Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
chế độ pháp lý về đảm bảo tiền vay bằng tài sản trong hoạt động tín dụng ngân hàng
5
kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên
quan với nội dung thường xun là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh tốn. Nói ngắn gọn hơn, hoạt động của
ngân hàng thương mại được chia ra làm hai lĩnh vực cơ bản: Cấp tín dụng và
làm dịch vụ (nhận tiền gửi, thanh tốn…), theo thời gian ngày càng được bổ
sung và hồn thiện.
Cấp tín dụng: là việc ngân hàng thoả thuận để khách hàng sử dụng một
khoản tiền với ngun tắc có hồn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,
cho th tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác, trong đó phần lớn
cho vay. Như vậy, cho vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó ngân hàng
sẽ giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn
nhất định với ngun tắc có hồn trả cả gốc lẫn lãi.Cho vay chính là một nội
dung chủ yếu của hoạt động ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh chủ
chốt của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ
cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản
lý chi phí trơi nổi, chi phí th các loại và chi phí rủi ro đầu tư. Bởi vì, như
chúng ta đã biết bất cứ một tổ chức sản xuất kinh doanh nào muốn tồn tại và
phát triển đều phải tìm kiếm lợi nhuận và bảo đảm an tồn trong hoạt động kinh
doanh của mình. Đối với một tổ chức kinh doanh như ngân hàng thương mại, lợi
nhuận thu được chủ yếu từ hoạt động cho vay bằng cách đặt một lãi suất cao hơn
lãi suất phải trả cho việc huy động. Nhưng cũng chính phần lớn lợi nhuận mà
ngân hàng thương mại kiếm được là từ hoạt động cho vay vì vậy buộc các ngân
hàng thương mại phải thận trọng trong từng quyết định cho vay, bảo đảm sao
cho các khoản vay đều ln tn thủ ngun tắc có hồn trả gốc lẫn lãi, một
ngun tắc được xem như là bất di bất dịch, là cơ sở đảm bảo cho hoạt động
ngân hàng được liên tục và phát triển. Do vậy để thực hiện trọn vẹn ngun tắc
hồn trả, ngồi việc xây dựng quy trình cho vay khoa học, chặt chẽ, các ngân
hàng thương mại phải chú trọng tới việc phân tích, đánh giá khả năng đảm bảo
của khoản vay, hay nói cách khác, các ngân hàng thương mại phải xem xét đến
vấn đề bảo đảm tiền vay.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
1.2. Tính tất yếu của vấn đề bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương
mại.
Để làm rõ tại sao việc bảo đảm tiền vay lại là một điều tất yếu, cần xem
xét đến mục đích cũng như rủi ro gặp phải của ngân hàng thương mại khi thực
hiện cho vay.
1.2.1.Mục đích của ngân hàng thương mại khi thực hiện cho vay.
Như đã đề cập, cho vay là hoạt động chủ yếu và đem lại phần lớn lợi
nhuận cho các ngân hàng thương mại. Bằng nguồn vốn huy động được, các ngân
hàng thương mại tiến hành cho vay đối với nền kinh tế và khi cho vay thì ngân
hàng thương mại ln có những mục tiêu cụ thể, nhưng thực chất đều hướng tới
hai mục đích cuối cùng là an tồn và lợi nhuận.
Lợi nhuận ln là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một tổ chức kinh tế
nào. Ngân hàng thương mại cũng khơng nằm ngồi quy luật này. Giữa việc tìm
kiếm lợi nhuận và cho vay có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cho vay chính là
cơ sở của việc nhận tiền gửi, vì nó quyết định việc có trả được tiền gửi cùng với
lãi suất tiền gửi hay khơng. Hơn nữa, chuỗi hoạt động của ngân hàng, từ nhận
tiền gửi đến khi cho vay và thu về khoản vay cộng với lãi tiền vay, trả tiền gửi
và lãi tiền gửi. Khơng phải chỉ ngân hàng làm nhiệm vụ của một chiếc cầu nối
giữa người thiếu vốn và người thừa vốn, mà hơn cả, đó chính là quy trình tìm
kiếm và thu về lợi nhuận của ngân hàng.Thêm vào đó, do các khoản cho vay là
kém lỏng nhất và có rủi ro khơng trả được cao nhất nên các ngân hàng cũng phải
thu lợi nhuận cao nhất từ các khoản cho vay này. Nhưng liệu lợi nhuận hay khả
năng sinh lợi có phải là yếu tố cao nhất và duy nhất chi phối hoạt động cho vay
hay khơng?
Một đặc trưng riêng có của các ngân hàng thương mại nhằm phân biệt với
các tổ chức tài chính khác là ngân hàng cho vay dựa trên số tiền của các tổ chức,
cá nhân gửi tiền vào ngân hàng mà khơng phải của chính ngân hàng. Vì vậy tuy
đồng vốn cho vay ra nằm trong sự kiểm sốt của ngân hàng nhưng vẫn phải
chịu sức ép từ phía người gửi tiền. Một khoản vay có chất lượng khơng tốtkhơng
những khiến ngân hàng bị thiệt hại mà còn gây tâm lý e ngại, lo lắng đối với
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
những người đã và sẽ gửi tiền vào ngân hàng, đồng thời khiến những người gửi
tiền đồng loạt đến ngân hàng để rút tiền làm cho ngân hàng rơi vào tình trạng
mất khả năng thanh tốn, có nguy cơ dẫn đến phá sản. Vì vậy cần thấy rằng một
khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng thì mong muốn kiếm một khoản lãi từ số
tiền gửi khơng phải là yếu tố chi phối hàng đầu mà là sự tín nhiệm, tin tưởng đối
với ngân hàng. Chính vì sự tín nhiệm kéo theo trách nhiệm này, ngân hàng buộc
phải cân nhắc xem xét kỹ từng khoản vay trước cũng như trong suốt q trình
cho vay. Nhiều khi, dù khả năng sinh lời vẫn được coi là hàng đầu, ngân hàng
vẫn phải gác lại để nhường chỗ cho những ngun tắc đạo đức đã trở thành trụ
cột cho hoạt động ngân hàng vì lợi ích của người gửi tiền bằng sự an tồn cho
các khoản cho vay và bảo đảm uy tín cho ngân hàng.
Nói tóm lại, mỗi khoản cho vay ngân hàng đều khơng nằm ngồi mục
đích an tồn và lợi nhuận. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng mục tiêu lợi nhuận chỉ
có thể đạt được khi mục tiêu an tồn được đảm bảo.
1.2.2. Rủi ro trong cho vay.
Theo quan niệm của các nhà quản lý hoạt động ngân hàng thì rủi ro được
hiểu là những tổn thất phát sinh trong q trình hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thương mại. Có nhiều loại rủi ro như rủi ro cho vay, rủi ro lãi suất, rủi
ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá.
Rủi ro cho vay thuần t là rủi ro gặp phải do người cho vay đến hạn
khơng trả được nợ hoặc khơng tn thủ đúng các điều kiện thoả thuận cho hợp
đồng tín dụng giữa người vay và ngân hàng. Rủi ro cho vay thuần t được chia
làm hai loại: rủi ro thơng thường và rủi ro đầu cơ. Rủi ro thơng thường là rủi ro
gây nên do cơng tác quản lý kém, tính tốn sai, thể hiện trong cho vay và kỹ
thuật phân tích tín dụng kém. Còn rủi ro đầu cơ là loại rủi ro ln đi kèm với lợi
nhuận với ý nghĩa: rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn. Vì vậy, rủi ro đầu cơ
có sự chấp thuận tuỳ thuộc vào người kinh doanh. Người kinh doanh phải lường
trước được rủi ro mà nếu muốn đạt được một mức lợi nhuận cao nào đó, họ phải
chấp nhận rủi ro đó.
Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu ở đây khơng đề cấp đến rủi ro đầu cơ mà
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
chính rủi ro thơng thường mới là rủi ro mà bất cứ một ngân hàng thương mại
nào đều muốn nó khơng xảy ra hoặc chỉ ít cũng phải giảm đến mức tối thiểu để
đạt được mục đích (nói như vậy khơng có nghĩa là rủi ro đầu cơ khơng hướng
tới lợi nhuận siêu ngạch dành cho các món vay mạo hiểm và như vậy nó khơng
nằm trong phạm vi nghiên cứu cuả bài viết này). Sự kết hợp hai vấn đề trên:
Mục đích an tồn và lợi nhuận của các khoản vay có thể gặp nhằm rút ra một
điều: các khoản vay để có thể giảm được tối thiểu rủi ro nhằm đạt đến mục đích
đòi hỏi phải xem xét đến tính bảo đảm ngay từ khi quyết định cho vay.
2. Hợp đồng tín dụng ngân hàng
Trong cơng tác tín dụng thì việc đảm bảo tiền vay là điều rất quan trọng,
trong đó hợp đồng tín dụng là cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo tiền vay, chính vì
vậy sau đây ta đi tìm hiểu những quy định về hợp đồng tín dụng.
2.1. Khái niệm về hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa ngân
hàng với các pháp nhân, thể nhân nhằm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt các
quyền và nghĩa vụ nhất định trong việc chuyển giao quyền sử dụng vốn tạm thời
từ người cho vay sang người vay theo ngun tắc hồn trả dựa trên cơ sở pháp
luật.
Hợp đồng tín dụng ngân hàng chính là hình thức pháp lý của quan hệ tín
dụng ngân hàng, nó phản ánh sự thoả thuận trực tiếp của các bên trong việc xác
định lập một quan hệ tín dụng, xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của
các bên trong việc vay và hồn trả vốn vay.
2.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng ngân hàng được thoả thuận bằng văn bản giữa bên cho
vay và bên đi vay.
Hợp đồng tín dụng ngân hàng được thực hiện giữa tổ chức tín dụng với
pháp nhân và cá nhân theo quy định của pháp luật.
Hợp đồng tín dụng ngân hàng có sự bắt buộc phải có các biện pháp bảo
đảm thực hiện hợp đồng: cầm cố, thế chấp bảo hành… Đây là điểm bắt buộc áp
dụng chứ khơng đơn thuần là sự thoả thuận trong hợp đồng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Một bên ký kết hợp đồng phải là tổ chức tín dụng.
Sau khi ký kết hợp đồng thì người sở hữu tiền tệ phải giao quyền sử dụng
tiền tệ đó cho người vay trong thời gian nhất định, được quy định trong hợp
đồng.
Hết thời hạn sử dụng, người sử dụng phải hồn trả cho người sở hữu tiền
tệ với số tiền là cả gốc lẫn lãi.
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, người cho vay chỉ trao quyền sử dụng
vốn chứ khơng trao quyền sở hữu.
Hợp đồng tín dụng ngân hàng được ký kết bằng hình thức văn bản, ngơn
ngữ được sử dụng trong hợp đồng là tiếng việt (có thể kèm theo một bản tiếng
nước ngồi).
Lãi suất cho vay khơng được q mức lãi suất trần của Thống đốc ngân
hàng Nhà nước.
2.3. Ký kết hợp đồng tín dụng
2.3.1. Chủ thể ký kết và khách thể ký kết.
* Chủ thể cho vay: Các loại ngân hàng sau là người cho vay trong các
quan hệ pháp luật tín dụng ngân hàng.
+ Ngân hàng Nhà nước là người cho vay trong quan hệ các tổ chức tín
dụng và kho bạc Nhà nước.
+ Ngân hàng thương mại là người cho vay trong quan hệ với các pháp
nhân và thể nhân.
*Chủ thể đi vay:
+ Là các pháp nhân: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, cơng ty TNHH,
cơng ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.
+ Là cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự
+ Là hộ gia đình, tổ hợp tác, cơng ty hợp danh.
* Khách thể:
Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích vật chất (hoặc phi vật
chất) mà các chủ thể nhằm hướng tới khi tham gia vào quan hệ pháp luật đó.
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, mục tiêu ý chí mà các chủ thể hướng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
tới là việc chuyển giao một số tiền nhất định từ người cho vay sang người đi vay
để thoả mãn lợi ích của các bên. Do đó về mặt lý luận có thể coi khách thể của
quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền và các giấy tờ có giá khác.
Trong thực tế các chủ thể đều hướng tới việc chuyển giao một số tiền nhất
định nhưng mục đích của từng chủ thể có khác nhau. Ngân hàng cho vay nhằm
mục đích kiếm lãi. Khách hàng vay nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn trong kinh
doanh.
2.3.2. Nội dung của hợp đồng tín dụng ngân hàng.
Hợp đồng tín dụng ngân hàng gồm có những nội dung sau:
+ Tên, địa chỉ các bên ký kết.
+ Số tiền vay bằng cả chữ và số.
+ Điều kiện vay
+ Mục tiêu sử dụng vốn
+ Phương thức cho vay
+ Lãi suất với số vốn vay
+ Thời hạn vay
+ Hình thức bảo đảm
+ Quyền của bên cho vay
+ Quyền và nghĩa vụ của bên đi vay
2.3.3. Q trình ký kết hợp đồng
* Đơn xin vay: Do chủ thể đi vay làm theo mẫu in sẵn của ngân hàng
hoặc tổ chức tín dụng gửi tới chủ thể đi vay. Trong đó trình bày rõ số tiền định
vay, phương án sử dụng vốn vay, thời hạn vay, phương thức bảo đảm tiền vay…
có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc đại diện của doanh nghiệp.
* Thẩm định hồ sơ xin vay: Do cán bộ của tổ chức tín dụng thẩm định,
thẩm định về tư cách pháp lý, phương án sử dụng vốn, phương án trả nợ của chủ
thể đi vay.
* Quyết định cho vay: Sau khi được cấp có thẩm quyền của tổ chức tín
dụng xem xét, việc cho vay có thể thực hiện hay khơng phụ thuộc vào điều lệ
của tổ chức tín dụng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
2.3.4. Thực hiện hợp đồng.
Là q trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
+ Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay
+ Quyền của bên cho vay
+ Kiểm tra, giám sát q trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của
khách hàng.
+ Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng
cung cấp thơng tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng.
+ Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh
theo quy định của pháp luật.
+ Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng khơng trả nợ. Nếu các bên khơng có
thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn ay theo
sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc
theo u cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp
khách hàng được bảo lãnh vay vốn, chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy định tại
quy chế này: mua bán nợ theo quy định của ngân hàng Nhà nước Việt nam và
thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xố nợ theo quy định của chính phủ và hướng
dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nghĩa vụ của bên cho vay:
+ Thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
+ Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với qui định của pháp luật.
* Quyền và nghĩa vụ của bên đi vay
- Quyền:
+ Từ chối các u cầu của tổ chức tín dụng khơng đúng với các thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng.
+ Khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của
pháp luật.
- Nghĩa vụ.
+Cung cấp đủ, trung thực các thơng tin, tài liệu liên quan đến việc vay
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thơng tin, tài liệu đã cung cấp.
+Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng và các kết khác.
+ Trả nợ cả gốc và lãi và với vốn vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
+ Chịu trách nhiệm đúng pháp luật khi khơng thực hiện đúng các thoả
thuận về việc trả nợ vay và thực hiện đúng những thoả thuận về việc trả nợ vay
và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
2.3.5. Giải quyết tranh chấp.
Trong hợp đồng tín dụng thì được chia làm hai loại là hợp đồng kinh tế và
hợp đồng dân sự. Vì trong bài viết này chỉ đề cập đến hợp đồng kinh tế nên ở
đây chỉ có cách giải quyết là hợp đồng kinh tế.
Đối với hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế thì giải quyết tranh chấp
theo pháp lệnh hợp đồng kinh tế, những thủ tục và q trình giải quyết phải tn
theo pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồngg kinh tế.
Sau đây ta đi tìm hiểu chế độ pháp lý về bảo đảm tiền vay trong hợp đồng
tín dụng là hợp đồng kinh tế.
II. CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY TRONG HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG
1. Bảo đảm tiền vay
1.1. Khái niệm bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là việc các tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp
phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách
hàng vay.
* Các tổ chức tín dụng(ở đây) bao gồm: Tổ chức tín dụng nhà nước, tổ
chức tín dụng cổ phần, tổ chức tín dụng hợp tác (Ngân hàng hợp tác, quỹ tín
dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng) tổ chức tín dụng liên doanh, chi nhánh ngân
hàng nước ngồi hoạt động tại Việt Nam, tổ chức tín dụng phi ngân hàng100%
vốn nước ngồi.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
* Khách hàng vay bao gồm:
- Các pháp nhân khơng phải là tổ chức tín dụng: doanh nghiệp nhà nước,
cơng ty trách nhiệm hữu hạn, cơng ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngồi, hợp tác xã, các tổ chức khác có đủ điều kiện pháp nhân theo quy định tại
điều 94 của Bộ luật dân sự.
- Hộ gia đình
- Tổ hợp tác
- Doanh nghiệp tư nhân
- Cơng ty hợp danh
- Cá nhân
Như đã đề cập, ngân hàng là tổ chức hoạt động về mục tiêu an tồn và lợi
nhuận đối với các khoản nợ khi cho khách hàng vay vốn. Chính vì vậy, khách
hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo các ngun tắc sau:
+ Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
+ Phải hồn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng.
+Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện theo quy định của chính phủ,
thống đốc ngân hàng nhà nước và hướng dẫn của ngân hàng thương mại đối với
khách hàng.
1.2. Ngun tắc bảo đảm tiền vay
Theo điều 4, nghị định 178/1999/NĐ - CP ngày 29/12/1999 của chính phủ
về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng, khi cho vay có bảo đảm phải tn thủ
các ngun tắc sau:
+ Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo
đảm bằng tài sản, cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của
nghị định 178/1999/NĐ - CP ngày 29/12/1999 của chính phủ về bảo đảm tiền
vay của các tổ chức tín dụng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản
theo chỉ thị của chính phủ thì tổn thất do ngun nhân khách quan của các khoản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
vay này được chính phủ xử lý.
+ Tổ chức tín dụng được lựa chọn cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản
nếu trong q trình sử dụng vốn vay, tổ chức tín dụng phát hiện khách hàng vay
vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng thì tổ chức có quyền áp dụng các biện
pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước thời hạn.
+ Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định
của nghị định 178/1999/NĐ- CP ngày29/11/99 của chính phủ về bảo đảm tiền
vay của tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật có liên quan để thu
hồi nợkhi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh khơng thực hiện hoặc thực hiện
khơng đúng nghĩa vụ trả nợ.
+ Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên
bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên
bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết.
1.3. Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hợp đồng tín
dụng
Trong hợp đồng tín dụng thì được chia làm hai loại hợp đồng kinh tế và
hợp đồng dân sự, ở đây tơi chỉ đề cập đến các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng
tài sản trong hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế sau đây:
+Bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo hình thức cầm cố quy định tại một số
văn bản như Quy chế thế chấp,cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng
ban hành kèm theo quyết định số 217/QĐ - NH1 của Thống đốc ngân hàng Nhà
nước ngày 17/8/1996.
+ Bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo hình thức thế chấp cũng được quy
định tại một số văn bản như ở biện pháp cầm cố.
+ Bảo đảm tiền vay bằng hình thức bảo lãnh cũng được quy định trong
một số văn bản của cầm cố, thế chấp.
+ Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Theo Quy chế thế
chấp cầm cố và Nghị định178/NĐ - CP ngày29/12/1999 của chính phủ về bảo
đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng.
Đó là các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hợp đồng tín
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét