Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Tìm về cội nguồn vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

Tìm về cội nguồn vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam

1. Lời mở đầu
Có thể nói cái đẹp là hình thức khái qt của tư duy con người. Nó là sự
tổng hồ của nhiều phẩm chất, nhiều yếu tố hồ quyện với nhau tạo nên cái trác
tuyệt tổng thể. Ở đâu đó có con người, có sự sống thì ở đó có cái đẹp. Nó là sự
ngưỡng vọng và khám phá của mn đời:
"Anh
Lớn khơn
dưới bầu vú mẹ

dại khờ
Trước
vòm
ngực
của
em".

(Romance - Thế Hùng).
Có lẽ chính vì vậy mà chúng ta khơng ngạc nhiên khi cái đẹp là phạm trù
quan trọng nhất trong hệ thống khách thể thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài, cái
trác tuyệt) nói riêng và là phạm trù cơ bản, trung tâm của mỹ học nói chung.
Theo quan điểm duy vật biện chứng cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực cuộc
sống. Nó tồn tại khách quan vừa mang tính thời sự lại vừa mang tính mn thuở.
Nó gắn liền với sự biến động và phát triển của xã hội lồi người. Nó biểu hiến
sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, theo quy luật tất yếu của lịch sử bao giờ cái
mới cũng chiến thắng. Thế nhưng “cốt lõi của tồn bộ cái đẹp là chân lý, bất cứ
cái đẹp nào cũng dẫn tới chân lý và điều kiện “(Henden), do đó sự vươn tới lý
tưởng thẩm mỹ của nó thì ln tồn tại vĩnh hằng. Nó tiềm ẩn trong đời sống con
người và được biểu hiện qua văn hố ứng xử, cái đẹp của tâm hồn, đạo đức, trí
tuệ, tư tưởng. Nó giúp con người ngày càng hồn thiện hơn . Còn “bản chất của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

1
con người là sáng tạo theo quy luật của cái đẹp” (Mác). Mối quan hệ biện chứng
âý sẽ theo suốt cuộc đời con người từ khi sinh ra đến khi từ giã cõi đời.
Khác với cái đẹp trong tự nhiên, cái đẹp thơ nhám, khơng chọn lọc và rời
rạc, cái đẹp trong xã hội lồi người là cái đẹp do con người tạo ra, nó được biểu
hiện trong tất cả các mặt của đời sống xã hội. Nó biểu hiển thơng qua nét đẹp
của văn hố ứng xử, qua cách đối nhân xử thế giữa con người với con người,
con người với thế giới xung quanh (văn là đẹp hố là giáo hố - lấy cái đẹp để
giá hố con người).
Văn hố ứng xử là sự thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối
hành động của một cộng đồng người trong việc ứng xử và giải quyết những mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ vi mơ (gia đình) đến vĩ mơ
(xã hội, nhân gian). Chính vì thế mà mỗi con người _ chủ thể trong xã hội phải
phấn đấu trở thành một con người phát triển tồn diện, hài hồ giữa vẻ đẹp nội
dung và hình thức, giữa vẻ đẹp bên ngồi và bên trong góp phần xây dựng một
xã hội văn minh, tốt đẹp.
Nói khác đi, ứng xử là những lề lối hành động hay những lề lối suy nghĩ
và cảm thụ thích đáng của mỗi vai trò xã hội trước một tình huống. Những hệ
ứng xử được lặp đi lặp lại thành nếp, được kết cấu với nhau trong hệ thống lớn
hơn mang tính văn hố ứng xử, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
có tiếp thu, gạn lọc, bổ sung và phát triển. Văn hóa ứng xử vì vậy mang tính
truyền thống như một dòng chảy khơng đứt đoạn. Người Việt cũng như các dân
tộc khác do đó có truyền thống ứng xử mang sắc thái riêng và đặc trưng riêng
mà khơng bất cứ một dân tộc nào có được. Đó là niềm tự hào chính đáng của
người Việt. Một điều đặc biệt hơn nữa tính chất và sự biểu hiện của văn hố ứng
xử của người Việt lại được tập trung đầy đủ và sinh động nhất qua hình ảnh
người phụ nữ - những con người mang trong mình đặc trưng vốn có của người
Việt, văn hố Việt trong suốt lịch sử hình thành và phát triển đất nước:
“Em là người đàn bà cho anh bài thơ hay nhất
Anh vắt cạn đời mình u em chân thật
Nên trong thơ có máu của mình
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

2
Có hồng hơn và có cả bình minh

Em là người đàn bà u anh nhiều nhất
Trên những nhỏ nhen
toan tính thấp hèn ”
(Mãi đến tận cùng –Thế Hùng )
Chúng ta hồn tồn mạnh dạn nói rằng muốn tìm hiểu về vẻ đẹp của dân
tộc Việt Nam thì khơng thể khơng tìm về cội nguồn vẻ đẹp truyền thống của
những người phụ nữ đã góp phần khơng nhỏ làm nên vẻ đẹp ấy.
Tuy nhiên cấu trúc của quan hệ xã hội cổ truyền cũng như văn hố Việt
Nam thường được thể hiện sơ giản bởi mối quan hệ nhà - làng – nước. Do đó
khi xét địa vị, vị thế cũng như văn hố ứng xử của người phụ nữ trong xã hội cổ
truyền thì cũng phải đặt họ (vừa với tư cách là chủ thể, vừa với tư cách là đối
tượng) trong các mối quan hệ ứng xử vơi gia đình, gia tộc, láng giềng, cộng
đồng và quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy vị thế của người phự nữ Việt trong xã
hội, trong gia đình ln bộc lộ sư đa dạng, phức tạp trong bản thân nó. Điều này
đã được lịch sử hàng nghìn năm nay minh chứng, ghi nhận, phản ánh trung thực
trong văn hố truyền thống, văn hố dân gian và văn hố hiện đại trong các
phương diện vật chất, tinh thần và tâm linh. Bởi thế tìm về cội nguồn vẻ đẹp
truyền thống của phụ nữ Việt Nam cũng chính là con đương đưa chúng ta tìm về
cội nguồn giá trị chân – thiện – mỹ của dân tộc Việt Nam.
2. Nội dung
2.1. Nhân dân ta có truyền thống tơn trọng phụ nữ
Từ buổi bình minh của lịch sử và trong giai đoạn của xã hội ngun thuỷ
dân tộc nào cũng trải qua một thời kỳ mẫu hệ và chế độ mẫu quyền. Trong đó
phự nữ làm chủ gia đình, dòng họ; phụ nữ có vai trò lớn lao trong sinh hoạt kinh
tế, trong đời sống xã hội cũng như trong đời sống văn hố tinh thần.
Đặc điểm nổi bật của Việt Nam là một nước có nền văn minh nơng nghiệp
lúa nước lâu đời. Do đó trong văn hóa ứng xử con người ưa tổ chức theo ngun
tắc trọng tình. Lối sống trọng tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

3
văn và trọng phụ nữ. Chính vì vậy nhiều nhà nghiên cứu phương Tây khi tìm
hiểu về văn hố phương Đơng cho rằng khơng phải ngẫu nhiên mà vùng nơng
nghiệp Đơng Nam Á gọi là xứ mẫu hệ. Cùng dòng chảy đó dù mức độ hay tính
chất khác nhau, trong truyền thống sinh hoạt và truyền thống văn hóa Việt tinh
thần cọi trọng ngơi nhà - coi trọng cái bếp – coi trọng người phụ nữ là hồn
tồn nhất qn và rõ nét: "Phúc đức tại mẫu”, “con dại cái mang”, “vợ cái con
cổn”, “xảy cha ăn cơm với cá, xảy mẹ liếm lá đầu đường”, “ruộng sâu trâu nái
khơng bằng con gái đầu lòng”, “lệnh ơng khơng bằng cồng bà” hay thậm chí:
“Em gánh trên vai số phận của tơi
Khúc còn lại một thời mất mát
Trọn một đêm
Tơi viết xong khúc hát
Sáng nay
chắc đã cũ rồi ”
(Lời ru buồn – Thế Hùng ).
Nhìn từ góc độ xã hội, cộng đồng, gia đình hay cá nhân có thể thấy âm
hưởng chung là đã thừa nhận, khẳng định vai trò, vị thế người phụ nữ là nhiệm
vụ trọng tâm, đồng đẳng trong các mối quan hệ xã hội.
Nguợc lại quan hệ xã hội trong một gia đình, nhất là quan hệ với làng xã,
họ hàng phần lớn do người phụ nữ tạo nên, nam giới chỉ là đại diện ở bên ngồi.
Người đàn ơng trong tâm thức làng xã lo nhất là lấy phải người vợ lăng lồn,
ứng xử kém: “Chó dữ thì mất láng giềng. Dâu dữ thì mất họ hàng”. Một người
phụ nữ khi lấy chồng là gánh vác cả giang sơn nhà chồng. Gia đình người chồng
có được họ hàng kính nể, u thương hay khơng là do bà vợ quyết định. Đặc
biệt nếu ai quan tâm đến tin ngưỡng Việt Nam thì sẽ thấy thiên đình đạo giáo
Việt Nam do nữ giới làm chủ. Trong đời sống tâm linh người Việt tục thờ mẫu
đã trở thành một tín ngưỡng của con người với tự nhiên, lịch sử xã hội, con
người. Đó là Mẫu Thượng Thiên (Bà trời – cai trị thiên phủ), Mẫu Thượng Ngàn
(Thần cai trị núi rừng), Mẫu Thoải (Thần cai trị thuỷ phủ) Thánh Mẫu Liễu
Hạnh và hệ thống các nữ thần khác. Từ đó xuất hiện Mẹ lúa, Mẹ đất, Mẹ Âu Cơ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

4
của người Việt có thể nói tìm hiểu bất cứ loại hình cụ thể nào của văn hố
truyền thống Việt Nam ta cũng gặp hình ảnh người phụ nữ với tất cả những gì
phong phú đa dạng mà họ vốn có, sống động và đầy cuốn hút. Họ, đời sống văn
hố của họ, văn hố ứng xử của họ trở thành đề tài trung tâm của khơng ít loại
hình nghệ thuật Việt Nam. Điều này lý giải phần nào lý do vì sao trong đời sống
sinh hoạt người Việt các đồ dùng đều được gọi bắt đầu bằng từ “cái”: Cái ghế,
cái chày, cái trống, cái bát
Truyền thuyết kể rằng mẹ Âu Cơ chính là người sinh ra dân tộc Việt Nam
– con Lạc cháu Hồng. Bọc trứng nở ra trăm con là kết quả của mối tình thắm
thiết giữa Mẹ và Lạc Long Qn đã trở thành biểu tượng cho tình đồn kết đồng
bào thuở khai sơn phá thạch. Mẹ Âu Cơ đem 50 con lên núi, cha Lạc Long Qn
đem 50 con xuống biển để tạo ra đại gia đình các dân tộc Việt Nam phong phú
và đa dạng như ngày nay.
Những thế hệ nhà Hùng cha truyền con nối làm thủ lĩnh tối cao đã chuyển
dần xã hội Việt Nam thời cổ từ mẫu hệ sang phụ quyền. Đây là mốc đánh dấu
xuất hiện sự đối kháng giữa đàn ơng và đàn bà, sự đối kháng này đã phần nào
phản ánh sự đối kháng giai cấp. Mặc dù vậy chế độ phụ quyền khơng phải bất
cứ ở đâu và lúc nào cũng đều mang hình thức cổ điển, hà khắc như ở Hy Lạp.
Thời cổ nói chung và xã hội Việt Nam cổ truyền nói riêng khi chuyển từ mẫu hệ
sang phụ quyền dưới một hình thức “êm dịu” hơn. Bước vào xã hội văn minh,
phụ nữ ở góc độ nào đó vẫn được coi trọng và có ảnh hưởng ngay cả tới việc
cơng. Nhắc đến truyện “Chử Đồng Tử” chắc khơng ai là khơngbiết đến nàng
cơng chúa Tiên Dung. Mặc cho Vua Hùng nổi giận lơi đình nàng vẫn chủ động
gá nghĩa cùng chàng trai nghèo họ Chử gặp trên bãi Màn Trò, khơng nơi nương
tựa, khơng mảnh vải che thân. Hay truyện “Trầu cau” kể rằng nhà họ Lưu có
người con gái thấy hai anh em Tân và Lang nhà nọ đêm lòng u mến và muốn
kết làm chồng. Để chọn một trong hai nàng đã bày ra cách thử (so đũa đẻ trên
mâm cơm) xem ai là anh, ai là em rồi xin cha mẹ cho làm vợ người anh. Dù gì
thì trên chặng đường chuyển hố từ mẫu hệ sang phụ hệ dưới thời Hùng và mãi
về sau này nữa xã hội Việt Nam cổ truyền đã thừa hưởng và bảo lưu một truyền
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

5
thống vững chắc và tốt đẹp. Vì thế cho dù sử hay là truyện thì tất cả đều phản
ánh vai trò chủ động của người phụ nữ Việt Nam trong hơn nhân thời cổ.
Nhân dân ta đã phải sống hàng ngàn năm dưới ách thống trị của phong
kiến phương Bắc (179 TCN – 938 SCN) và phong kiến trong nước với hệ tư
tưởng chủ yếu là Nho giáo đã thắt chắt sợi dây oan nghiệt đối với người phụ nữ
khiến thân phận và địa vị của họ một thời bị coi rẻ. Thuyết “Tam cương”, đạo
“Tam tòng”, “Tứ đức”, “trọng nam khinh nữ”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết
vơ” (một trai là có, mười gái vẫn bằng khơng), “nam nữ thụ thụ bất thân” hay
việc bán vợ, đợ con, tệ cưỡng hơn (cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy), chế độ đa thê,
chực tiết tất cả chỉ nhấn mạnh “đạo cha con” – một trong ba “rường mối” của
chế độ phong kiến. Ln lý phong kiến buộc người phụ nữ phải giữ đạo “Tam
tòng” (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết phải theo con trai) hay
bắt họ phải trau dồi “Tứ đức”(cơng, dung, ngơn, hạnh) để phục vụ chồng con và
gia đình nhà chồng. Đạo Khổng có câu: “ Duy nữ tử tiểu nhân vi nam dưỡng dã.
Cận chi tắc bất tốn, viết chi tắc ốn" (chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó đối xử.
Nếu gần họ thì xấc xược, nếu xa họ thì họ ốn – Dương Hổ dịch). Chính những
tư tưởng ấy đã một thời khiến những người phụ nữ Việt Nam khơng thốt khỏi
cảnh cá chậu chim lồng, làm tơi làm tớ. Nói như vậy cũng có nghĩa tất cả những
điều ấy rốt cuộc cũng chỉ là Nho giáo Trung Hoa còn bản lĩnh của nhân dân lao
động Việt Nam, đạo lí dân gian Việt Nam, sự ổn định trong các gia đình Việt
Nam truyền thống đã giúp người Việt Nam duy trì một nền văn hố tốt đẹp ngay
trong ngheo khổ, “trai mà tri, gái mà tri; sinh ra có ngãi có nghì thì thơi”. Nhân
dân ta vừa kính cha vừa ơn mẹ “chữ hiếu hai vai”. Trong đó người mẹ có tầm
quyết định đối với sự phát triển của các con về nhiều mặt (thể chất, tình cảm,
đạo lí làm người ): “Đức hiền tại mẫu”, “cha sinh chẳng tày mẹ dưỡng”, “tinh
cha huyết mẹ” .Hay trong các thành ngữ, khái niệm tiếng Việt phản ánh sự gắn
bó giữa hai người thì yếu tố đứng trước phải là bậc trên: Cha con, ơng cháu, anh
em, cậu mợ nhưng vợ chồng thì yếu tố “vợ” lại đứng trước. Đây khơng đơn
thuần là vấn đề hình thức mà tiếng Việt phản ánh tâm hồn, tính cách người Việt.
Và người Việt Nam hồn tồn có quyền tự hào về truyền thống tơn trọng phụ nữ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
của dân tộc mình. Đó chính là bản lĩnh dân tộc, cái đã tạo nên bản sắc văn hố
mà hàng nghìn đời nay nó đã đứng vững trước biết bao sóng gió bạo tàn của gót
giầy qn xâm lược. Càng trong những hồn cảnh khó khăn, cực khổ thì phụ nữ
Việt Nam càng kiên cường đứng lên đấu tranh và liên tục đấu tranh qua các thời
đại để giữ địa vị và vai trò của mình trong đời sống kinh tế, văn hố, xã hội,
trong sự nghiệp đánh giặc cứu nước, đẩy mạnh sự phát triển của dân tộc ta, xã
hội ta ngày càng lên cao.
2.2. Phụ nữ Việt Nam "Anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang"
2.2.1. Phụ nữ với trách nhiệm với tổ quốc
Trên thế giới nước nào mà chẳng có những người anh hùng, nhưng một
đất nước tồn nữ anh hùng thì chỉ có ở Việt Nam. Hạnh phúc của những người
phụ nữ ấy khơng phải chỉ là lắm tiền của, có địa vị cao sang, cuộc sống n ổn,
có người chồng thuỷ chung, những đứa con ngoan, trung hiếu làm rạng rỡ gia
phong, sống trong tình u thương của làng xóm. Mọi khó khăn trong cuộc sống
khơng làm họ lùi bước trước việc “ghé vai gánh vác sơn hà”, đóng vai trò trụ cột
cứu nước. Họ thấm nhuần hơn ai hết chân lý “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.
Lịch sử hào hùng của dân tộc ta hàng nghìn đời nay khơng thể khơng ghi nhớ
những trang chói ngời chiến cơng của họ. Họ là những người mở đường cho
cuộc chiến tranh đòi lại quyền lực và vị thế của mình trong xã hội: Họ là Hai Bà
Trưng (thế kỷ I), Lê Chân (thế kỷ I), Bà Triệu (thế kỷ III), Dương Thị Như Ngọc
(vợ Ngơ Quyền, thế kỷ X), Ngun Phi Ỷ Lan (vợ Lê Thánh Tơng, thế kỷ XI),
Trần Thị Dung (vợ Trần Thủ Độ, thế kỷ XIII), Đào Thị Huệ (thế kỷ XV), Bùi
Thị Xn (thế kỷ XVIII).
Đến cả sau này khi đất nước ta phải đương đầu với hai tên trùm đầu sỏ đế
quốc của thế giới là Pháp và Mỹ thì tinh thần ấy khơng những khơng mất đi mà
nó còn sáng ngời hơn bao giờ hết. Trước cảnh nước mất nhà tan, những người
phụ nữ đã vùng dậy đấu trang quyết liệt với kẻ thù, anh hùng dương cao ngọn cờ
độc lập, cùng tồn thể đồng bào chiến sĩ viết lên trang sử hào hùng “ thành đồng
tổ quốc” cùng với đó là sức chiến đấu ngoan cườn và đầy mưu lược của “ đội
qn tóc dài”. Ta khơng thể qn những người phụ nữ kiên trung như: Võ Thị
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Út và hàng triệu triệu những người
mẹ, người chị anh hùng khác trên đát nước Việt Nam. Ngay lúc này đây bóng
dáng gầy còm mà anh dũng của bà mẹ Suốt trước mưa bom bão đạn của kẻ thù
vẫn như đau đáu trong ta:
“Một tay lái chiếc đò ngang
Bên sơng Nhật Lệ qn sang bên này”.
Thế nhưng chính họ chứ khơng phải ai khác mới thấu hiểu được hết giá trị
của hai từ “hạnh phúc” trong cuộc sống gia đình. Và chính họ “là niềm kiêu
hãnh của phụ nữ Châu Á”, họ “đã lấy lại vinh dự và sự cao cả cho phụ nữ
Phương Đơng”, (Truyền thống phụ nữ - Trần Quốc Vương).
2.2.2. Phụ nữ Việt Nam trong đời sống kinh tế – xã hội
Việt Nam bước vào thời kỳ nơng nghiệp cách ngày nay hàng vạn năm. Di
tích của việc thờ các nữ thần nơng nghiệp đã chứng minh cho vai trò kinh tế sâu
xa của người phụ nữ trong xã hội cổ truyền. Nó cho thấy phụ nữ Việt Nam
khơng hề thốt ly sản xuất và họ khơng chỉ giữ vai trò quan trọng trong sản xuất
nơng nghiệp mà còn là một lực lượng lao động quan trọng trong nền sản xuất
ấy. Do đó cách ứng xử với thiên nhiên của phụ nữ Việt Nam được bộc lộ qua
sinh hoạt lao động nghề nghiệp của họ.
Nhiều học giả nước ngồi khi đến Việt Nam từng nhận định, phụ nữ Việt
Nam có một nguồn lực và sự tự do rộng rãi hơn phụ nữ nhiều dân tộc Á Đơng
khác (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Hàn ). Họ có vai trò quan trọng hơn nam giới
trong kinh tế, giáo dục gia đình; họ nắm tay hòm chìa khố. Và theo những học
giả này trong gia đình Việt Nam cổ truyền người đàn ơng “trị vì” còn người đàn
bà “cai quản”: “Gái ngoan lam sang cho chồng”, “ nhà khó cậy vợ hiền. Nước
loạn nhờ tướng giỏi”, “Làm ruộng có trâu, làm nhà có vợ”, hay “giàu vì bạn
sang vì vợ”. Quả đúng là “đằng sau người đàn ơng thành đạt là bóng hình của
người phụ nữ”.
Tiếp sau thời dựng nước, đất nước ta bị lơi vào vòng quỹ đạo của chủ
nghĩa phong kiến phương Bắc. Chúng âm mưu đồng hố nhân dân ta. Đất nước
ta từ đây bước vào những giai đoạn thăng trầm của lịch sử. Người phụ nữ Việt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
Nam đã cùng tồn dân Việt Nam đi qua những gian nan ấy với những chiến
cơng đáng tự hào. Họ khơng những đảm đương với vai trò là một người mẹ,
người vợ, người con trong gia đình nhà chồng để hàng vạn nghĩa qn n tâm
lên đường giết giặc mà họ còn dũng cảm tham gia vào các trận đánh để giành lại
độc lập dân tộc. Ở địa phương họ hồn tồn chiếm lĩnh ngành trồng dâu ,chăn
tằm ,dệt vải Và lúc này nhiều nơi khác ở Viễn Đơng chỉ ni một năm 1 – 2
lứa tằm, còn ở Việt Nam những người phụ nữ từ Phong Châu (Sơn Tây cũ) đến
Lâm Ấp (Quảng Nam) đạt tới con số kỷ lục tồn thế giới, một năm tám lứa
(Truyền thống phụ nữ Việt Nam – Trần Quốc Vượng). Đến đời Đường (thế kỷ
VII – X) tơ lụa, sa the, láng lĩnh Việt Nam đã rất nổi tiếng, trở thành món hàng
xuất khẩu và trở thành cống phẩm chủ yếu cho các triều đình phương Bắc.
Thế kỷ XVII - XVIII nhiều người nước ngồi đến Việt Nam để bn bán,
truyền đạo Gia tơ đã đánh giá cao đạo đức, tài năng, phong thái của phụ nữ Việt
Nam:
“Cơ em bn chỉ bán tơ,
Bn ngọn sơng Bờ, bn cuối sơng Thao”
Ơng Jean Koffler – một giáo sĩ Tiệp Khắc đến Việt Nam thế kỷ XVIII đã
viết: “Ở đấy phái đẹp khơng kém gì Châu Âu, cả về hình dáng bề ngồi lẫn
phẩm chất trí não, kể cả trong cách nói chuyện những người phụ nữ thường
khéo hơn nam giới trong việc làm tăng thêm tài sản gia đình Nói tóm lại người
phụ nữ Việt Nam khơng để mất một nguồn lợi nào, bất kể nguồn lợi đó từ đâu
tới”.
Cho dù bận rộn với cơng việc kinh tế gia đình xong những người phụ nữ
Việt Nam khơng hề cứng nhắc, khơ khan. Họ ln sở hữu trong mình một tâm
hồn giàu tình cảm, lạc quan, u đời dẫu rằng bao gian nan khó nhọc còn đeo
đuổi. Họ ln hướng tới những gì tốt đẹp và ngày mai tươi sáng:
“Người ta bn bán vạn ngàn,
Em đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi.
Dám xin nho sĩ chớ cười
Vì em làm giấy cho người đề thơ”
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
Ơng Batrow – Hội viên hội Hồng Gia Anh đến Việt Nam thế kỷ XVIII
đã nhận xét: “Người phụ nữ ở đây rất hoạt động, họ trơng coi việc làm nhà, chỉ
đạo lò gốm, chèo thuyền, mang hàng ra chợ bán, bật bơng, kéo sợi Đa phần
cơng việc là do phụ nữ làm Phụ nữ ở đây bao giờ cũng vui vẻ và ln miệng
nói. Họ vui vẻ và có dun. Còn ơng Cristoforo Borri – cố đạo người Ý đến Việt
Nam thế kỷ XVII thì ca ngợi: “Phụ nữ Việt Nam tính khí êm dịu hơn bất cứ dân
tộc nào khác ở Phương Đơng, đón tiếp khách khứa rất nồng hậu , tâm tính
khống đạt, thoải mái, dáng đi thong thả, uy nghi, quần áo của họ có lẽ là kín
đáo nhất vùng Đơng Nam Á ”.
Dù thái độ, mưu đồ của người Phương Tây thời đó đến Việt Nam như thế
nào đi chăng nữa thì họ cũ đã có những nhận xét rất đúng đắn về vẻ đẹp và bản
lĩnh của người phụ nữ Việt Nam. Chính họ – những người phụ nữ “đẹp” ấy đã
góp phần khơng nhỏ trong việc khẳng định “tầm” của văn hố Việt, truyền
thống Việt trước bạn bè thế giới. Một điều thật lạ là càng trải qua khó khăn thử
thách vẻ đẹp ấy càng toả sáng hơn bao giờ hết. Đất nươc ta lại tiếp tục bị thơn
tính lần lượt bởi hai đế quốc sừng sỏ nhất thế giới. Những người mẹ, những
người vợ giàu lòng thương nước, thương nhà, hăng hái động viên, khuyến khích
chồng con ra mặt trận,hiến dâng những người thân u nhất của mình cho tổ
quốc. Họ bất chấp bom đạn nắng mưa; họ ln ln bám sát ruộng đồng, nhà
máy bảo đảm sản xuất trong mọi tình huống nêu cao khí phách anh hùng ,đức
tính cần cù của người phụ nữ Việt Nam. Hạt gạo gửi đến tiền phương là hạt gạo
đảm đang của người phụ nữ, hạt gạo thấm sâu tình nghĩa thấm mồ hơi và cả một
phần xương máu của họ nơi hặu phương.
2.2.3. PNVN trong quan hệ với gia đình
Khi coi gia đình như là một tế bào tự nhiên của xã hội thì vai trò và vị thế
của người phụ nữ khơng chỉ trong chức năng duy trì nòi giống mà còn phát triển
gia đình và xã hội. Đặc biệt hơn nữa khi coi gia đình là yếu tố tạo nên nhân cách
của người Việt thì truyền thống gia đình đóng vài trò chủ chốt trtong việc xây
dựng nhân cách của từng cá nhân trong đó người phụ nữ là hạt nhân. Họ gánh
trên vai bao cơng việc nặng nhọc của gia đình; sinh con, ni dạy con, chăm sóc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
tứ thân phụ mẫu, tề gia nội trợ, thay chồng chịu trách nhiệm trực tiếp đối nội
trong gia đình và gián tiếp đối ngoại trước cộng đồng, xã hội. Trong mỗi vai trò
ấy họ đã thể hiện hình ảnh độ quan trọng, thế ứng xử khác nhau giữa các mối
quaqn hệ hữu cơ ấy: Bình đẳng, hết lòng trong quan hệ vợ chồng, thương u,
nhân hậu với con cái, phụng sự cha mẹ chồng trong mối tình cảm u ghét
Đồng thời họ ln mơ ước một tình u cao đẹp và hạnh phúc bền lâu. Đây là
một biểu hiện văn hố ứng xử vừa khéo léo vừa uyển chuyển của người phụ nữ.
Họ có địa vị thực tế nhưng lại khơng q lệ thuộc vào địa vị ấy, họ ham muốn
vươn ra ngồi xã hội, nhưng khơng bao giờ qn thiên chức quản lí, ổn định gia
đình và xã hội.
Có thể nói trong các mối quan hệ gia đình thì khơng có mối quan hệ nào
phức tạp hơn quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu. Thế nhưng bằng lối ứng xử
khơn khéo và ngoan hiền của mình người phụ nữ Việt Nam đã khiến cho mối
quan hệ ấy trở lên tốt đẹp, giữ cho gia đình ln trong ấm, ngồi êm:
“ Mẹ già ở chốn lều tranh
Sớm thăm tối viếng cho đành lòng em.
Lòng son dạ sắt càng thêm
Lòng đà trăng gió ai tìm thấy ai”.
Chẳng thế mà trong dân gian ta vẫn truyền tụng nhau câu chuyện về nàng
dâu hiếu thảo thay chồng chăm sóc mẹ. Chồng đi biệt xứ nhiều năm khơng về
mẹ già đau ốm nàng đã tự xẻo thịt mình để làm thức ăn cho mẹ trong lúc đói
lòng. Những tận tụy, những hy sinh, những chịu đựng là tình cảm ứng xử tự
nhiên của tình mẹ con mà mn đời sau vẫn thế.
Và có ai u chồng như những người vợ Việt Nam! Đó là sự u thương
trân trọng, đơi khi còn là sự chịu đựng cực thân là lòng vị tha để lam mát mặt,
giữ lấy tiếng tăm gia đình nhằm tạo mối quan hệ xã hội, bàn bè tốt đẹp:
“Râu tơm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.”
Hay
“Có chồng thì phải theo chồng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
Đắng cay cũng chịu , mặn nồng cũng vui"
Nhưng gạt bỏ đi tất cả sự vấn vương ấy người phụ nữ Việt Nam vẫn thuỷ
chung như nhất, tình nghĩa sâu nặng mặn nồng:
“ Chim xa bày thương cây nhớ cối
Vợ xa chồng đạo nghĩa nào sai
Vàng dòng cả lửa chẳng sai
Ở cho chung thuỷ có ngày gặp nhau”
Cảm động hơn cả đó là khi được chứng kiến đạo nghĩa vợ chồng qua sự
bộc lộ: “Mình đi em ở lại nhà”, lời u thương giản dị ấy trong buổi tiễn đưa
chứa đựng một ý chí phi thường của người phụ nữ, họ ln đặt nghĩa lớn của
dân tộc lên trên cuộc sống riêng tư êm ấm của mình. Từ đây dù 2 năm, 5 năm
hay 10 năm người chinh phụ Việt Nam càng nặng tình thương nhớ, càng trọn
đạo làm người vẹn niềm chung thuỷ, đem đạo đức sáng ngời của hậu phương
sánh với phẩm chất anh hùng nơi tiền tuyến. Phải chăng thiên nhiên cũng xúc
động trước tâm hồn cao thượng của người phụ nữ Việt Nam nên đã dựng lên
trên đất nước ta những Hòn Vọng Phu, những Hòn Trống Mái Vượt qua mọi
thử thách của bão, gió, nắng, mưa, ý chí người phụ nữ Việt Nam đã hóa đá như
thể nêu cao vinh dự và trách nhiệm của mình trước tổ quốc, tình u và giá trị
con người. Chẳng thế mà trước những người phụ nữ ấy người đàn ơng khơng
khỏi xao xuyến :
“ Bên em
Anh như biển ngàn năm đói khát
Sóng cồn cào uống cạn
những dòng sơng
Đâu có biết bãi bờ xa tít tắp
Biển u thương bồi đắp
những cánh đồng ”
(Hồi sinh – Thế Hùng)
Mở đằu thời kỳ dựng nước khơng ai qn được lòng khát khao cháy bỏng
của bà Trưng Trắc đánh thắng kẻ thù để trả mối nợ nước, thù nhà. Lời thề trên
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
dòng sơng Hát là tiếng vọng ngàn đời cho những thế hệ phụ nữ Việt Nam đi sau
nối tiếp truyền thống tốt đẹp:
“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẻn vẹn sở cơng lênh ngày”
Hình ảnh chị Dậu trong tác phẩm “Tắt Đèn” của nhà văn Ngơ Tất Tố tất
tả, xơng pha mặt đối mặt với bọn cường hào ác bá để bảo vệ chồng cùng lời nói
đanh thép của chị là tiếng chng reo vào lòng người những nỗi niềm xúc động
ai ốn: “Mày trói chồng bà đi! Bà cho mày xem!”.
Và có ai u con bằng các bà mẹ Việt Nam – những người đã suốt đời
thức khuya, dậy sớm, nhịn ăn, nhịn mặc để ni nấng, chăm sóc và dạy dỗ con;
người đã gửi vào con tất cả niềm ước mong và hạnh phúc ? Thử hỏi trên thế gian
này ngồi nghĩa cả đối với tổ quốc, đối với cách mạng còn có tình cảm nào
thiêng liêng hơn tình mẹ con ? Có sự hy sinh, tận tụy nào bằng sự hy sinh tận
tụy của người mẹ đối với con ? “ Cá chuối đắm đối vì con”. Dạy con từ thuở
thơ, đứa trẻ tiếp thu văn hố lồi người đầu tiên chính là qua người mẹ. Từng
giây, từng phút người mẹ truyền cho con những tình cảm, những ý nghĩ của
mình, những điều mà mình từng trải trong cuốc sống. Mỗi lời nói, mỗi nụ cười,
mỗi nét mặt buồn vui của người mẹ đều in sâu vào tâm hồn đứa trẻ và mang
theo nó đi suốt cuộc đời.
Cảm động hơn nữa đó chính là những người mẹ hy sinh từng miếng ăn,
giấc ngủ cho đàn con, những người mẹ âm thầm chịu đựng những nghiệt ngã
của cuộc sống, những năm tháng của tuổi trẻ chỉ vì đàn con thân u:
“Mẹ ru mắt nhỏ hai hàng
Ni con càng lớn mẹ càng lo thêm”
Hay:
"Con hèn q khơng giúp gì được mẹ
Phơi thân gầy bán sổ xố ven đường
Mẹ sinh con mong về già nương tựa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
Tóc điểm sương rồi nhìn mẹ
mà thương

Sáu mươi tám năm lặn lội dòng đời
Răng đen hạt na ăn trầu đã mỏi
Năm đứa con nghèo khơng đứa nào
giúp nổi
Ơng bà già tần tảo ni nhau”
(Mẹ – Thế Hùng)
Có thấy tấm lòng trời biển của mẹ, thương con mới thấy khí phách của mẹ
tiễn một, hai con, có khi là ba, bốn con lên đường giết giặc. Lòng mẹ xót xa biết
mấy nhưng khơng thể nào khác được bởi mẹ cũng như con khơng thể sống ươn
hèn và tủi nhục.
Thật khó có thể có một ngơn ngữ chính xác nào mơ tả được sự thiêng
liêng, cao đẹp của tấm lòng người mẹ dành cho các con. Đẹp nhất, q nhất là
hình ảnh những người mẹ Việt Nam, những người phụ nữ đã tần tảo ru con bằng
những câu hò, điệu lý chan chứa lời ca tình người, tình làng nghĩa xóm, đạo
nước non, đạo làm người. Mà vượt lên trên thời gian đó là những lời ru đã đưa
những người con trung hiếu bảo vệ non sơng đất nước làm đẹp thêm truyền
thống đạo đức của q hương dân tộc Việt Nam. Chính bằng cách đó những
người mẹ Việt Nam đã góp phần gìn giữ và lưu truyền, phát triển tinh hoa văn
hố dân tộc từ đời này qua đời khác. Điều ấy chứng tỏ rằng phụ nữ Việt Nam
khơng chỉ đẹp người, đẹp nết mà còn là những nhà giáo dục, nhà văn hố giỏi.
2.2.4. Phụ nữ Việt Nam trong ứng sử với bản thân
Phải nói rằng lễ giáo và đạo dức phong kiến mà bọn quan lại đơ hộ trước
đây ra sức truyền bá vào nước ta trước đây có ảnh hưởng nhất định đến phong
hố người Việt. Ít nhiều nó đã tăng cường sự áp chế trong gia đình và một thời
nó đã đẩy người phụ nữ đến mức an phận. Nó cố sức thắt chặt người phụ nữ vào
cỗ xe “phu xướng phụ tuỳ”, ngun tắc “tiền trao cháo múc” trong hơn nhân.
Chính những ngun tắc tàn nhẫn ấy đã đầu độc người phụ nữ trong cảnh đau
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét