Other West, Eur 50 53
Former USSD 1.118 1,039
Eastem Europe 4/ 252 260
Middle East 5/ 5.393 5.485
North Africa 6/ 2.907 3.081
Other Africa 7/ 10.697 11.236
South Asia 8/ 108.815 111.000
Other Asia 9/ 237.914 239.477
Oceania 10/ 495 505
+ Vấn đề tài chính: Các nớc xuất khẩu luôn luôn tăng sản lợng sản
xuất lúa gạo không chỉ để thoả mãn cho nhu cầu tăng dân số mà còn mang
lại nguồn ngoại tệ đáng kể. Vì vậy, xu thế sẽ xuất hiện thêm nhiều nớc xuất
khẩu lúa gạo, dẫn đến xu hớng cạnh tranh ác liệt trên thị trờng lúa gạo thế
giới. Trong những năm gần đây, Pakistan, Myanma, ấn Độ và Trung Quốc
mỗi nớc xuất khoảng trên 2,0 triệu tấn/năm,riêng Việt Nam năm 1999 đã
xuất đợc trên 4,5 triệu tấn, và dự kiến trong năm 2000 sẽ xuất khoảng 4,3
triệu tấn, đợc xem là một trong các nớc xuất khẩu mới có thể cạnh tranh với
hai nớc xuất khẩu gạo truyền thống là Thái Lan (xuất khoảng 5-6 triệu tấn/
năm), Mỹ xuất khoảng 2,5-3,0 triệu tấn/năm, đặc biệt là ấn Độ năm 1996
đã xuất khẩu gần 4 triệu tấn gạo và năm 1998 đã xuất khẩu gần 4,5 triệu
tấn.
5
Tình hình xuất khẩu gạo ở một số nơi trên thế giới qua các năm.
ĐVT:1000 tấn
Nớc 1999 2000
Argentina 525 500
Australia 700 700
Burma 200 225
China 2.000 2.100
Guyana 300 310
India 2.750 2.200
Pakistan 2.000 2.000
Thailand 5.700 5.700
Uruguay 725 700
Vietnam 4.000 3,64.000
EU 350 350
Others 1.325 1.460
Subtotal 20.575 20.191
United States 2.750 3.000
WORLD TOTAL 23.325 23.191
Trong khi đó, tình hình nhập khẩu của các nớc trên thế giới biến động
thất thờng và giao động ở mức 20,4- 23,0 triệu tấn/năm và một số nớc có
nhu cầu nhập khẩu gạo thì gặp phải khó khăn về khả năng thanh toán nh
Châu Phi, Irăc
6
Tình hình nhập khẩu gạo ở một số nơi trên thế giới qua các năm.
ĐVT: 1000 tấn
Khu vực 1998 1999 2000
Malaysia 593 650 675
Mexico 295 325 365
Nigeria 800 800 800
Peru 230 200 200
Philippines 2.187 1.200 900
Russia 200 300 300
Saudi rabia 775 750 800
Senegal 600 600 600
Singapore 267 350 350
SSouth Africa 525 550 575
Eastem Europe 250 215 222
United State 294 300 310
Subtotal 22.983 18.640 18.452
OtherCountries 2.799 2.877 2.766
Unaccounted 1.646 1.808 1.973
WORLD TOTAL 27.428 23.325 23.191
Để tăng mức độ cạnh tranh, những nớc xuất khẩu truyền thống có
nguồn tài chính dồi dào đã trợ giá cho nông dân và xuất khẩu dới hình thức
tín dụng thơng mại nên có u thế hơn.
Chẳng hạn, mùa thu năm 1990 Thái Lan đã bán cho gạo Liên Xô (cũ)
với giá 235USD/ tấn (giá FOB) nếu trả ngay. Chính phủ Thái Lan cũng đã
tổ chức nâng đỡ thị trờng nội địa,và cuối năm 1990 Nhà nớc đã mua đợc
khoảng 200.000 tấn lúa của nông dân với giá nâng đỡ. Đầu năm 1999,
Chính phủ Thái Lan đã thực hiện bán gạo số lợng rất lớn cho Iran với hình
thức tín dụng thơng mại 2 năm.
Đầu quý 1/2000 Chính phủ Thái Lan tiếp tục can thiệp để hỗ trợ thị tr-
ờng gạo trong nớc bằng cách Chính phủ mua thêm 100.000 tấn gạo của các
nhà máy mua thóc có độ ẩm 25% của nông dân với giá 4450 bah/tấn
(37.983 Bah/ USD) đối với hạt gạo dài và 4.300 Bah/tấn đối với hạt gạo
ngắn. Chính phủ Thái Lan dự kiến phải mua 500.000 tấn gạo niên vụ
99-2000 trong chơng trình can thiệp của mình.
Mục tiêu của chính sách ngũ cốc mới đơc Chính phủ Trung quốc công
bố vào năm 1999 là nhằm khuyến khích nông dân trồng các giống lúa chất
lợng cao hơn và giảm sản xuất các loại chất lợng kém. Kể từ đầu năm
7
2000,một số loại gạo Indian chất lợng kém vụ đầu sẽ không còn đợc Chính
phủ mua theo giá bảo hộ.
2. Đánh giá thực trạng xuất khẩu gạo.
2.1. Triển vọng của việc xuất khẩu gạo.
Kinh tế tế thế giới ổn định trong t ơng lai sẽ làm sản l ợng gạo ổn
định và tăng cao đồng thời làm tăng nhu cầu về gạo.
Cho đến nay, nhiều dự báo của IMF, WB, OECD, Viện nghiên cứu
Nhận Bản (JRI) và Viện kinh tế Đức (DIW) đã đa ra kết luận khả quan
rằng, 5 năm đầu của thế kỷ 21, kinh tế thế giới sẽ phát triển ổn định. Tốc độ
tăng GDP bình quân của thế giới giai đoạn 2001- 2005 sẽ đạt 3,4%/năm.
Trong đó, GDP của các nớc công nghiệp phát triển sẽ tăng 5,4%/ năm.
Châu á sẽ vẫn là khu vực kinh tế năng động nhất thế giới với dự báo GDP
giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 6,2%/năm. Theo dự báo của Asia
Week, trong những năm 2001- 2005 Việt Nam sẽ là nớc có nhịp độ tăng tr-
ởng kinh tế nhanh nhất, tăng 7,4%/năm, kế đó là Trung Quốc, tăng
7,2%/năm. Các nớc thuộc ASEAN sẽ duy trì tốc độ tăng trởng cao
6,4%/năm, còn GDP của các nớc công nghiệp mới Châu á (NICS) dự đoán
sẽ đạt tốc độ tăng trởng 5,5%/năm.
Theo đánh gía của IMF, WB, OECD, trong những năm đầu của thế kỷ
21, kinh tế thế giới phát triển ổn định chủ yếu nhờ vào ba động lực chính.
Đó là ứng dụng khoa học- công nghệ mới, thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tự
do hoá thơng mại thế giới và gia tăng các liên kết kinh tế quốc tế.
Thế giới thiếu hụt l ơng thực sẽ làm tăng cầu về gạo và làm tăng kim
ngạch xuất khẩu.
Tổ chức lơng thực và nông nghiệp liên hợp quốc (FAO) vừa công bố
dự báo sản lợng lơng thực toàn cầu năm 2000-2001 đạt 1.881 triệu tấn, thấp
hơn dự báo FAO đa ra tháng 6 năm qua là 15 triệu tấn và mức tiêu thụ lơng
thực đợc dự kiến là 1.990 triệu tấn.
Theo FAO, sản lợng lơng thực niên vụ 1996-1997 đạt 1.892 triệu tấn,
niên vụ 1997-1998 đạt 1.906 triệu tấn, niên vụ 1998-1999 đạt 1.898 triệu
tấn và niên vụ 1999-2000 đạt 1.876 triệu tấn.
Giá gạo sẽ tăng những năm tới:
Về xuất khẩu gạo và tiêu thụ gạo, Đơn vị tình báo kinh tế (EIU) dự
báo mức sản xuất gạo niên vụ 2000-2001 là 369 trệu tấn và nhu cầu tiêu thụ
là 404 triệu tấn. Trong niên vụ 2000-2001 sản xuất là 407 triệu tấn trong
8
khi mức tiêu thụ cần tới 414 triệu tấn. Niên vụ 2002-2003, sản lợng ớc tính
đạt 417 triệu tấn, nhu cầu tiêu thụ là 421 triệu tấn. Lợng gạo dự trữ trên
toàn cầu vào thời điểm cuối niên vụ 1999-2000 là 62 triệu tấn, đạt mức dự
trữ kỷ lục. Cuối vụ 2001-2002 số gạo dự trữ trên thế giới sẽ đạt khoảng 47
triệu tấn. Giá gạo dựa trên cơ sở gạo trằng của Thái Lan, tằng đều trong hai
năm 2001-2002, sẽ ở mức 240 USD/ tấn vào cuối năm 2001, tăng lên 280
USD/tấn vào năm 2002 là 290 USD/tấn và tăng đều trong hai năm
2001-2002, sẽ ở mức 240 USD/tấn vào cuối năm 2001, tăng lên 280 USD/
tấn vào năm 2002 và 290 USD/tấn vào quý I/2003. Dự báo giá gạo trắng
của Thái Lan trong quý I/2001 là 205 USD/tấn; quý II là 215 USD/tấn; quý
III là 230 USD/tấn và quý IV là 240 USD/tấn. Mức giá trung bình của cả
năm là 223 USD/tấn.
Theo phó Thủ tớng Kiêm Bộ trởng thơng mại Thái Lan Supachía
Panitchpakdi xuất khẩu gạo của Thái Lan trong năm qua đã vợt quá mức
tiêu thụ do Chính phủ đặt ra về số lựợng và giá trị. Ông cho biết số gạo xuất
khẩu của Thái Lan năm 2000 đạt 6,61 triệu tấn, trị giá 68 tỷ Baht (1,74 tỷ
USD), vợt 10% so với mục tiêu về số lợng đề ra là 6 triệu tấn và tăng 13%
so với mức tiêu thụ đề ra 1.55 tỷ USD. Đó là nhờ sự tăng trởng về xuất khẩu
gạo của nớc này sang các thị trờng chính nh Nigeria, Iran, Senegal, Nam
Phi.
Theo ông Supachai, mặc dù kim ngạch xuất khẩu gạo của Thái Lan
trong năm qua thấp hơn so với năm 1999, đạt 6,71 triệu tấn, doanh thu
72,33 tỷ Baht, nhng vẫn đợc coi là một kết quả khả quan bởi vì xuất khẩu
gạo trên thế giới trong năm 2000 đã tăng chậm và giá cả bị giảm. Ông cho
hay, trong năm 2001, Chính phủ Thái Lan cũng đặt ra mức tiêu thụ về xuất
khẩu gạo bằng năm 2000.Trớc đó, Bộ thơng mại Thái Lan đã dự báo mức
xuất khẩu gạo của nớc này năm nay sẽ giảm xuống do nhu cầu về gạo ở các
thị trờng chính, trong đó có thị trờng Mỹ tăng chậm.
Cái đói đang đe doạ tại nhiều nớc:
FAO và Chơng trình lơng thực thế giới (WFP) cảnh báo hiện có
khoảng 28 triệu ngời dân sinh sống ở khu vực Phía nam sa mạc Sahara đang
bị đoí chầm trọng kéo dài và nguyên nhân do hạn hán và nội chiến liên
miên từ nhiều năm nay. Báo cáo lu ý rằng tình trạng thiếu lơng thực sẽ còn
tiếp tục kéo dài trong năm tới, nhất là tại Eritria, Etiopia, Kenia và Sudan.
9
Riêng ở Eritria, hiện có 1,5 triệu ngời di tản cùng với 340.000 nông dân
sống trong các vùng hạn hán đang bị đói nghiêm trọng.
Tại Etiopia, có khoảng 10,2 triệu ngời sống phụ thuộc vào các khoản
viện trợ lơng thực từ bên ngoài. Tại Kenia, gần 3,3 triệu ngời thiếu ăn và
trong vụ thu hoạch 2000-2001 nớc này cần nhập thêm khoảng 1,4 triệu tấn
lơng thực. Tanzania cũng cần nhập khoảng 690.000 tấn lơng thực. ậ vùng
Hồ lớn cũng có khoảng 2 triệu ngời di tản cần sự giúp đỡ về lơng thực. Tại
Sudan có hơn 3 triệu ngời miền Nam nớc này đang bị thiếu lơng thực trầm
trọng do xung đột dân sự và hạn hán. Hiện tại các kho lơng thực của Sudan
đang bị vơi đi nhanh chóng, trong khi giá cả tăng vọt, gấp 3 lần so với năm
ngoái. Trong số 3 triệu ngời nói trên có 600.000 ngời cần viện trợ lơng thực
khẩn cấp và 2,4 triệu ngời cần đợc viện trợ lơng thực vào cuối năm. FAO và
EFP ớc tính Sudan cần phải nhập khoảng 1,2 triệu tấn ngũ cốc, trong đó 1
triệu tấn phải mua và 200.000 tấn viện trợ từ các nớc.
Các tổ chức viện trợ quốc tế cho biết tình hình lơng thực ở CHDCND
Triều Tiên đang trở nên nghiêm trọng, nhất là ở những khu vực nông thôn
miền Bắc. Cơ quan phát triển nông thôn Hàn Quốc ngày 10/1 cho biết sản
lợng ngũ cốc của CHDCND Triều Tiên đạt 3,59 triệu tấn trong năm 2000,
giảm 15% so vơí năm 1999. Theo ớc tính của cơ quan này, nhu cầu lơng
thực hàng năm của CHDCNH Triều Tiên giảm 12,9% năm 2000, đạt 1,42
triệu tấn năm 2000, sản lợng ngũ cốc đạt 1,44 triệu tấn, giảm 25%. Tuy
nhiên, sản lợng khoai tây và khoai lang tăng 390.000 tấn, tăng 25,8% nhờ
tăng diện tích trồng các loại câu lơng thực phụ.
Cơ chế mới đã tạo ra nhiều thông thoáng tạo đà tăng kim ngạch
xuất khẩu.
Việc cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu gạo, xoá
bỏ hạn ngạch, độc quyền liên quan đến việc giữ vững an toàn lơng thực, vì
vậy nhất định phải quản lý xuất khẩu gạo bằng thuế xuất khẩu. Mức thuế
này hiện nay là 0%. Việc phân vùng lúa phẩm cấp chất lợng cao, cùng với
việc hỗ trợ về vốn, kỹ thfuật cho ng ời dân đã có những kết quả đáng khả
quan.
Năm 2001, tổng sản lợng lúa cả nớc dự kiến cũng sẽ đạt hơn 32 triệu
tấn. Vụ đông- xuân sớm đã bắt đầu thu hoạch, các tỉnh ĐBSCL dự kiến đợc
mùa lớn, ớc đạt khoảng 16,5 triệu tấn. Cân đối lơng thực ngoài nhu cầu 1,2
10
triệu tấn lúa làm giống và một phần nhỏ phẩm cấp thấp để chế biến làm
thức ăn gia súc, lợng lơng thực còn lại dành cho xuất khẩu khá lớn. Trong
thống kê kết quả xuất khẩu gạo năm 2000, tổng công ty lơng thực miền
Nam xuất khẩu đạt 1.662.113 tấn, Tổng công ty lơng thực miền Bắc xuất
khẩu trực tiếp 434.500 tấn, uỷ thác 275.000 tấn. Trong số 44 đầu mối xuất
khẩu gạo, các doanh nghiệp xuất khẩu đạt 180.000-200.000 tấn, gồm có
công ty lơng thực Vính Long, Tiền Giang, Long An. Các doanh nghiệp đạt
mức 100.000-200.000 tấn gồm các công ty lơng thực Đồng Tháp, An
Giang, Sóc Trăng, An Giang, Công ty Afiex, An Giang, nông trờng Sông
Hậu. Đạt mức 70.000-80.000 tấn gồm có công ty lơng thực Cần Thơ và
CTTNHH nông sản Vĩnh phát. Các công ty liên doanh có vốn ĐTNN xuất
khẩu đợc 120.000 tấn. Các doanh nghiệp xuất khẩu theo chuyến nhỏ lẻ mới
đợc 13.900 tấn.
2.2. Những tồn tại và những nguyên nhân nó về xuất khẩu gao.
Nhìn lại xuất khẩu gạo năm 2000.
Theo số liệu mới nhất mà Hiệp hội lơng thực Việt Nam (gọi tắt là
Hiệp hội) vừa công bố, trong năm 2000 cả nớc ta đã xuất khẩu đợc
3.393.800 tấn gạo ( không kể lợng xuất tiểu ngạch qua biên giới), đạt tổng
kim ngạch 615.820.670USD (trên cơ sở giá FOB), các hội viên trong Hiệp
hội vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với 96,15% tổng lợng gạo xuất khẩu, kế
đến là các công ty liên doanh chiếm 3,54%, còn lại chỉ có 0,31% do các
doanh nghiệp xuất khẩu khác thực hiện.
So với năm 1999, lợng gạo xuất khẩu này giảm đến 26% (năm 1999
Việt Nam xuất 4,56 triệu tấn), và giá bình quân cũng giảm tới 40USD/tấn.
Rõ ràng đây là một kết quả không nh mong đợi đối với cả những ngời sản
xuất và cả các doanh nghiệp xuất khẩu. Trong khi đó, tổng sản lợng lơng
thực cả nớc vẫn tăng và đạt 35,6 triệu tấn, riêng lúa đạt 32,55 triệu tấn; lũ
sớm ở ĐBSCL cũng chỉ gây tổn thất khoảng 700.000 tấn lúa.
Nhiều giải thích đã đợc đa ra, nh: hầu hết các nớc sản xuất lúa đều đ-
ợc mùa sản lợng vụ mùa 1999-2000 đạt tới mức kỷ lục tăng hơn vụ trớc
16,4 triệu tấn; tồn kho năm 2000 cũng tăng gần 4,5 triệu tấn so với năm tr-
ớc, lợng gạo buôn bán trên thế giới lại giảm trên 1,8 triệu tấn Bên cạnh
đó là do đồng tiền mất giá và thuế nhập khẩu tăng, nên lợng nhập khẩu gạo
của các nớc giảm. Các nớc xuất khẩu gạo lớn khác nh: Thái Lan, ấn Độ
11
cũng bị giảm sút nh Việt Nam, Tuy mức độ có khác nhau (Thái Lan giảm
2% còn ấn Độ giảm 46%).
Tuy nhiên, ngoài những nguyên nhân khách quan nêu trên, theo các
chuyên gia việc xuất khẩu gạo giảm sút trong năm qua còn bắt nguồn từ
nhiều nguyên nhân chủ quan khác.
Đầu tiên là tỷ trọng các loại gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm
qua vẫn chủ yếu là gạo trắng các loại (5,10,15,25% tấm) chiếm tới 98,5%,
còn các loại gạo 100% B, gạo thơm, gạo đồ chỉ chiếm d ới 0,5%. Trong
lúc đó, Thái Lan xuất chủ yếu là các loại gạo 100%B và gạo thơm (35,7%),
gạo đồ (28%), gạo trắng các loại chỉ 19,3%. Thứ hai là trên thị trờng, tuy
gạo Việt Nam đã xuất sang khắp các lục địa,nhng tập trung nhất vẫn chỉ là
Châu á (47,44%), Châu Phi (22,90%), Trung Đông (19,95%) Thực tế,
những thị trờng này cũng cha hoàn toán ổn định,vững chắc.
Mặc dù vậy, nhiều quan chức khẳng định rằng trong bối cảnh cực kỳ
khó khăn gạo đạt đợc trong năm 2000 là một thắng lợi lớn. Đáng kể nhất là
ngay khi việc tiêu thụ lúa gạo vụ đông xuân gặp khó khăn, Nhà nớc đã có
quyết định cho mua tạm trữ một triệu tấn quy gạo, hỗ trợ 100% lãi xuất vay
vốn từ 1/4/2000 đến 31/7/2000 sau gia hạn đến 31/10/2000 để đảm bảo tiêu
thụ kịp thời lợng lúa hàng hoá của nông dân, góp phần ổn định giá lơng
thực ngăn chặn kịp thời giá lúa giảm, đảm bảo có lợi cho ngời sản xuất và
giảm khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Các doanh nghiệp cũng đã chứng tỏ đợc sự trởng thành của mình
trong việc tìm kiếm thị trờng, nhanh chóng nắm bắt đợc diễn biến của thị
trờng và đẩy nhanh xuất khẩu. Số lợng gạo xuất trong các quý II và III
trong năm để tăng hơn các quý trớc, và tốc độ so với Thái Lan là không xa.
Chỉ trong quý IV/2000, do lũ ĐBSCL về sớm, nhiều nhà máy chế biến phải
ngừng hoạt động, chi phí bảo quản, vận chuyển gạo xuất khẩu tăng làm giá
thành gạo xuất khẩu tăng, trong khi Thái Lan giảm giá bán, nên tốc độ xuất
khẩu gạo của Việt Nam có giảm sút.
Về giá cả, những số liệu ghi nhận đợc cũng chứng tỏ giá gạo xuất
khẩu của Việt Nam ngày càng đợc cải thiện hơn, đợc giá hơn và khoảng
cách giữa lúa gạo xuất của Thái Lan đợc thu ngắn. Nếu nh sáu tháng đầu
năm khoảng cách này là 20-25 USD/tấn, thì đến sáu tháng cuối năm chỉ
còn chênh nhau 10-15 USD/ tấn. Có thời điểm giá gạo xuất khẩu cùng loại
của Việt Nam đã ngang giá gạo xuất khẩu của Thái Lan; mặt khác tốc độ
12
giảm giá gạo Việt Nam chậm hơn tốc độ giảm giá gạo của Thái Lan. Cụ thể
với loại gạo 5% tấm của Việt Nam chênh lệch giá giữa tháng 1 và tháng
12/2000 là 46 USD/ tấn (219-173 USD), trong khi của Thái Lan là 54 USD
(237-183 USD); tơng tự với loại 25% tấm là 38 USD (189-151 USD) và 47
USD (201-155 USD).
Do liên tục áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp và liên tục mở
rộng diện tích canh tác lúa. Do vậy, mà sản lợng lúa hàng năm từ 1995
1999 liên tục tăng.
Sản xuất lơng thực từ 1995 1999.
1995 1996 1997 1998 1999 1999 tăng
giảm so với
1998 (%)
Tổng sản lợng lơng
thực quy thóc (1.000
tấn)
27.570,7 29.217,9 30.618,1 31.853,9 34.253,9 7,5
1. Lúa cả năm
Diện tích (nghìn ha) 6.765,6 7.003,8 7.099,7 7.337,4 7.648,1 4,0
Năng suất (tạ/ha) 36,9 37,7 38,8 39,7 41,0 3,7
Sản lợng (nghìn tấn) 24,936,7 26.396,7 27.523,9 29.141,7 31.393,8 7,7
a. Lúa đông xuân
Diện tích (nghìn ha) 2.421,3 2.541,1 2.682,7 2.783,3 2.889,7 3,8
Năng suất (tạ/ha) 44,3 48,0 49,6 48,7 48,8 0,2
Sản lợng (nghìn tấn) 10.736,6 12.209,5 13.310,3 13.559,5 14.104,2 4,0
b. Lúa hè thu
Diện tích (nghìn ha) 1.742,4 1.984,2 1.885,6 2.115,6 2.335,4 10,5
Năng suất (tạ/ha) 37,3 34,7 35,2 35,6 37,5 5,3
Sản lợng (nghìn tấn) 6.500,8 6.878,5 6.637,8 7.524,4 8.756,9 16,4
c. Lúa mùa
Diện tích (nghìn ha) 2.601,9 2.473,0 2.531,8 2.438,5 2.423,0 -1,3
Năng suất (tạ/ha) 29,7 29,5 29,9 33,0 35,2 7,4
Sản lợng (nghìn tấn) 7.726,3 7.308,7 7.575,8 8.057,8 8.532,7 5,9
2. Mầu quy thóc nghìn
tấn
2.607,2 2.821,2 3.084,2 2.712,2 2.860,1 5,5
Do vậy, với xu thế này, năm 2001 và những năm tới dự đoán sản lợng
lúa của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng.
Năm 2001 sản lợng gạo thế giới tăng và giá cả hạ.
Vụ lúa đông xuân năm 1998-1999, giá lúa 2.200 đ/kg, nông dân
ĐBSCL xây nhà, mua xe máy, sắm tiện nghi gia đình Nh ng, niềm vui đó
chỉ thoảng qua, chẳng kéo dài đợc bao lâu. Ngay đầu tháng 2/2001, thị tr-
ờng lúa gạo miền Tây đợc xem là thời kỳ khan hiếm, nhng thật trớ trêu, dấu
hiệu rớt giá lại xuất hiện đúng vào lúc này. Cụ thể ở Trà Vinh, giá lúa chỉ
dao động từ 1.000-1.050 đ/kg; Tại An Giang, thơng lái chỉ mua với giá
13
1.100-1.150 đ/kg (giảm 200-250 đ/kg so vụ đông xuân năm 1999-2000).
Tại chợ lúa gạo lớn nhất miền Tây An C- Bà Đắc (Tiền Giang), gía lúa khô,
sạch dao động từ 1.300-1.450 đ/kg tuỳ theo thời tiết thị trờng. Ghe thuyền
hàng xáo vào mua tận nhà chỉ có 1.100-1.150 đ/kg. Ông Sáu Thành Giám
Đốc NHNo-PTNT Vĩnh Long cho biết: giữa tháng 2 này giá lúa ở đây dao
động từ 1.100-1.300 đ/kg.
Dự tính, vụ đông xuân 2000-2001, nếu năng xuất bình quân đạt 5 tấn/
ha, ĐBSCL sẽ có sản lợng khoảng 7,5 triệu tấn lúa, trong đó 80% là lúa
hàng hoá. Theo tính toán của bà con nông dân ở Châu Thành, Châu Phú
(An Giang), Lai Vung, Cao Lãnh (Đồng Tháp), Tân Thành, Mộc Hoá
(Long An), do ảnh hởng của lũ lớn, sâu bệnh phát triển vào dịp cuối vụ, giá
phân bón tăng nên vụ đông xuân năm nay chi phí sản xuất lên tới
1.000-1.050 đ/kg thóc, tăng khoảng 100-150 đ/kg so với các vụo đông xuân
trớc. Nhiều ngời dự đoán giữa tháng 3 tới, thu hoạch rộ, giá lúa có thể rớt
xuống bằng giá thành sản xuất. Bởi vì, theo dự báo, nhu cầu nhập khẩu gạo
của thế giới năm nay không tăng, xấp xỉ bằng năm trớc (khoảng 23,5 triệu
tấn). Trong khi đó lợng tồn kho năm 2000 của các nớc xuất khẩu gạo nh
Thái Lan, ấn Độ, Pakistan còn lớn Mặt khác, theo đánh giá của Bộ nông
nghiệp Mỹ, năm nay các nớc xuất khẩu cũng nh nhập khẩu đều đợc mùa.
Do vậy, lợng gạo thừa cũng lớn, giá gạo dự kiến không tăng và sẽ cạnh
tranh gay gắt.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét