Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014
Thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao
2.5. SỬ DỤNG E-BOOK HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 10 CHƯƠNG
TRÌNH NÂNG CAO 75
2.5.1 Đặc điểm của e-book hướng dẫn HS tự học 75
2.5.2 Hình thức sử dụng e-book hướng dẫn HS tự học 76
1. Hình thức 1: HS nghiên cứu trước e-book ở nhà, GV sử dụng e-book để dạy học trên lớp 76
2. Hình thức 2: HS tự học bài mới bằng e-book ở nhà sau đó thuyết trình trên lớp, GV nhận xét và
bổ sung 79
3. Hình thức 3: HS tự ôn tập bằng e-book ở nhà sau khi học trên lớp 81
2.5.3. Một số lưu ý để sử dụng e-book hướng dẫn HS tự học hiệu quả 83
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
3.1. MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 85
3.2. NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 85
3.3. ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 85
3.4. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 86
3.5. TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 87
3.5.1. Chọn lớp thực nghiệm – đối chứng 87
3.5.2. Gặp GV tham gia thực nghiệm 87
3.5.3. Tiến hành sử dụng e-book hướng dẫn HS tự học 87
3.5.4. Kiểm tra đánh giá kết quả 88
3.6. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 89
3.6.1. Nhận xét của giáo viên về e-book 89
3.6.2. Nhận xét của học sinh về e-book 92
3.6.3. Kết quả bài kiểm tra của học sinh 94
3.6.3.1. Kết quả kiểm tra lần 1: bài Khái quát nhóm Halogen 94
3.6.3.2. Kết quả kiểm tra lần 2: bài Clo 96
3.6.3.3. Kết quả kiểm tra lần 3: bài Hợp chất có oxi của Clo 98
3.6.3.4. Kết quả kiểm tra lần 4: bài Luyện tập Clo và hợp chất của Clo 100
3.6.3.5. Kết quả kiểm tra lần 5: bài Brom và Iot 101
3.6.3.6. Kết quả kiểm tra lần 6: bài Luyện tập chương 5 103
3.6.3.7. Kết quả kiểm tra lần 7: bài Oxi 105
3.6.3.8. Kết quả kiểm tra lần 8: bài Ozon và hidropeoxit 107
3.6.3.9. Kết quả kiểm tra lần 9: bài Lưu huỳnh 109
3.6.3.10. Kết quả kiểm tra lần 10: bài Hidro sunfua 111
3.6.3.11. Kết quả kiểm tra lần 11: bài Hợp chất có oxi của lưu huỳnh 113
3.6.3.12. Kết quả kiểm tra lần 12: bài Luyện tập chương 6 114
3.6.3.13. Kết quả tổng hợp 12 bài kiểm tra 116
3.7. BÀI HỌC KINH NGHIỆM 118
KẾT LUẬN 119
1. Kết luận 119
2. Kiến nghị và đề xuất 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 128
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, tự học đang trở thành chiếc chìa khóa vàng trong việc
chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại và là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người. Bởi
lẽ tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với
quỹ thời gian ít ỏi ở học đường. Nói về tự học, Bác Hồ đã dạy “Về cách học, phải lấy tự học làm
cốt”. Luật Giáo dục (2005), điều 28.2 cũng đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Chính vì tầm quan trọng của tự học mà việc phục vụ ngày càng tốt hơn cho hoạt động tự học và
phương châm học suốt đời đang là một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện
nay. Tuy nhiên, điều cốt lõi là người giáo viên cần giúp học sinh tìm ra phương pháp tự học thích
hợp và cung cấp cho học sinh những công cụ tự học có hiệu quả.
Ngày nay, bên cạnh những hình thức tự học như học qua sách, báo, nghe radio, xem truyền hình,
nghe báo cáo, tham quan… thì tự học qua mạng Internet, tự học với sự trợ giúp của công nghệ
thông tin đang trở nên hết sức phổ biến. Nắm bắt xu thế đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao hiệu
quả giáo dục và đào tạo. Chủ trương này đã được đông đảo các giáo viên hưởng ứng, thể hiện thông
qua việc xuất hiện ngày càng nhiều các bài giảng điện tử, các website, blog, e-book…hỗ trợ cho
việc dạy và học.
Tuy nhiên, dù được hỗ trợ bằng nhiều phương tiện, công cụ…nhưng nếu không có sự hướng dẫn
của giáo viên thì việc tự học của học sinh ắt hẳn sẽ gặp không ít những khó khăn. Người học có thể
tự mình duyệt web, đọc các e-book, tham gia các blog, diễn đàn… nhưng khó có thể hiểu sâu sắc
được các vấn đề khi lượng kiến thức, thông tin đưa ra quá nhiều mà lại thiếu sự hướng dẫn. Vì vậy,
nếu có thể cung cấp cho học sinh một tài liệu hướng dẫn cụ thể, giúp học sinh tự học ở nhà như là
khi học trên lớp, học sinh được đặt vào những tình huống có vấn đề, được tự tìm cách giải quyết vấn
đề thì hiệu quả tự học sẽ tăng lên rất nhiều.
Chính vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự
học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao”
với mong muốn phát huy tính tự giác, chủ
động sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, tạo niềm hứng thú học tập cho các em từ đó góp phần
nâng cao chất lượng dạy học.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Việc thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao.
Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học hóa học ở trường THPT.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Nghiên cứu sách giáo khoa hóa học lớp 10 chương trình nâng cao đặc biệt là phần hóa vô cơ.
Xây dựng nguyên tắc và quy trình thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học
.
Thiết kế e-book hướng dẫn học sinh tự học phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao.
Nghiên cứu cách sử dụng e-book hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học phần hóa vô cơ
lớp 10 chương trình nâng cao.
Thực nghiệm sư phạm.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
-
Nội dung : Phần hóa vô cơ lớp 10 chương trình nâng cao.
-
Địa bàn: Tp.HCM.
-
Thời gian: năm học 2009 – 2010.
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế e-book có nội dung chính xác, khoa học, dễ hiểu và giao diện đẹp, hấp dẫn; phần
hướng dẫn học sinh tự học có tác dụng tích cực trong việc rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
-
Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài.
-
Phương pháp tổng hợp và khái quát hóa.
Nhóm các phương pháp thực tiễn
-
Điều tra bằng các phiếu câu hỏi.
-
Phỏng vấn.
-
Phương pháp chuyên gia.
-
Thực nghiệm sư phạm.
Nhóm các phương pháp toán học
-
Phương pháp phân tích số liệu.
-
Các phương pháp toán học.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
-
Cung cấp kiến thức cho học sinh thông qua phần hướng dẫn tự học chi tiết từng bài theo
phương pháp đổi mới.
-
Học sinh có thể sử dụng e-book để tự học, tự nghiên cứu.
-
Giáo viên có thể sử dụng e-book để thiết kế bài dạy, làm tư liệu dạy học.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Sự tiến bộ kì diệu của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) kết hợp với những thành tựu
trong các ngành khoa học khác đã tạo nên những công cụ, phương tiện và môi trường làm việc hết
sức hữu hiệu để áp dụng vào dạy học. Chính vì vậy mà ngày nay, việc ứng dụng ICT trong dạy học
nói chung và dạy học hóa học nói riêng không còn xa lạ mà đang từng bước phát triển sâu rộng trên
toàn thế giới và ở nước ta góp phần quan trọng làm tăng hiệu quả đào tạo.
Sự lớn mạnh ấy thể hiện qua việc ngày càng xuất hiện nhiều website, e-book, blog , phần mềm,
tài liệu điện tử… hỗ trợ việc dạy học hay các lớp học điện tử e-learning. Mỗi hình thức này đều có
những mặt mạnh và hạn chế của nó. Chẳng hạn, các website, blog… thì chủ yếu bằng tiếng Anh,
nội dung đa dạng nhưng chưa có tính hệ thống, mang nặng việc cung cấp thông tin; các phần mềm,
tài liệu… hay các lớp học e-learning thì lại thu phí và đòi hỏi đường truyền Internet phải thông suốt
; còn các e-book thì chủ yếu là bản số hóa của sách in, định dạng dưới nhiều dạng file chủ yếu là
kênh chữ, ít sinh động. Những điều trên, phần nào gây khó khăn rất lớn cho học sinh phổ thông
trong việc chọn lọc để tiếp nhận được kiến thức cần thiết trong khi quỹ thời gian của các em lại
không nhiều.
Khắc phục những hạn chế trên, việc xuất hiện loại hình e-book có nội dung lý thuyết và bài tập
hỗ trợ tự học được thiết kế dưới dạng một website offline, thường được ghi lên một đĩa CD-ROM để
người học có thể dùng bất cứ lúc nào với máy tính cá nhân của mình đang được các giáo viên và học
sinh hưởng ứng nồng nhiệt. Nó nhanh chóng trở thành đề tài nghiên cứu của sinh viên đại học và các
học viên cao học. Sau đây là một số khoá luận và luận văn tốt nghiệp chuyên ngành hóa học, trường
ĐHSP TP. Hồ Chí Minh và ĐHSP Hà Nội:
1. Hỉ A Mổi (2005), Thiết kế website tự học môn hóa học lớp 11 chương trình phân ban thí điểm,
Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
2. Phạm Dương Hoàng Anh (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX và
Macromedia Flash MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức
môn Hóa học phần Hiđrocacbon không no mạch hở dành cho học sinh THPT, Khóa luận tốt
nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
3. Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash và Macromedia
Dreamver để thiết kế website về lịch sử hóa học 10 góp phần nâng cao chất lượng dạy học,
Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
4. Phạm Duy Nghĩa (2006), Thiết kế Web site phục vụ việc học tập và ôn tập chương nguyên tử
cho học sinh lớp 10 bằng phần mềm Macromedia Flash và Dreamweaver, Khóa luận tốt
nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
5. Nguyễn Ngọc Anh Thư (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX và
Macromedia Flash MX 2004 để tạo trang web hỗ trợ cho học sinh trong việc tự học môn hóa
học lớp 11 nhóm Nitơ chương trình phân ban thí điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
6. Phạm Thị Phương Uyên (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX 2004 và
Macromedia Flash MX 2004 thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức cho
học sinh môn hoá học nhóm oxi – lưu huỳnh chương trình cải cách, Khóa luận tốt nghiệp,
ĐHSP TP.HCM.
7. Đỗ Thị Việt Phương (2006), Ứng dụng Macromedia Flash MX 2004 và Dreamweaver MX
2004 để thiết kế website hỗ trợ cho hoạt động tự học hoá học của học sinh phổ thông trong
chương halogen lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
8. Lê Thị Xuân Hương (2007), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương Halogen lớp 10
THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
9. Trịnh Lê Hồng Phương (2008), Thiết kế học liệu điện tử chương oxi – lưu huỳnh lớp 10 hỗ trợ
hoạt động tự học hóa học cho học sinh trung học phổ thông, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP
TP.HCM.
10. Nguyễn Thị Ánh Mai (2006), Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) các chương về lý
thuyết chủ đạo sách giáo khoa hoá học lớp 10 THPT, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục,
ĐHSP Hà Nội.
11. Nguyễn Thị Thu Hà (2007), Thiết kế sách giáo khoa điện tử lớp 10 – nâng cao chương
“Nhóm halogen”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
12. Trần Tuyết Nhung (2007), Thiết kế sách giáo khoa điện tử chương “ Dung dịch – Sự điện
li” lớp 10 chuyên hóa học, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
13. Vũ Thị Phương Linh (2009), Thiết kế e-book hỗ trợ việc dạy và học phần Hóa hữu cơ lớp 11
(chương trình nâng cao ), Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
14. Nguyễn Thị Thanh Thắm (2009), Thiết kế sách giáo khoa điện tử phần hóa học vô cơ lớp 11
nâng cao, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
15. Tống Thanh Tùng (2009), Thiết kế e-book hóa học lớp 12 phần Crom – Sắt- Đồng hỗ trợ học
sinh tự học, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
Các website và các e-book này đều có điểm chung là giúp HS có một công cụ tự học hiệu quả, bên
cạnh nội dung lý thuyết thì các tác giả đều cung cấp thêm phần bài tập rất đa dạng với phần hướng
dẫn khá chi tiết, phần tư liệu bài học và phim minh họa rất phong phú, sinh động. Mặc dù vậy, các
tác giả còn chưa quan tâm tới một số vấn đề sau:
-
Được xây dựng chủ yếu trên phần mềm Dreamweaver và Flash, các website và e-book chưa
có cơ sở dữ liệu và khó đóng gói dưới dạng chuẩn SCORM để tích hợp lên hệ thống E-
learning.
-
Các bài học chưa có phần mục tiêu và mở đầu bài học. Một bài học thường không được phân
rõ mục lục để thuận tiện tìm kiếm trong quá trình học. HS xem từng phần phải kéo hết toàn
bài.
-
Phần lý thuyết của các bài học chủ yếu là nội dung y hệt sách giáo khoa, có bổ sung thêm
hình ảnh, phim, tư liệu… minh họa mà chưa có phần hướng dẫn tự học bằng những câu hỏi
gợi ý, các phiếu học tập để kích thích tư duy của học sinh.
-
Ở phần bài tập, chưa có phần hướng dẫn giải và đáp án cho tất cả các bài tập trong sách giáo
khoa. Trong phần trắc nghiệm, các tác giả chỉ chủ yếu cung cấp dạng câu hỏi trắc nghiệm đa
lựa chọn mà thiếu các dạng câu hỏi điền khuyết, ghép đôi
-
Phần hóa học vui, chưa chú trọng đến hình thức các ô chữ hóa học.
1.2. ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC
1.2.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học [9]
Định hướng đổi mới trong phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung
ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa trong
Luật giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chị thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chị thị
số 14 (4-1999).
Luật giáo dục, điều 28.2, đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.”
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại
thói quen học tập thụ động.
1.2.2. Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học
Theo TS. Trịnh Văn Biều [2], một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và ở
nước ta hiện nay là:
1. Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển trọng tâm hoạt động
từ GV sang HS. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá.
2. Cá thể hóa việc dạy học.
3. Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy
học.
4. Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống. Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa
kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức.
5. Cải tiến việc kiểm tra và đánh giá kiến thức.
6. Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời.
7. Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS,
theo cấp học, bậc học).
Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS đang là
những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy và học hiện nay (xu hướng 1 và 6).
1.2.3. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học trường THPT [9]
Đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS nhằm đạt được mục tiêu dạy
học hóa học THPT ban nâng cao: phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động của HS đặc
biệt là:
- Năng lực sáng tạo.
- Tính mềm dẻo, linh hoạt.
- Tính thích ứng nghề nghiệp.
- Năng lực hợp tác hành động.
a. Đổi mới hoạt động học tập của HS
Học hóa học không phải là quá trình được dạy, là sự tiếp nhận một cách thụ động những tri thức
hóa học mà chủ yếu là HS tự học, tự nhận thức, tự khám phá tìm tòi các tri thức hóa học một cách
chủ động, tích cực, là quá trình tự phát hiện và giải quyết các vấn đề. HS tiến hành các hoạt động
sau:
- Tự phát hiện hoặc nắm bắt vấn đề do GV nêu ra
- Hoạt động cá nhân hoặc hợp tác theo nhóm nhỏ để tìm tòi, giải quyết các vấn đề đặt ra. Các
hoạt động có thể là: dự đoán tính chất, hiện tượng thí nghiệm; làm thí nghiệm, quan sát, mô tả,
giải thích và rút ra kết luận…; phán đoán, suy luận, đề ra giả thuyết ; trả lời câu hỏi ; giải bài
toán hóa học; quan sát sơ đồ, hình ảnh, tranh vẽ…; đọc SGK, thu thập và xử lí thông tin, trả lời
câu hỏi, rút ra nhận xét; tham gia thảo luận nhóm : trình bày quan điểm của mình, lắng nghe,
nhận xét ý kiến của người khác; báo cáo kết quả hoạt động cá nhân hay nhóm; rút ra kết luận …
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã biết để giải thích một số hiện tượng hóa học giải quyết một số
vấn đề xảy ra trong đời sống và sản xuất.
- Tự học, tự đánh giá và đánh giá việc nắm kiến thức kĩ năng của bản thân và của nhóm.
b. Đổi mới hoạt động dạy của GV
Dạy hóa học chủ yếu là quá trình GV thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển các hoạt động của
HS để đạt được các mục tiêu cụ thể ở mỗi bài, chương, phần hóa học cụ thể. Hoạt động của GV là:
- Thiết kế giáo án bao gồm các hoạt động của GV và HS theo những mục tiêu cụ thể của bài học
hóa học mà HS cần đạt được, thiết kế hệ thống câu hỏi và bài tập để định hướng cho HS hoạt
động.
- Tổ chức các hoạt động trên lớp để HS hoạt động theo cá nhân hoặc theo nhóm.
- Định hướng, điều chỉnh các hoạt động của HS.
- Thiết kế và thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, hiện tượng thực tế, thí nghiệm
hóa học, mô hình mẫu vật như là nguồn để HS khai thác, tìm kiếm, phát hiện những kiến thức, kĩ
năng về hóa học.
- Tạo điều kiện cho HS được vận dụng nhiều hơn những tri thức của mình để giải quyết một số
vấn đề có liên quan tới hóa học trong đời sống và sản xuất.
c. Đổi mới phương pháp dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực
- Sử dụng yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học nêu vấn đề, đàm thoại, tìm tòi, thí nghiệm
nghiên cứu …
- Sử dụng các phương pháp trực quan, phương pháp thuyết trình… theo hướng tích cực nhất.
- Vận dụng một cách sáng tạo có chọn lọc một số quan điểm dạy học mới như: dạy học hợp tác,
dạy học kiến tạo, dạy học theo dự án.
- Sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học đã có với thiết bị dạy học hiện đại một cách linh
hoạt, sáng tạo giúp HS tự học theo cá nhân và nhóm để thu thập và xử lí thông tin.
d. Một số vận dụng định hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học vào đề tài nghiên
cứu
- Sử dụng thiết bị thí nghiệm hóa học theo định hướng chủ yếu là nguồn để học sinh nghiên cứu ,
khai thác tìm tòi kiến thức hóa học. Sử dụng thí nghiệm một cách tích cực theo những yêu cầu: HS
nắm được mục đích thí nghiệm; biết cách tiến hành thí nghiệm; quan sát, mô tả, nhận xét và giải
thích được hiện tượng thí nghiệm; từ đó rút ra kết luận về khả năng phản ứng, tính chất của chất,
quy luật, khái niệm ….
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét