Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

DC_donggoi_Artemia

- 5 -

Để hoàn thành vòng đời của mình , Artemia trải qua nhiều giai đoạn phát
triển khác nhau.
* Đặc điểm sinh trưởng của Artemia
Sự sinh trưởng và phát triển của Artemia trải qua nhiều giai đoạn khác
nhau. Ngoài tự nhiên, vào một thời điểm nào đó trong năm Artemia sẽ đẻ trứng
bào xác nổi trên mặt nước và được song thổi dạt vào bờ. Trứng này ở trạng thái
ngừng hoạt động trao đổi chất và ở tình trạng giữ khô. Các sản phẩm trứng nghỉ
là một đặc điểm thích nghi của Artemia với điều kiện môi trường bất lợi.
* Trứng bào xác có dạng hình cầu lõm, màu nâu hay nâu sậm, kích thước đạt
200-300µm trung bình một gam trứng bào xác có khoảng 270.000 đến 300.000
trứng. Trứng bào xác sinh ra trôi nổi trong điều kiện nước mặn (>20ppt) và chìm
trong nước ngọt. Nó có cấu tạo gồm hai phần :
● Phần vỏ có cấu tạo gồm 3 lớp:
 Ngoài cùng là lớp Chorion có bản chất là một lipoprotein chứa đầy kitin
và hematin (sắc tố đen) có tác dụng bảo vệ vỏ trứng khỏi những tác động
cơ học và các tác động cơ học khác của môi trường. Lớp này sẽ bị phá huỷ
dưới tác dụng của hypochlorine.
 Ở giữa là lớp màng ngoại bì có tác dụng ngăn cản những phân tử có kích
thước lớn hơn phân tử CO
2
xâm nhập.
 Trong cùng là lớp màng phôi trong suốt và có tính đàn hồi cao.
●Phần phôi trong trứng bào xác chỉ phát triển đến giai đoạn phôi vị thì dừng lại
ở trạng thái tiềm sinh với độ ẩm trong trứng < 10%. Trứng bào xác nếu được bảo
quản tốt có thể giữ được nhiều năm.
Trứng bào xác khi gặp môi trường nước biển sẽ hấp thụ nước và trở nên
căng tròn (trương nước). Lúc này bên trong trứng bắt đầu xảy ra quá trình trao
đổi chất, phôi tiếp tục phát triển. Trứng ngậm nước và tiêu thụ oxy để hoàn tất
quá trình chuyển hoá carbohydrat hiện tượng chuyển hoá này xảy ra khi độ ẩm
trong trứng >25% và độ mặn thích hợp (5-30ppt). Độ mặn dưới 5ppt thì trứng
vẫn nở nhưng ấu trùng sẽ chết rất nhanh, khi độ mặn trên 70ppt thì sự ngâm nước
- 6 -

không hoàn thành do đó trứng sẽ không nở. Trứng trương nước sau khoảng 18-20
giờ màng nở bên ngoài sẽ nứt ra phôi xuất hiện và vẫn được bao quanh bởi màng
nở. Trong khi phôi đang treo bên dưới vỏ trứng thì phôi vẫn phát triển. Sau một
thời gian ngắn màng nở bị phá vỡ ấu trùng Nauplius được phóng thích ra ngoài.
* Giai đoạn Nauplius
Ấu trùng Nauplius mới nở có chiều dài 400-500µm, có màu vàng nâu với
điểm mắt màu đỏ nằm giữa cặp râu I. Chúng có 3 đôi phần phụ: đôi râu I có chức
năng cảm giác, đôi râu II có chức năng vận động và lọc thức ăn, đôi râu III có
chức năng nhận và gom thức ăn. Ở giai đoạn này bộ máy tiêu hoá của Artemia
chưa hoàn chỉnh, chúng sống dựa vào nguồn noãn hoàng. Sau 7-8 giờ ấu trùng
Instar II, giai đoạn này chúng đã có khả năng sử nguồn thức ăn bằng cách lọc các
hạt thức ăn có kích thước nhỏ từ 10-50µm như: tế bào tảo, vi khuẩn, chất vẩn…
bằng đôi râu II.

Hình 1.1-Vòng đời sinh trưởng của Artemia
- 7 -

* Giai đoạn Nauplius
Ấu trùng Nauplius mới nở có chiều dài 400-500µm, có màu vàng nâu với
điểm mắt màu đỏ nằm giữa cặp râu I. Chúng có 3 đôi phần phụ: đôi râu I có chức
năng cảm giác, đôi râu II có chức năng vận động và lọc thức ăn, đôi râu III có
chức năng nhận và gom thức ăn. Ở giai đoạn này bộ máy tiêu hoá của Artemia
chưa hoàn chỉnh, chúng sống dựa vào nguồn noãn hoàng. Sau 7-8 giờ ấu trùng
Instar II, giai đoạn này chúng đã có khả năng sử nguồn thức ăn bằng cách lọc các
hạt thức ăn có kích thước nhỏ từ 10-50µm như: tế bào tảo, vi khuẩn, chất vẩn…
bằng đôi râu II.
* Giai đoạn ấu niên
Ở giai đoạn này cơ thể Artemia kéo dài dần, các đôi phần phụ dần xuất
hiện ngực và biến thành chân ngực, mắt kép xuất hiện ở hai bên mắt. Từ sau lần
lột xác thứ 10 trở đi chúng có sự thay đổi lớn về hình thái và chức năng của các
đôi phần phụ râu II mất đi chức năng vận động và lọc thức ăn chuyển sang biệt
hoá giới tính. Ở con đực đôi râu II phát triển thành đôi càng lớn dung để bám vào
con cái khi cặp đôi, trong khi đôi râu II của con cái biệt hoá thành phần phụ cảm
giác. Các chân ngực được biệt hoá thành ba bộ phận chức năng: đốt gốc và nhánh
trong làm nhiệm vụ hô hấp.
* Giai đoạn trưởng thành
Artemia trưởng thành trong quần thể lưỡng tính dài khoảng 1cm và dài
khoảng 2cm trong quần thể trinh sản đa bội. Chúng có cơ thể kéo dài với hai mắt
kép, ống tiêu hoá thẳng, một đôi râu cảm giác và 11 đôi chân ngực. Từ giai đoạn
Naulius đến giai đoạn trưởng thành chúng phải trải qua 15 lần lột xác. Con đực
có đôi gai giao phối ở phần sau của vùng ngực và có đôi càng hình móc rất đặc
thù ở vùng đầu. Đối với con cái rất dễ nhận dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử cung
nằm ngay sau đôi chân ngực thứ 11, chúng thường có kích thước lớn hơn con
đực. Artemia ở giai đoạn ở giai đoạn này bắt đầu kết cặp và tiến hành sinh sản.


- 8 -

a) Đặc điểm dinh dưỡng
Artemia là sinh vật ăn không chọn lựa. Trong tự nhiên hay ao nuôi
Artemia sinh trưởng và phát triển chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn có sẵn trong
môi trường.Chúng sử dụng mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào và vi khuẩn có kích
thước nhỏ hơn 50µm. Trong tự nhiên, Artemia thường hiện diện ở vùng nước có
độ mặn cao nên hiếm gặp các loài động vật dữ và các động vật cạnh tranh thức
ăn khác như luân trùng, giáp xác nhỏ ăn tảo. Nhiệt độ, thức ăn và độ mặn là
những nhân tố ảnh hưởng đến sự gia tăng mật độ của quần thể Artemia hoặc
ngay cả đến sự vắng mặt tạm thời của chúng.
Trong nghề nuôi Artemia trên ruộng muối nông dân thường sử dụng phối
hợp phân chuồng ( chủ yếu là phân gà ) kết hợp với phân vô cơ như Urê hoặc
DAP để gây màu trực tiếp trong ao nuôi hoặc gián tiếp ngoài ao bón phân trước
khi cấp nước vào trong ao nuôi. Artemia có thể sử dụng trực tiếp phân gà và các
phân hữu cơ khác khi bón vào ao nuôi. Ngoài ra, khi lượng nước tảo cung cấp
vào ao hằng ngày thiếu hụt nông dân còn sử dụng cám gạo, bột đậu nành… để
duy trì quần thể.
b) Đặc điểm sinh sản
Artemia sinh sản ở 2 dạng: đơn tính và hữu tính, trong đó dạng sinh sản
hữu tính được sử dụng rộng rãi hơn trong sản xuất.
Đối với dòng Artemia lưỡng tính khi trưởng thành con đực bắt cặp với
con cái. Con đực dung đôi càng ôm phần bụng của con cái, giao cấu và thụ tinh
cho trứng. Hoạt động này diễn ra rất thường xuyên trong hầu hết vòng đời của
chúng. Trứng phát triển trong hai buồng trứng dạng ống ở phần bụng. Khi trứng
chin có dạng cầu và di chuyển qua hai ống dẫn để vào tử cung. Thông thường
trứng được thụ tinh phát triển thành ấu trùng bơi lội ( phương thức đẻ con-
ovviviparaus) và được con cái sinh ra. Trong điều kiện bất lợi các phôi chỉ phát
triển đến giai đoạn phôi vị. Lúc này chúng sẽ được bao bọc bằng một lớp vỏ dày
(được tiết ra từ tuyến vỏ trong tử cung) biến thành trứng nghỉ hay còn gọi là trngj
thái “ tiềm sinh” và được con cái phóng thích ra ngoài.
- 9 -

J.Vos (1980) cho rằng kiểu sinh sản Artemia được kiểm soát bởi giới hạn các
yếu tố môi trường. Các yếu tố chính ảnh hưởng như sau:
Đẻ con Đẻ trứng
- Độ mặn thấp - Độ mặn cao
- Hàm lượng ôxy cao - Hàm lượng ôxy thấp
- Biên độ dao động ôxy thấp - Biên độ dao động ôxy cao
- Thức ăn nghèo sắt - Thức ăn giàu sắt






a) b) c)
Hình 1.2 a) Artemie cái và buồn trứng b) artemia đực c) ấu trùng artemia
c) Đặc điểm sinh thái và khả năng thích nghi với các điều kiện môi trường
của Artemia
Artemia là sinh vật có tính rộng muối, chúng sống được trong môi trường
nước lợ ( vài phần ngàn) cho đến nước mặn bão hoà (250 phần ngàn). Tuỳ theo
điều kiện môi trường mà chúng có đặc điểm sinh trưởng và sinh sản khác nhau.
Chủng quần thể của Artemia được tìm thấy ở trên 500 hồ nước mặn và
ruộng muối trên thế giới. Artemia được tìm thấy chủ yếu trong những ao hồ có
nồng độ muối cao (80ppt- 120ppt) đây cũng là ngưỡng chịu đựng cao nhất về
nồng độ muối của các loài sinh vật dữ. Từ 250ppt trở lên mật độ Artemia giảm
mặc dù chúng có thể sống ở nồng độ muối cao hơn nhưng nhu cầu về năng lượng
để điều hoà áp suất thẩm thấu tăng làm ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng và sinh
sản của chúng , thậm chí chúng bị đói và bị chết do môi trường trở nên độc và
việc trao đổi chất cực kỳ khó khăn.
- 10 -

Mặc dù Artemia có thể sống tốt trong môi trường nước biển tự nhiên
nhưng Artemia không có cơ chế chống lại sinh vật dữ ( cá, tôm…) và cạnh tranh
với các loài ăn lọc khác nên chúng có một cơ chế thích nghi rất tốt với độ mặn
cao(80-120ppt) nơi mà hầu như các loài sinh vật dữ và sinh vật cạnh tranh không
thể tồn tại được. Sự thích nghi về sinh lý của chúng với độ mặn cao là nhờ :
- Chúng có một hệ thống điều hoà thẩm thấu cực tốt.
- Khả năng tổng hợp các sắc tố hô hấp cao nhằm thích ứng với điều kiện
O
2
thấp ở nơi có độ mặn cao.
- Trong điều kiện bất lợi chúng có khả năng sản xuất ra trứng bào xác để
đảm bảo sự tồn tại của chúng trong tự nhiên.
- Các dòng Artemia khác nhau có thể thích nghi rộng với sự biến đổi của
môi trường, đặc biệt là nhiệt độ, chúng có thể thích nghi trong khoảng nhiệt độ 6-
35
0
C. Thành phần ion của các thuỷ vực gồm Chlorid, Sunfat, Cacbonate và NaCl
là thành phần chủ yếu tạo nên các sinh cảnh Artemia ven biển và sinh cảnh nước
mặn khác nằm sâu trong đất liền, chẳng hạn hồ Great-Salt ở Mỹ.
Đối với dòng Artemia bản địa của Việt Nam đã có nhiều đặc điểm thích
nghi khác xa so với tổ tiên của chúng, đặc biệt là sự thích nghi với nhiệt độ mặc
dù chúng có nguồn gốc từ Mỹ. Điều kiện môi trường thích hợp nhất cho chúng
là:

Độ mặn : 80- 120
0
/
00
 Nhiệt độ : 22-25
0
C
 Oxy hoà tan: cao hơn 2ppm
 pH từ trung tính đến kiềm (7.0-9.0)
Trong tự nhiên hay trong ruộng muối Artemia sinh trưởng và sinh sản chủ
yếu dựa vào nguồn thức ăn sẵn có trong môi trường. Chúng ăn lọc không có tính
chọn lựa với thành phần thức ăn là các mảnh vụn hữu cơ lơ lửng trong tầng nước
và các sinh vật nhỏ như tảo vi tảo, vi khuẩn với kích thước từ 10-50µm. Trong
thực tế, do sự thiếu vắng của các sinh vật dữ và sinh vật cạnh tranh thức ăn nên
Artemia thường thấy ở những hệ thống độc canh lớn.
- 11 -

1.1.3 Vai trò của Artemia
a) Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thuỷ sản
Artemia được biết đến vào những năm 30 của thập kỷ 20 khi người ta phát
hiện ra chúng là loài thức ăn sống có giá trị dinh dưỡng cao cho việc ương nuôi
giống các loài thuỷ sản như tôm, cá, động vật than mềm. Artemia có thể đáp ứng
rất tốt nhu cầu dinh dưỡng cho giai đoạn ấu trùng của các loài tôm cá.
Hiện nay tại các trại sản xuất giống, ấu trùng Artemia được sử dụng rộng rãi nhất
bởi những lý do sau:
 Giá trị dinh dưỡng cao ( protein, axit béo không no HUFA cao)
 Sẵn có trên thị trường dưới dạng trứng bào xác
 Không phụ thuộc mùa vụ, thời tiết và có thể thu với số lượng lớn (trứng
bào xác nở sau 24 giờ tính từ khi ấp)
 Có thể khống chế được bệnh cho ấu trùng nuôi( xử lý ấu trùng Artemia
trước khi cho ăn hoặc sử dụng chúng như một bao sinh học để chứa các
dinh dưỡng, đặc biệt là thuốc phòng trị bệnh chuyển tới ấu trùng nuôi).
Con non và con trưỏng thành của Artemia được sử dụng làm thức ăn trong
ương nuôi tôm cá, cua và các loài thuỷ hải sản khác không chỉ vì giá trị dinh
dưỡng tối ưu của chúng ( chứa gần 70% đạm) mà còn bởi những lợi ích về năng
lượng. Do đó ấu trùng có thể sinh trưởng tốt hơn hoặc điều kiện sinh lý được cải
thiện như đã chứng minh trong việc nuôi ấu trùng của tôm hùm, cá mahi, cá bơn,
cá chẽm. Đối với ấu trùng cá chẽm Lates calcarifer việc sử dụng sinh khối
Artemia làm thức ăn trong trại giống và trại ương đã tiết kiệm được một lượng
trứng Artemia đáng kể ( lên tới 60%), do đó làm giảm được chi phí về thức ăn
cho ấu trùng đồng thời làm giảm sự ăn thịt lẫn nhau trong giai đoạn đầu ương
nuôi tôm hùm.
Việc sử dụng trực tiếp ấu trùng Artemia đã được nhiều tác giả ghi nhận:
O.Kinne (1976) cho rằng ấu trùng cá và giáp xác như tôm cua đều sử dụng với số
lượng lớn. Vanolst (1976) đã nhận thấy giai đoạn ấu trùng của nhiều đối tượng
thuỷ sản có giá trị kinh tế cao cũng sử dụng Nauplius của Artemia như là khẩu
- 12 -

phần cơ sở ban đầu. Ấu trùng các loài tôm biển sử dụng Nauplius như là khẩu
phần bắt buộc trong tuần lễ đầu tiên, sau đó mới kết hợp các loại thức ăn khác.
Artemia than mềm với lớp vỏ mỏng, chúng bơi lội chậm chạp trong môi
trường nước, có màu sắc hấp dẫn, trong nước ngọt có thể sống 8 giờ. Chính vì
vậy Artemia là thức ăn chủ yếu và lý tưởng cho ấu trùng các loài tôm cá ở giai
đoạn phát triển sớm. Artemia không chỉ có giá trị sử dụng tiện lợi mà chúng còn
có giá trị dinh dưỡng cao: hàm lượng protein chiếm 62% và 27% lipit (tính theo
trọng lượng khô)… Trong nuôi Artemia thu sinh khối thì Artemia trưởng thành
được quan tâm nhiều hơn do có kích thước lớn hơn 20 lần và khối lượng nặng
hơn 500 lần ấu trùng Artemia mới nở đồng thời thành phần dinh dưỡng của nó
cũng chứa đầy đủ các axitamin cần thiết như: histidine, methionine, phenyllanine
và threonine mà ở ấu trùng Nauplius không có.
Hiện nay, việc sử dụng sinh khối Artemia vẫn chưa được chấp nhận ở
mức độ công nghiệp do hạn chế về tính thời vụ và số lượng sinh khối tươi cũng
như sinh khối đông lạnh chi phí cao, chất lượng biến động. Ở Việt Nam, mức độ
sử dụng sinh khối vẫn chỉ ở mức độ thí nghiệm và thử nghiệm là thức ăn cho ấu
trùng tôm càng xanh, tôm cua biển và cá cảnh ở dạng tươi sống, đông lạnh và
thức ăn chế biến chứ không dùng có sản phẩm khô vì giá thành quá đắt.
b) Vai trò của Artemia trên ruộng muối
Nước ta có đường bờ biển dài nên nghề làm muối khá phổ biến. Tuy
nhiên, nghề làm muối mang lại hiệu quả kinh tế thấp và từ khi Artemia được
nhập nội và thuần hoá trên các ruộng muối thì việc chuyển hướng sản xuất muối
độc canh sang mô hình sản xuất muối kết hợp nuôi Artemia thu sinh khối như thu
trứng bào xác đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người sản xuất.
Trên ruộng muối, Artemia có thể phát triển rự nhiên hay được thả nuôi
một cách chủ động như một công cụ quản lý các hoạt động thuỷ sinh học nhằm
nâng cao chất lượng muối, tận thu được nguồn trứng bào xác và sinh khối
Artemia, là hai sản phẩm có giá trị cao trong nghề nuôi trồng thuỷ sản. Artemia
được xem như là một hệ thống lọc sinh học trên ruộng muối nhờ tính ăn lọc của
- 13 -

mình. Sự phát triển củ tảo ở các phần trên ruộng muối làm bay hơi nước sẽ được
hạn chế rất nhiều nếu vùng đó có sự hiện diện của Artemia. Trong ruộng muối
nếu tảo phát triển mạnh cũng đồng nghĩa là quá trình trao đổi chất của các chất
hữu cơ trong môi trường tăng lên làm cho độ nhớt của nước tăng lên. Kết quả là
sự kết tủa của thạch cao xảy ra sớm dẫn đến sự kết tủa non của các tinh thể muối
ở phần ruộng kết tinh. Như vậy chất lượng muối sẽ giảm đáng kể vì hạt nhỏ,
nhiễm bẩn và làm cho giá thành muối giảm. Sự có mặt của Artemia trên ruộng
muối làm cho nước trở nên trong hơn, tảo và các chất vẩn hữu cơ trong ruộng sẽ
là nguồn thức ăn tốt cho Artemia. Qua thực tế cho thấy, phân và trứng do
Artemia thải ra không ảnh hưởng đến quá trình sản xuất muối mà nó còn mang
lại lợi ích cho ruộng muối nhờ tạo ra trên nền đáy một loại vi khuẩn ưa mặn
Halobacterium có màu đỏ sậm làm tăng khả năng hấp thụ nhiệt của ruộng muối
nhờ đó muối sẽ kết tinh nhanh hơn.
Artemia được nuôi trên ruộng muối chủ yếu ở các phần diện tích bốc hơi
nước nơi có độ mặn cao từ 100-180ppt, nhờ đó mà phần ruộng bỏ trống trước
đây đã được tận dụng để nuôi Artemia thu sinh khối ở các phần ruộng có độ mặn
từ 80-120ppt và thu trứng bào xác khi độ mặn là 150-180ppt.
Từ khi nuôi Artemia trên ruộng muối hiệu quả kinh tế trên các ruộng muối
đã tăng lên đáng kể nhờ vào chất lượng muối được nâng cao đồng thời có thêm
nguồn thu từ sinh khối Artemia cũng như trứng bào xác. Hiện nay, với vai trò
tích cực của Artemia trên ruộng muối mà mô hình sản xuất kết hợp Artemia -
muối đã và đang được ứng dụng phổ biến tai nhiều quốc gia trên thế giới.
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT KHÔ ARTEMIA VÀ
TRỨNG BÀO XÁC PHỤC VỤ NUÔI THUỶ SẢN
1.2.1 Thu hoạch và xử lý sinh khối artemia.
 Bước thu hoạch
Có thể thu gom sinh khối artemia từ các ruộng nuôi rộng và nông bằng
cách dung lưới hình nón gắn vào phía trước một chiếc thuyền máy hoặc dung sức
người kéo. Ở các ruộng nuôi nhỏ có thể dùng vó. Cách thay thế là đặt lưới (tạm
- 14 -

thời) ở cửa thoát nước ở ruộng nuôi và khi đó sinh khối được thu gom tự động
khi nước chảy ( tự chảy hoặc dùng bơm) sang ruộng bên cạnh. Sau đây là một số
nguyên tắt chỉ đạo trong việc thu hoạch sinh khối Artemia:
* Lưới phải to để thuận tiện cho việc thu hoạch, ví dụ đối với 100kg sinh
khối trưởng thành thì dùng lưới có miệng rộng 1.2 m và chiều dài lưới lọc từ 3
đến 6m
* Dùng kích thước mắt lưới 1 đến 2 mm để thu hoạch chọn lọc Artemia
trưởng thành /non.
* Ráp loại kích thước mắt lưới 100ηm vào phân cuối của lưới, nơi Artemia
trưởng thành tích tụ, để tránh việc Artemie bị đẩy ra.
* Mổi giờ quét một lần; sinh khối Artemia tích tụ ở phần cuối lưới lọc được
phơi ra điều kiện kị khí là điều kiện mà nó có thể chịu đựng được tới 1 giờ; vì
Artemia giàu enzim phân giải prôtein cho nên điều quan trọng là phải thu hoạch
ở dạng tươi sống.
* Sau khi thu gom sinh khối cần được chuẩn bị để vận chuyển và dùng hoặc
xử lý tiếp.
 Bước xử lý
Dùng một trong các phương pháp sau đây cho phù hợp với nhu cầu:
a) Dùng ngay trong vòng 1 đến 3 giờ làm thức ăn sống hoặc để ướp đông xấy
khô ( tỷ lệ sống >90%)
 Tạm thời giữ sinh khối được thu hoạch trong lưới đặt ở trong ruộng nuôi
 Sục khí mạnh trong lưới chứa sinh khối
 Rửa nhẹ sinh khối bằng nước biển
 Chuyển sinh khối đã được rửa vào các thùng chứa có nước biển với mật độ
tối đa là 500g trọng lượng ướt/lít nước biển
 Dùng nước đá trộn với sinh khối để hạ nhiệt độ của sinh khối xuống 5-10 độ C
 Sục khí mạnh
b) Dùng ngay trong vòng 12 giờ làm thức ăn sống hoặc để ướp đông xấy khô ( tỷ
lệ sống >90%)

Xem chi tiết: DC_donggoi_Artemia


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét