX (kỳ họp thứ 11) và Quốc hội khoá X (kỳ họp thứ 3) thông qua; đồng thời tính
đến yếu tố thực hiện những chính sách khuyến khích tích tụ vốn để mở rộng sản xuất -
kinh doanh, nhằm bồi dưỡng nguồn thu lâu dài.
Trong phạm vi toàn quốc xây dựng dự toán phấn đấu mức thu thuế và phí đạt khoảng 19-
20% GDP; đối với các tỉnh, thành phố dự toán thu 1998 phải đảm bảo tốc độ tăng tương
đương tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá, và có tính đến biến động do thực hiện chế
độ thu mới so với chế độ hiện hành. Dự toán thu thuế xuất khNu, nhập khNu phải tính đến
các yếu tố tiếp tục thực hiện tiến trình tham gia AFTA, xu thế tham gia các tổ chức kinh
tế - tài chính quốc tế và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực. Xây
dựng nguồn thu trong nước ổn định vững chắc trên cơ sở tích cực khai thác mọi nguồn
thu và chống thất thu.
b. Dự toán chi thường xuyên cần được xây dựng ở mức cần thiết, hợp lý, tiết kiệm; các
Bộ, ngành, đơn vị căn cứ vào tình hình cụ thể để bố trí chi nhưng tối đa không quá mức
dự toán chi ngân sách năm 1998 Chính phủ đã giao; tiếp tục thực hiện ưu tiên đối với sự
nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ môi trường theo Nghị quyết Trung ương II
(khoá VIII); đặc biệt tiết kiệm chi quản lý hành chính, trên cơ sở kết quả kiểm kê ôtô, tài
sản thực hiện điều chuyển giữa nơi thừa sang nơi thiếu, đình hoãn bố trí kinh phí mua ôtô
con và phương tiện đắt tiền; xoá dần bao cấp của ngân sách nhà nước đối với các doanh
nghiệp, thực hiện giảm 50% mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các sự nghiệp khoa
học, y tế, đào tạo so với năm 1998 của các doanh nghiệp nhà nước.
Dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách nhà nước năm 1999 phải xây
dựng theo hướng: ưu tiên vốn cho các công trình trọng điểm của Nhà nước, vốn đối ứng
cho các dự án sử dụng vốn ODA theo tiến độ đã ký kết, tập trung vốn cho các công trình
chuyển tiếp sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm, bố trí trả nợ vốn đã được tạm ứng
những năm trước, các công trình chuyển tiếp có hiệu quả từ năm 1998 chuyển qua, số
vốn còn lại mới bố trí cho các công trình mới khi có đủ điều kiện theo quy định, không
bố trí vốn cho các công trình kém hiệu quả, thời gian thi công kéo dài, không đem lại
hiệu quả trong một vài năm tới, không bố trí vốn dàn trải, phân tán; các công trình nhóm
C bố trí phải đảm bảo dành trên 70% cho các công trình chuyển tiếp và khởi công mới
hoàn thành trong năm. Bố trí dự phòng ngân sách phấn đấu để tiến tới đạt được mức theo
quy định của Luật ngân sách nhà nước, chi cho Quỹ dự trữ tài chính ở mức cần thiết, hợp
lý.
c. Cân đối ngân sách nhà nước:
- Thu thuế và phí phải đảm bảo chi thường xuyên ở mức hợp lý, tiết kiệm và đảm bảo trả
nợ các khoản đến hạn, tiếp tục dành tỷ lệ tích luỹ thích đáng cho đầu tư phát triển.
- Tốc độ tăng chi thường xuyên phải thấp hơn tốc độ tăng chi đầu tư phát triển.
- Bố trí dự phòng ở mức hợp lý để đảm bảo xử lý những biến động bất thường có thể xảy
ra trong năm kế hoạch, xử lý những biến động về nguồn thu giữa các địa phương khi thực
hiện các luật thuế mới từ năm 1999.
- Bội chi ngân sách nhà nước phải tương ứng với khả năng vay chắc chắn trong nước và
vay ưu đãi ngoài nước. Không vay thương mại ngoài nước, không phát hành và vay ngắn
hạn trong nước với lãi suất cao để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước. Mức bội chi
khoảng 3,5% GDP (không kể cả các khoản vay về cho vay lại).
d. Đối với ngân sách của chính quyền địa phương các cấp:
- Công tác lập và quyết định dự toán ngân sách của các cấp chính quyền địa phương năm
1999 theo quy định của Luật ngân sách nhà nước (đã sửa đổi, bổ sung); năm ngân sách
1999 là năm ngân sách trong thời kỳ ổn định, các cấp chính quyền địa phương tổ chức lập
dự toán thu, chi ngân sách của cấp mình phải trên cơ sở nguồn thu được xác định căn cứ
tỷ lệ phân chia các nguồn thu giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương được
ổn định như tỷ lệ phân chia các nguồn thu Thủ tướng Chính phủ đã giao năm 1998 và số
bổ sung từ ngân sách Trung ương để cân đối ngân sách địa phương (nếu có) được tính
tăng thêm 6% so với mức đã giao năm 1998.
- Trong phạm vi nguồn thu được xác định như trên, thực hiện lập dự toán chi phải đảm
bảo: bố trí ưu tiên chi đầu tư phát triển; ưu tiên các nhiệm vụ chi giáo dục đào tạo, khoa
học công nghệ môi trường trong cơ cấu chi thường xuyên; triệt để tiết kiệm chi quản lý
hành chính, hạn chế những khoản chi mua sắm thiết bị, sửa chữa; bố trí dự phòng, bổ
sung quỹ dự trữ tài chính phấn đấu để đạt mức theo quy định của Luật ngân sách nhà
nước.
- Năm 1999 là năm đầu tiên thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp, nên nguồn thu của các địa phương có thể biến động lớn so với năm
1998. Do vậy, các địa phương cần tính toán cụ thể dự kiến số thu ngân sách địa phương
theo các luật thuế mới (Luật thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, )
báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính xem xét xử lý để địa phương có nguồn thực
hiện được những nhiệm vụ chi ở mức không thấp hơn dự toán chi ngân sách địa phương
năm 1998 được Chính phủ giao (trừ các khoản chi bằng nguồn thu được để lại theo Nghị
quyết của Quốc hội) và chi thực hiện các chế độ chính sách mới trong năm 1999 theo
đúng tinh thần Chỉ thị số 25/1998/CT-TTg ngày 30/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ.
II . NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CẦN C HÚ Ý KHI LẬP DỰ
TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 1999:
1. Về thu:
Năm 1999 là năm đầu tiên thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng, chế độ thu mới có nhiều
nội dung mới và tác động đến nhiều sắc thuế khác so với thuế doanh thu hiện hành. Do
vậy, đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo cơ quan tài chính, thuế, quản lý
vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp phối hợp với các Sở, Ban, ngành liên quan, các
doanh nghiệp, ưu tiên tập trung lực lượng, công sức để thực hiện tính toán đầy đủ, cụ thể
đối với từng doanh nghiệp trên địa bàn.
Năm 1999 thực hiện Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi), khi lập dự toán thu
cần phân tích ảnh hưởng đến thu ngân sách, xác định cụ thể từng khoản thu đối với từng
doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo các quy định của Luật khuyến khích đầu tư trong
nước (sửa đổi).
1.1. Khu vực doanh nghiệp nhà nước:
a. Thuế giá trị gia tăng:
Năm 1999 sẽ áp dụng tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế; việc tính
toán phải căn cứ theo quy định tại Thông tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 của Bộ
Tài chính; trong đó khi xác định dự toán thu đối với khoản thu này cần lưu ý thêm một số
vấn đề sau:
- Yêu cầu phải tính toán cụ thể đối với từng đơn vị trên địa bàn quản lý.
- Ngoài việc xác định số thu thuế giá trị gia tăng phát sinh và nộp NSNN năm 1999, cần
dự kiến số thuế giá trị gia tăng phải hoàn lại theo chế độ quy định cho đơn vị (nếu có);
xác định cụ thể số thuế doanh thu phát sinh năm 1998 chuyển nộp năm 1999.
- Khi tổng hợp phải xác định riêng thuế giá trị gia tăng phát sinh và nộp ngân sách 1999,
thuế giá trị gia tăng khâu sản xuất - kinh doanh trong nước, thuế giá trị gia tăng khâu
nhập khNu, số thuế giá trị gia tăng được hoàn theo chế độ quy định tại mục D Thông tư
89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 nói trên.
- Riêng thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương có trụ sở các
Công ty hoặc Tổng công ty có các đơn vị trực thuộc, việc lập dự toán thu cho sản xuất
kinh doanh của các đơn vị này cần căn cứ vào tình hình tổ chức và hoạt động sản xuất,
kinh doanh; tổ chức hạch toán kế toán của từng loại Công ty, Tổng công ty để tính toán
lập dự toán thu, cụ thể:
+ Đối với các đơn vị trực thuộc hạch toán độc lập và các đơn vị hạch toán phụ thuộc xác
định được thuế giá trị gia tăng đầu ra và thuế giá trị gia tăng đầu vào phải kê khai nộp
thuế giá trị gia tăng tại địa phương nơi cơ sở kinh doanh.
+ Đối với các Tổng công ty tổ chức theo hình thức hạch toán đầy đủ tại văn phòng Tổng
công ty; các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc thực hiện thanh toán mua bán hàng
hoá dịch vụ theo giá điều chuyển nội bộ không xác định được doanh thu, thuế giá trị gia
tăng phải nộp thì Công ty, Tổng công ty phải kê khai, nộp thuế tập trung thay cho các đơn
vị hạch toán phụ thuộc.
b. Thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thực hiện tính căn cứ Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ và
Thông tư số 99/1998/TT-BTC ngày 14/7/1998 của Bộ Tài chính; lưu ý những vấn đề sau
khi xây dựng dự toán 1999:
- Phải đảm bảo quản lý chặt chẽ và tính dự toán thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các
doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh; trên cơ sở xác định chi phí, giá thành của doanh
nghiệp năm 1998, dự kiến các yếu tố tăng, giảm chi phí năm 1999 để tính thuế thu nhập
doanh nghiệp. Cụ thể như sau:
+ Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế và thuế suất.
Thuế thu nhập = Thu nhập x (%) Thuế suất thuế
doanh nghiệp chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
Thu nhập chịu thuế = (Doanh thu - Chi phí hợp lý) +
+ Thu nhập chịu thuế khác
Trong đó:
+ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ,
kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở sản xuất, kinh doanh được hưởng. Nếu doanh thu
theo giá thanh toán (giá có thuế giá trị gia tăng) thì phải loại trừ thuế giá trị gia tăng.
+ Tương tự như trên, chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế chỉ tính phần chi
phí giá mua khi đưa vào sản xuất - kinh doanh. Nếu trong chi phí giá mua bao gồm cả
thuế giá trị gia tăng thì phải tính lại trừ thuế giá trị gia tăng (trừ trường hợp mua của các
đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp).
Về thuế suất tính thuế cần lưu ý:
- Đối với cơ sở kinh doanh thuộc các ngành dưới đây được áp dụng thuế suất 25% trong
thời hạn 3 năm, kể từ ngày 01/01/1999:
+ Ngành khai thác mỏ, khoáng sản, lâm sản và thuỷ sản;
+ Ngành luyện kim;
+ Ngành cơ khí;
+ Ngành hoá chất cơ bản, phân bón, thuốc trừ sâu; chế biến cao
su mủ tươi thành mủ khô;
+ Ngành sản xuất vật liệu xây dựng (trừ xi măng);
+ Ngành xây dựng (trừ khảo sát, thiết kế, tư vấn, giám sát);
+ Ngành vận tải (trừ vận tải hàng không, vận tải tắc xi).
- Đối với các đơn vị kinh doanh có thu nhập cao do lợi thế khách quan mang lại thì ngoài
việc tính nộp thuế thu nhập 32%; phần thu nhập còn lại tính trên vốn chủ sở hữu hiện có
(không kể vốn vay) cao hơn 12% thì phần thu nhập cao hơn phải tính nộp thuế thu nhập
bổ sung với thuế suất là 25%. Tạm thời không thu thuế thu nhập bổ sung đối với các cơ
sở kinh doanh sau:
+ Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các ngành được áp dụng thuế suất 25% trong thời
hạn 3 năm, kể từ ngày 01/01/1999.
+ Các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn khuyến khích đầu tư được
hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi.
+ Cơ sở sản xuất nếu xuất khNu trên 50% sản phNm sản xuất ra hoặc có doanh thu xuất
khNu chiếm trên 50% tổng doanh thu.
- Đối với các dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư
được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
+ Nếu thuộc các lĩnh vực, ngành nghề được ưu đãi đầu tư theo quy định của Chính phủ
được hưởng mức thuế suất ưu đãi là 25%.
+ Nếu dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư, đồng thời đầu tư vào huyện
thuộc vùng dân tộc thiểu số miền núi và hải đảo, vùng có khó khăn khác theo quy định
của Chính phủ được hưởng mức thuế suất 20%.
+ Nếu dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi đầu tư, đồng thời đầu tư vào huyện
thuộc vùng dân tộc thiểu số ở miền núi cao theo quy định của Chính phủ được hưởng
mức thuế suất 15%.
c. Thuế tiêu thụ đặc biệt:
- Đối tượng chịu thuế căn cứ Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã được Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/5/1998.
- Giá bán tính thuế trong dự toán: Là giá do cơ sở sản xuất mặt hàng chịu thuế TTĐB bán
ra (giá bán đã có thuế), có tính đến yếu tố trượt giá.
- Công thức tính thuế tiêu thụ đặc biệt khi lập dự toán:
Giá thanh toán (%) Thuế suất
Thuế tiêu thụ = Sản lượng x x thuế tiêu thụ
đặc biệt tiêu thụ 1 + Thuế suất (%) đặc biệt
Lưu ý:
- Trường hợp sản xuất các sản phNm, hàng hoá chịu thuế TTĐB mới như ôtô lắp ráp, sản
xuất trong nước bị lỗ thì tính dự toán thu thuế TTĐB theo chính sách miễn giảm nhưng
phải đảm bảo ít nhất bằng thuế doanh thu năm 1998.
- Số thu thuế tiêu thụ đặc biệt cần phân rõ số thu từ các sản phNm, dịch vụ ngân sách địa
phương được hưởng 100%: bài lá, vàng mã, hàng mã; dịch vụ vũ trường, karaoke; kinh
doanh casino, trò chơi bằng máy jackpot, kinh doanh golf, vé đặt cược đua ngựa, đua xe.
d. Thuế tài nguyên: Tính thu theo Pháp lệnh thuế tài nguyên số 05/1998/PL-UBTVQH10.
- Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng khai thác, giá tính thuế và thuế suất. Công thức
tính thuế tài nguyên đối với từng loại tài nguyên là:
Thuế tài nguyên = Số lượng tài nguyên x Giá tính thuế x Thuế suất
thực tế khai thác đơn vị tài nguyên (%)
- Giá tính thuế tài nguyên: là giá bán đơn vị sản phNm của tài nguyên tại nơi khai thác.
Trường hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán thì Chính phủ quy định giá tính thuế tài
nguyên. Riêng giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng để sản xuất thuỷ
điện là giá bán điện thương phNm.
Lưu ý một số đối tượng chịu thuế mới bổ sung sửa đổi theo Pháp lệnh số 05/1998/PL-
UBTVQH10:
- Đối với tài nguyên nước thiên nhiên: Ngoài đối tượng là nước dùng vào sản xuất thuỷ
điện, phải tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng để sản xuất nước khoáng,
nước tinh lọc đóng chai, đóng hộp, thuế suất 4%. Nước thiên nhiên khai thác sử dụng làm
nguyên liệu chính hoặc phụ tạo thành yếu tố vật chất trong sản xuất sản phNm 3%; sử
dụng chung phục vụ sản xuất (vệ sinh công nghiệp, làm mát, tạo hơi ) 1%. Đối với sản
xuất thuỷ điện nhỏ (dưới 10.000 Kw/h) thì thuế suất thuế tài nguyên nước là 0%, nhằm
khuyến khích làm thuỷ điện nhỏ phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa.
- Thuế tài nguyên đối với khai thác đất để dùng vào xây dựng các công trình xây dựng cơ
bản như để san lấp, làm đường thuế suất 1%.
1.2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:
1.2.1. Nắm chắc số đơn vị đã được cấp giấy phép trên địa bàn, những đơn vị đã đi vào
sản xuất kinh doanh để tổ chức thu và tính toán ghi vào dự toán thu. Bao gồm:
- Doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài;
- Các bên nước ngoài của hoạt động hợp tác kinh doanh;
- Các doanh nghiệp tại khu chế xuất, khu công nghiệp;
- Các ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam không
theo Luật đầu tư nước ngoài (nhà thầu).
1.2.2. Thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp khấu trừ thuế đã được quy định tại
Thông tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 của Bộ Tài chính.
1.2.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 38 và Điều 43 của
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Riêng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tiến hành tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí,
khai thác tài nguyên quý hiếm khác thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật
thuế thu nhập doanh nghiệp.
1.2.4. Đối với tiền thuế mặt đất, mặt nước, mặt biển căn cứ Quyết định số 179/1998/QĐ-
BTC ngày 24/02/1998 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành bản quy định về tiền
thuê đất, mặt nước, mặt biển áp dụng đối với các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam.
Thời điểm tính tiền thuê đất là thời điểm doanh nghiệp được bàn giao đất để sử dụng.
Trường hợp chưa bàn giao đất mà doanh nghiệp đã sử dụng đất, thì thời điểm tính tiền
thuê đất tính từ thời điểm doanh nghiệp sử dụng đất.
1.2.5. Thuế đối với nhà thầu: Rà soát lại các công trình, dự án, dịch vụ phải thuê nhà
thầu, nhà thầu phụ nước ngoài đang triển khai và các công trình, dự án dịch vụ sẽ triển
khai; các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không thuộc
các hình thức theo quy định tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tính
thuế theo Thông tư số 11/1998/TT-BTC ngày 22/01/1998 của Bộ Tài chính. Trong đó,
theo quy định tính thuế doanh thu và lợi tức trước đây thì nay chuyển thành tính thuế giá
trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp.
1.2.6. Thuế chuyển thu nhập của các tổ chức kinh tế, cá nhân ra nước ngoài, trong tính
toán xây dựng dự toán cần chú ý một số điểm sau: thu nhập chuyển ra nước ngoài có thể
bằng tiền hoặc bằng hiện vật, sản phNm, hàng hoá; Thu nhập được chia của tổ chức kinh
tế, cá nhân nước ngoài hoặc chuyển từ tài khoản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài mở tại Việt Nam đến bất kỳ một tài khoản nào khác hoặc được trích trừ từ các
khoản tiền trả cho doanh nghiệp đều phải tính thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài.
Số thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài phải nộp được xác định bằng số thu nhập chuyển
ra nước ngoài hoặc được coi là chuyển ra nước ngoài hoặc số thu nhập nhà đầu tư giữ lại
ngoài lãnh thổ Việt Nam nhân (x) thuế suất thuế chuyển thu nhập quy định tại giấy phép
do cơ quan cấp giấy phép đầu tư cấp. Trường hợp, giấy phép đầu tư được cấp không quy
định thuế suất chuyển thu nhập ra nước ngoài thì thuế suất thuế chuyển thu nhập ra nước
ngoài thực hiện theo quy định đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
1.2.7. Thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vốn: Tính theo Thông tư số 74 TC/TCT
ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính. Thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vốn bao gồm
thuế lợi tức và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
1.3. Thuế đối với khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh:
Rà soát lại và nắm chắc các đối tượng kinh doanh trên địa bàn theo tinh thần Chỉ thị
657/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Cần đánh giá mức độ thất thu về doanh số và đối
tượng kinh doanh năm 1998 để xác định doanh số và đối tượng kinh doanh năm 1999,
giảm dần tỷ lệ thất thu. Về nguyên tắc, việc tính dự toán thu năm 1999 phải đảm bảo
không giảm thu so với năm 1998. Cụ thể như sau:
* Về hộ:
- Đối với các hộ kinh doanh cố định: Rà soát lại các hộ kinh doanh, đưa các hộ chưa thu
thuế vào quản lý thu thuế môn bài. Trên cơ sở số hộ môn bài và các bậc thuế môn bài dự
kiến đưa hết các hộ có địa điểm kinh doanh cố định vào tính thuế giá trị gia tăng và thuế
thu nhập doanh nghiệp.
- Đối với các Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty tư nhân, Hợp tác
xã, Tổ sản xuất: Tính chi tiết đến từng doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp lớn.
* Về thuế:
- Thuế giá trị gia tăng: Thuế giá trị gia tăng cơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo quy
định cụ thể tại Thông tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 của Bộ Tài chính bằng một
trong hai phương pháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên giá
trị gia tăng.
Phương pháp khấu trừ thuế: Việc xác định số thu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
này được áp dụng đối với các doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần, hợp tác xã và
các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Phương pháp tính trực tiếp: Việc xác định số thu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
này được áp dụng đối với cá nhân sản xuất, kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài
kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện
đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ và các cơ sở kinh doanh mua bán
vàng, bạc, đá quý.
* Thuế thu nhập doanh nghiệp:
- Đối với cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
khấu trừ: Phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với những đơn vị này tính
tương tự như đối với doanh nghiệp nhà nước.
- Đối với cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
trực tiếp việc kê khai tính thuế căn cứ vào tỷ lệ thu nhập chịu thuế trên doanh thu và thuế
suất như sau:
+ Cơ sở kinh doanh đã thực hiện bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ có hoá đơn, chứng từ,
phải kê khai doanh thu và tính thuế theo công thức sau:
Doanh thu x Tỷ lệ (%) thu nhập chịu thuế x Thuế suất thuế
thu nhập doanh nghiệp
+ Hộ kinh doanh chưa thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ mua, bán hàng hoá,
dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng hộ ấn định mức doanh
thu để tính thu nhập chịu thuế và tính theo công thức sau:
Doanh thu x Tỷ lệ (%) thu nhập chịu thuế x Thuế suất thuế
thu nhập doanh nghiệp
Tổng cục Thuế hướng dẫn Cục thuế xác định tỷ lệ thu nhập chịu thuế trên doanh thu phù
hợp cho từng ngành nghề kinh doanh.
1.4. Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết:
- Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện thu năm 1998, phân tích rõ nguyên nhân chủ
quan, khách quan, trong đó có việc Nhà nước áp dụng biện pháp chống số đề và căn cứ
vào mạng lưới phát hành, khả năng tiêu thụ, điều chỉnh cơ cấu giá vé, giảm chi phí phát
hành để tính thu năm 1999.
- Thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng thì việc xác định thuế giá trị gia tăng đối với hoạt
động xổ số kiến thiết được thực hiện theo quy định tại điểm 10 mục I phần B Thông tư số
89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 của Bộ Tài chính.
1.5. Thu phí và lệ phí:
- Tính thu đối với tất cả các loại phí và lệ phí trên địa bàn quản lý, tổng hợp riêng phí - lệ
phí Trung ương, tỉnh thành phố, huyện xã quản lý.
- Tính chi tiết đối với tất cả các loại phí - lệ phí do Trung ương quản lý và các loại phí lệ
phí tỉnh thành phố.
- Để đảm bảo mọi nguồn thu phải được phản ánh vào ngân sách nhà nước theo quy định
của Luật ngân sách nhà nước, yêu cầu các đơn vị trước đây được trích một tỷ lệ nhất định
để phục vụ cho công tác quản lý thu phí, lệ phí cũng phải tổng hợp đầy đủ số thu trích lại
và chi từ nguồn này vào dự toán thu, chi của đơn vị. Việc đơn vị được giữ lại để chi (sau
đó thực hiện ghi thu, ghi chi) hoặc đơn vị phải nộp toàn bộ số thu vào ngân sách nhà
nước và ngân sách nhà nước sẽ cấp phát đầy đủ cho đơn vị theo dự toán được duyệt phải

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét