Sự tự nguyện tham gia giao dịch là một yếu tố cơ bản và không thể thiếu được
trong GDDS. Tự nguyện thể hiện ở sự tự do ý chí và bày tỏ ý chí. Không có tự do ý
chí, bày tỏ ý chí hoặc hai yếu tố này không thống nhất với nhau thì không thể có tự
nguyện, điều này đồng nghĩa với việc GDDS không có hiệu lực pháp luật. Ví dụ:
Ông A bị con là B ép buộc lập di chúc, B đe dọa nếu không lập di chúc để lại toàn
bộ tài sản cho B thì B sẽ giết cả nhà và tự sát luôn. Như vậy, giao dịch được xác lập
nhưng không có sự tự nguyện của ông A, trong trường hợp này ông A có thể yêu
cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do đe dọa. BLDS 2005 quy định một số
trường hợp giao dịch xác lập không có sự tự nguyện sẽ bị vô hiệu. Đó là các trường
hợp vô hiệu do giả tạo, do bị lừa dối, do bị nhầm lẫn, bị đe dọa, do xác lập tại thời
điểm không làn chủ được hành vi của mình.
+ Hình thức của giao dịch không đúng với quy định của pháp luật.
Các giao dịch được xác lập mà không tuân thủ các quy định về hình thức do luật
định thì giao dịch đó vô hiệu. Ví dụ: Hình thức bắt buộc đối với hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân với cá nhân là hợp đồng phải được lập
thành văn bản, có chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền. Nếu các bên tham gia
không tuân thủ quy định này thì hợp đồng ký kết không có hiệu lực pháp luật.
Pháp luật quy định điều này nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội, lợi ích của nhà
nước và sự an toàn của người tham gia giao dịch. Mặt khác, quy định này còn là cơ
sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện các tài
sản.
Thứ hai, các bên tham gia GDDS vô hiệu phải gánh chịu những hậu quả pháp
lý nhất định.
Khi GDDS vô hiệu, quay lại tình trạng ban đầu, các bên tham gia giao dịch hoàn
trả nhau những gì đã nhận. Về mặt lý thuyết thì đây là sự tổn thất của các bên, vì
các bên không đạt được mục đích như đã mong muốn đó là xác lập giao dịch để
đáp ứng nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của mình mà phải quay lại tình trạng như
trước khi tham gia giao dịch. Tuy nhiên, về mặt thực tế có trường hợp khi tuyên bố
giao dịch vô hiệu, có bên được hưởng lợi, có bên bị thiệt hại.
II/. Phân loại GDDS vô hiệu.
Hiện nay có hai cách phân loại GDDS vô hiệu chủ yếu:
1. Cách phân loại thứ nhất: GDDS vô hiệu tuyệt đối và GDDS vô hiệu tương
đối.
- Cơ sở phân loại: Dựa vào một số đặc điểm khác biệt chung thể hiện bản chất
của hai khái niệm GDDS vô hiệu tuyệt đối và GDDS vô hiệu tương đối. Cụ thể:
5
Thứ nhất là sự khác biệt về trình tự vô hiệu của giao dịch: GDDS vô hiệu tuyệt
đối thì mặc nhiên được coi là vô hiệu. Còn đối với GDDS vô hiệu tương đối thì
không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ vô hiệu khi hội đủ những điều kiện nhất định: a)
Khi có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan và b) Theo quyết định
của Tòa án. (Đây là sự khác biệt quan trọng nhất, được coi là một tiêu chí hàng đầu
để phân loại một giao dịch vô hiệu thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu
tương đối khi nghiên cứu nội dung các văn bản quy phạm pháp luật).
Thứ hai là sự khác biệt về thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu: Đối với
GDDS vô hiệu tuyệt đối thì thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là
không hạn chế. Còn đối với các GDDS vô hiệu tương đối thì thời hiệu khởi kiện
yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là hai năm kể từ ngày GDDS được xác
lập (Điều 136, BLDS 2005). Ở đây có một ngoại lệ là trường hợp giao dịch vô hiệu
do vi phạm các quy định bắt buộc về hình thức của giao dịch thuộc nhóm vô hiệu
tuyệt đối nhưng theo quy định tại điều 136 BLDS 2005 thì thời hạn yêu cầu tuyên
bố GDDS là 2 năm, kể từ ngày giao dịch được xác lập.
Thứ ba là sự khác biệt về hiệu lực pháp lý của giao dịch: GDDS vô hiệu tuyệt
đối không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, thậm chí ngay cả trong
trường hợp các bên đã tiến hành thực hiện các hành vi theo nội dung cam kết. Bởi
lẽ các giao dịch này đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng nên nhà nước không bảo
hộ.
Còn GDDS vô hiệu tương đối thì được coi là có hiệu lực pháp lý cho đến khi
nào bị Tòa án tuyên bố vô hiệu. Quy định này thoạt tiên có thể bị coi là trái với quy
định tại khoản 1 Điều 137 BLDS 2005: “GDDS vô hiệu không làm phát sinh, thay
đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập”.Thực
chất thì không phải như vậy vì đối với GDDS vô hiệu tương đối, nếu như giao dịch
không được coi là có hiệu lực cho đến khi Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu thì
quy định tại khoản 1, Điều 136 BLDS 2005 sẽ chẳng có tác dụng gì bởi lẽ sẽ không
có giao dịch nào có được hiệu lực trong khoảng thời hiệu 2 năm.
Thứ tư là sự khác biệt về bản chất quyết định của Tòa án: Trong cả hai trường
hợp, Tòa án đều có thể đưa ra quyết định tuyên bố GDDS vô hiệu thế nhưng bản
chất của hai quyết định này có sự khác biệt cơ bản:
Giao dịch dân sự thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối không phụ thuộc vào
quyết định của Tòa án. Hay nói cách khác nó bị vô hiệu ngay cả khi không có quyết
định của Tòa án. Chính vì vậy, quyết định của Tòa án đối với GDDS vô hiệu tuyệt
6
đối không mang tính chất phán xử mà đơn thuần chỉ là một trong nhữnh hình thức
công nhận sự vô hiệu của giao dịch dựa trên các cơ sở luật định mà thôi.
Đối với GDDS vô hiệu tương đối thì quyết định của Tòa án là cơ sở duy nhất
làm cho giao dịch trở nên vô hiệu. Quyết định của Tòa án mang tính chất phán xử.
Tòa án tiến hành giải quyết vụ việc khi có đơn yêu cầu của các bên (hoặc đại diện
hợp pháp của họ). Bên yêu cầu phải chứng minh trước Tòa các cơ sở của yêu cầu.
Ví dụ: Nếu một người yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị
nhầm lẫn thì phải chứng minh trước Tòa sự nhầm lẫn của mình và bên nào có lỗi
gây ra sự nhầm lẫn.
Thứ năm là sự khác biệt về ý nghĩa của việc tuyên bố GDDS vô hiệu tuyệt đối
và GDDS vô hiệu tương đối.
Việc tuyên bố giao dịch vô hiệu trong cả hai trường hợp đều có ý nghĩa để áp
dụng chế tài cần thiết vào từng giao dịch cụ thể khi giao dịch đó vi phạm vào bất
cứ điều kiện nào tại Điều 131 BLDS.
Nhưng ngoài ý nghĩa đó, đối với GDDS vô hiệu tương đối, việc Tòa án tuyên bố
giao dịch vô hiệu còn là một trong những biện pháp bảo vệ quyền dân sự quan
trọng. Thực tế những năm gần đây, Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên bố rất nhiều
GDDS vô hiệu đặc biệt là GDDS vô hiệu tương đối. Điều đó cho thấy biện pháp
bảo vệ quyền dân sự dưới hình thức kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu tỏ ra là
một biện pháp rất hữu hiệu.
Một giao dịch được gọi là vô hiệu tương đối trong các trường hợp sau: a) Khi
giao dịch được xác lập bởi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 132 BLDS 2005); b) Khi giao
dịch được xác lập do bị nhầm lẫn (Điều 131 BLDS 2005); c) Khi một bên chủ thủ
thể tham gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132 BLDS 2005); d) Khi
người xác lập giao dịch đủ năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch tại
thời điểm không nhận thức được hành vi của mình (Điều 133 BLDS 2005).
Một giao dịch được gọi là vô hiệu tuyệt đối trong các trường hợp sau: a) Khi vi
phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội (Điều 128 BLDS
2005); b) Khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch
khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba (Điều 129 BLDS 2005);
c) Khi hình thức của giao dịch không tuân thủ các quy định bắt buộc của pháp luật
(Điều 134 BLDS 2005).
2. Cách phân loại thứ hai: GDDS vô hiệu toàn bộ và GDDS vô hiệu bộ phận.
7
Thứ nhất, GDDS vô hiệu toàn bộ là toàn bộ nội dung của GDDS đó vi phạm
điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc một trong các bên tham gia giao
dịch đó không có quyền xác lập GDDS.
Thứ hai, “GDDS vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch vô hiệu nhưng
không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch”. (Điều 135 BLDS).
Thông thường việc xác định phần giao dịch dân sự vô hiệu không ảnh hưởng
đến phần khác dựa vào những tiêu chí sau:
- Giao dịch giữa các bên ký kết có phần là GDDS vô hiệu, vì không đáp ứng đủ
4 điều kiện được quy định tại Điều 121 BLDS, nhưng phần còn lại không bị vô
hiệu;
- Kết cấu tài sản là đối tượng của giao dịch không bị ràng buộc với nhau,
- Trong giao dịch, hai phần này thể hiện tách bạch với nhau về các điều khoản
của giao dịch như: giá cả, chất lượng, số lượng,…;
- Những thỏa thuận trong các phần của giao dịch, tuy có sự ràng buộc với nhau
về quyền và nghĩa vụ, nhưng vẫn có thể phân định được.
Trong thực tế, khi giải quyết vụ án thông thường, Thẩm phán thường dựa vào ý
chí thỏa thuận của các bên, nếu các bên thỏa thuận công nhận một phần giao dịch
thì các tiêu chí nêu trên chỉ là tham khảo, trừ tường hợp những thỏa thuận làm ảnh
hưởng đến lợi ích của người khác hoặc lợi ích của nhà nước.
Ví dụ: Ông A (bên bán ) và ông B (bên mua) tham gia ký kết hợp đồng mua 10
cái tivi nhãn hiệu LCD trong đó có 6 cái 18 inh và 4 cái 24 inh. Nội dung hợp
đồng: Địa điểm: nhà ông B; thời gian 10-5-2010. Ngày 10-5-2010, ông A chỉ giao
được 6 cái 18 inh, còn 4 cái 24 inh thì mãi 15-10-2010 mới mang đến vì lý do hết
hàng. Trong trường hợp này, ông B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô
hiệu một phần.
III/. Các trường hợp GDDS vô hiệu và thực tiễn việc tuyên bố GDDS vô
hiệu.
1. GDDS vô hiệu do mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của
pháp luật, trái đạo đức xã hội
Mục đích, nội dung của GDDS là sự thể hiện hành vi có ý thức của con người
khi xác lập, thực hiện giao dịch và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Do vậy nó là
điều kiện cần và đủ của mọi GDDS hợp pháp.
GDDS vô hiệu khi:
8
Thứ nhất, mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm
1
hoặc đối
tượng là tài sản bị nhà nước cấm lưu thông. Ví dụ: kinh doanh vũ khí, chất độc,
chất phóng xạ, ma túy, mại dâm, buôn bán trẻ em, thực vật, động vật hoang dã mà
Việt Nam ký kết hoặc tham gia,…
Thứ hai, nội dung và mục đích của giao dịch trái đạo đức xã hội
2
. Trong dân
gian và luật tục coi một số hành vi như mua bán hàng hóa thiếu số lượng, không
đảm bảo chất lượng, bán ép giá,… là vi phạm đạo đức; hoặc có thể là trường hợp
lừa dối cha mẹ để chiếm đoạt tài sản của cha mẹ.
So với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đã quy định một cách rõ ràng, cụ thể
hơn về quy định GDDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã
hội. Bằng chứng là khoản 1 Điều 137 BLDS năm 1995 chỉ dừng lại ở việc nêu điều
kiện GDDS vô hiệu mà không nói rõ về vấn đề thế nào là Điều cấm của pháp luật?
Thế nào là đạo đức xã hội? Bên cạnh đó Điều này chỉ đề cập đến nội dung của giao
dịch vi phạm điều cấm của pháp luật , trái đạo đức xã hội thì giao dịch vô hiệu chứ
mục đích của giao dịch thì không bị giới hạn gì. Như vậy, về cơ bản BLDS năm
2005 có những điểm điểm tiến bộ rõ rệt, quy định chi tiết và chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên trên thực tế, để xác định được mục đích của các chủ thể trong giao
dịch không đơn giản bởi lẽ nhiều khi biểu hiện bên ngoài của các chủ thể không
phù hợp với ý chí bên trong của các chủ thể, vì bị tác động bởi các yếu tố khách
quan. Bên cạnh đó, việc xác định được nội dung và mục đích của giao dịch trái đạo
đức xã hội cũng gặp rất nhiều khó khăn, cơ bản là vì khái niệm đạo đức trong giao
lưu dân sự rất trừu tượng và là một phạm trù có tính chất co giãn, khó xác định nội
hàm cụ thể. Giải quyết vấn đề này, BLDS nước ta cần đề cập một cách cụ thể, chi
tiết về nội hàm của khái nhiệm đạo đức, bên cạnh đó cần xác định rõ các trường
hợp mà nội dung và mục đích của giao dịch được coi là vi phạm điều cấm của pháp
luật và trái đạo đức xã hội.
2. GDDS vô hiệu do giả tạo.
Theo quy định của pháp luật: “Khi các bên xác lập GDDS một cách giả tạo
nhằm che dấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao dịch che
dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ
luật này.” (Điều 129, BLDS 2005).
Như vậy việc xác lập giao dịch là nhằm che dấu một mục đích khác của các chủ
thể tham gia giao dịch; các bên tham gia giao dịch không có ý định tạo lập quyền,
1
Điều cấm: Những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định (BLDS năm
2005)
2
Đạo đức xã hội: Những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng
thừa nhận và tôn trọng (BLDS năm 2005).
9
nghĩa vụ pháp lý qua giao dịch này; giao dịch được xác định với mục đích nhằm
trốn tránh nghĩa vụ đối với người khác hay đối với xã hội hoặc để che dấu một
hành vi nào đó, có thể là hành vi bất hợp pháp và trong giao dịch này, ý chí giả tạo
tồn tại ở các chủ thể, tức là có sự thông đồng trước khi xác lập giao dịch giả tạo.
Ví dụ: Xác lập hợp đồng tặng cho để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, xác lập hợp
đồng gửi giữ để che dấu hợp đồng mua bán nhằm trốn tránh nghĩa vụ với nhà
nước,…
Vấn đề đặt ra hiện nay là làm cách nào để xác định giao dịch đó là giả tạo trong
khi nó được xác lập trên cở sở sự thống nhất và bày tỏ ý chí của hai bên chủ thể.
Dấu hiệu của giao dịch giả tạo lại quá chung chung, rất khó để nhận biết được. Mặt
khác pháp luật Việt Nam cũng chưa có các quy định cụ thể về việc này. Để khắc
phục hạn chế này, thiết nghĩ các quy định của pháp luật dân sự cần quy định rõ căn
cứ cụ thể để xác định một giao dịch giả tạo, tránh việc quy định chung chung vì sẽ
gây khó khăn cho Tòa án trong việc tuyên bố giao dịch vô hiệu do giả tạo.
3. GDDS vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.
Điều 130 BLDS năm 2005 quy định: “Khi GDDS do người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người
người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy
định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện”.
3
GDDS là một hình thức cụ thể thể hiện ý chí chủ thể được quy phạm pháp luật
dân sự điều chỉnh. Do vậy, muốn quan hệ pháp luật dân sự đó được xác lập, thi
hành và công nhận thì phải thông qua hành vi dân sự và hành vi đó phải do người
có đủ năng lực hành vi dân sự thực hiện. Người không có năng lực hành vi dân sự
hoặc năng lực hành vi không đầy đủ không có đủ điều kiện để thể hiện tự do ý chí.
Vì vậy giao dịch của họ phải được xác lập, thực hiện dưới sự kiểm soát của người
khác hoặc do người khác xác lập, thực hiện. Tuy nhiên giao dịch do người này xác
lập không mặc nhiên vô hiệu mà phải có yêu cầu của những người đại diện cho họ.
Ví dụ: Các trường hợp giao dịch vô hiệu: Người tham gia giao dịch là người
nghiện ma túy, mắc bệnh tâm thần,…
Thực tế việc tuyên bố GDDS vô hiệu tại Toà án cho thấy: hiện nay, việc phân
biệt, tách bạch được những giao dịch mà người chưa đủ năng lực hành vi dân sự
được xác lập với những giao dịch mà họ không được xác lập là vô cùng khó, một
mặt là do các quan hệ xã hội rất phức tạp, bên cạnh đó còn do những quy định của
3
Về cơ bản quy định tại Điều này không có gì khác so với quy định tại Điều 140 BLDS năm 1995.
10
pháp luật chưa thực sự cụ thể, các quy định của luật dân sự chưa kịp thời trong việc
điều chỉnh các quan hệ xã hội, đặc biệt là những quan hệ mới phát sinh. Chính vì
vậy, có rất nhiều trường hợp Tòa án vẫn không thể tuyên bố GDDS mặc dù giao
dịch đó được xác lập bởi người chưa thành niên. Khắc phục hạn chế này của BLDS
năm 2005, thiết nghĩ các nhà làm luật Việt Nam cần quy định cụ thể những trường
hợp nào những người chưa thành niên được thiết lập GDDS, tránh sự nhầm lẫn
trong việc tuyên bố GDDS vô hiệu.
4. GDDS vô hiệu do bị nhầm lẫn.
Điều 131 BLDS quy định:
“Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của GDDS mà
xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung
của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu
cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu”.
Ví dụ: Khi ký kết hợp đồng mua bán chén, ông A là người miền bắc (bên bán),
ông B là người miền nam (bên mua), khi hợp đồng được ký kết, ông A giao hàng
thì lúc đó hai bên đã phát hiện ra sự nhầm lẫn do sử dụng từ địa phương, hợp đồng
bị tuyên bố vô hiệu nếu một trong hai bên có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp
đồng vô hiệu.
Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của
giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại điều 132 của Bộ luật này.
Như vậy, BLDS năm 2005 không đưa ra khái niệm về nhầm lẫn nhưng lại khẳng
định nhầm lẫn về nội dung chủ yếu là yếu tố có thể đưa đến giao dịch vô hiệu.
Chính điều này đã gây ra không ít khó khăn cho Tòa án trong việc tuyên bố GDDS
vô hiệu do nhầm lẫn.
Bên cạnh đó, căn cứ vào nội dung Điều 131 và thực tiễn, chúng ta có thể thấy
không phải bất cứ một nhầm lẫn nào đều dẫn đến việc hủy bỏ giao dịch. Một giao
dịch được coi là nhầm lẫn và hủy bỏ khi: Sự nhầm lẫn một bên phải do bên kia gây
ra do vô tình, bất cẩn, trình bày sai hoặc bên kia phải biết nhưng im lặng để mặc
cho bên đối phương bị nhầm lẫn hoặc có trường hợp thứ hai xảy ra là cả hai bên
đều cùng nhầm lẫn, thì sự nhầm lẫn này chỉ liên quan đến sự việc vào thời điểm xác
lập giao dịch. Tuy nhiên BLDS của nước ta không quy định về sự nhầm lẫn do cả
hai bên nên trong thực tế áp dụng còn nhiều bất cập. Theo ý kiến của em thì nên bổ
sung quy định về trường hợp giao dịch do cả hai bên đều nhầm lẫn thì có bị vô hiệu
hay không?
11
Việc xác định yếu tố nhầm lẫn để hủy bỏ một GDDS là một vấn đề rất phức tạp
trong thực tiễn giải quyết tranh chấp. Vấn đề xác định người có bị nhầm lẫn hay
không phải dựa vào việc xác định thông tin đưa đến có sai hay không, hoặc một số
nhân tố khác có khả năng gây nhầm lẫn như: điều kiện, hoàn cảnh, trình độ hiểu
biết, cách diễn đạt khi soạn thảo văn bản giao kết, do sự khác biệt nhau về ngôn
ngữ,…thậm trí một số trường hợp còn xuất phát từ tâm lý của các chủ thể vào thời
điểm tham gia giao dịch dẫn đến sự nhầm lẫn. Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại
Tòa án chỉ cho chúng ta thấy: Việc chứng minh tại thời điểm xác lập một bên bị
nhầm lẫn là không hề đơn giản, chính vì vậy, đã có rất nhiều trường hợp Tòa án
không thể tuyên bố giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn bởi bên yêu cầu không chứng
minh được sự nhầm lẫn của mình tạo thời điểm xác lập giao dịch.
5. GDDS vô hiệu do bị lừa dối.
Lừa dối trong GDDS “là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm
làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất đối tượng hoặc nội dung của giao
dịch nên đã xác lập giao dịch đó” (điều 132 BLDS). Như vậy, lừa dối có tính chất
quyết định đến một giao dịch, là yếu tố có thể đưa đến vô hiệu của giao dịch đó.
Tính chất quyết định làm cho GDDS vô hiệu thể hiện ở chỗ nếu không dùng các
mánh khóe làm cho đối phương hiểu sai về sự việc sẽ không xác lập giao dịch lừa
dối này, bên kia cố ý làm cho đối phương tham gia vào giao dịch để đạt một lợi ích
nào đó. Ví dụ: Hai bên A, B tham giao ký kết hợp đồng mua vật liệu xây dựng, bên
bán (bên A) cam kết với bên B là vật liệu đáp ứng mọi yêu cầu về kĩ thuật, đảm bảo
chất lượng tốt. Nhưng sau khi ký kết xong hợp đồng, bên B chở vật liệu xây dựng
về thì phát hiện vật liệu rất kém chất lượng, không đúng với cam kết nên bên A đã
kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Về mặt khách quan thì lừa dối và nhầm lẫn đều có dấu hiệu là người tham gia
giao dịch hiểu sai về nội dung của sự việc. Tuy nhiên lừa dối là hậu quả của việc cố
ý đưa thông tin sai, xuyên tạc thông tin của bên kia, tức là có sự chủ định của một
bên. Còn nhầm lẫn là hậu quả nhận thức sai của bản thân người bị nhầm lẫn do
thiếu những kiến thức hoặc điều kiện nhất định. Nhầm lẫn có thể xảy ra đối với cả
hai bên tham gia giao dịch còn lừa dối chỉ xảy ra với một bên, trong trường hợp
nhiều người cùng tham gia hoặc thông qua một người khác để lừa dối đối phương
thì những người này gọi là đồng lõa lừa dối. Việc một bên tạo lập cho bên kia một
sự nhầm lẫn hoặc lạm dụng sự nhầm lẫn đã tồn tại ở bên kia để đưa đến việc xác
lập giao dịch sẽ được coi là lừa dối. Nhầm lẫn hay lừa dối đều đưa đến hậu quả là
12
hợp đồng có thể bị vô hiệu do thỏa thuận không thể hiện đúng ý chí thực của các
bên.
6. GDDS vô hiệu do đe dọa.
“ Đe dọa trong GDDS được hiểu là hành vi cố ý của một bên làm cho bên kia
hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt
hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của
cha, mẹ, vợ, chồng, con mình.” (Điều 132 BLDS). Như vậy chúng ta có thể hiểu đe
dọa trong GDDS là hành vi cố ý của một bên làm cho bên kia buộc phải thực hiện
giao dịch ngoài ý muốn của họ.
Để xem xét một GDDS vô hiệu do đe dọa cần xác định hành vi mà đối phương
gây nên cho họ có phải là hành vi cố ý hay không và xem xét hành vi đe dọa của
một bên có đủ khả năng làm cho đối phương buộc phải thực hiện giao dịch để tránh
gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho chính họ hoặc cho những người thân thích
của họ. Nếu sự đe dọa mà không nhằm mục đích xâm hại đến lợi ích của người bị
đe dọa hoặc người thân của họ thì không thể coi là căn cứ để tuyên bố giao dịch vô
hiệu do bị đe dọa được.
Ví dụ: Công ty B muốn mua mảnh đất của gia đình ông N để xây dựng nhà máy
nhưng ông N không đồng ý, công ty A đe dọa nếu không ký hợp đồng thì tính
mạng của ông sẽ không được đảm bảo, nếu ông A có đơn yêu cầu gửi đến Tòa án
đòi tuyên bố hợp đồng vô hiệu do đe dọa và chứng minh được sự đe dọa của công
ty A thì hợp đồng sẽ được tuyên bố là vô hiệu
Thực tế cho thấy việc chứng minh có sự đe dọa trong giao kết hợp đồng là một
vấn đề nan giải, nguyên nhân là do sự đe dọa thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau,
người bị đe dọa tham gia giao dịch rất khó để chứng minh việc mình bị đe dọa
tham gia giao dịch này, bên cạnh đó những quy định của pháp luật về vấn đề này
chưa thực sự cụ thể. Bất cập này tồn tại đòi hỏi cần phải bổ sung quy định này về
dấu hiệu của một giao dịch vô hiệu do đe dọa, quy định này phải được Tòa án áp
dụng một cách linh hoạt để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
tham gia xác lập giao dịch.
7. GDDS vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành
vi của mình.
Theo pháp luật dân sự: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập
giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố GDDS đó là vô hiệu” (Điều 133 BLDS 2005).
13
Trường hợp này chỉ áp dụng cho những người có năng lực hành vi dân sự. Tại
thời điểm giao kết người đó bị rơi vào tình trạng không nhận thức và làm chủ được
hành vi của mình (say rượu, bị thôi miên, ) thì sau đó chính người đó có quyền yêu
cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Việc phân định trách nhiệm bồi thường thiệt
hại phụ thuộc vào lỗi của các bên tham gia giao dịch.
Hiện nay, việc Tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu trong trường hợp này còn nhiều
bất cập, bởi lẽ việc xác định và chứng minh tình trạng của chủ thể khi tham gia
giao dịch là rất khó. Vì vậy vẫn còn nhiều giao dịch người xác lập không nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình tham gia nhưng Tòa án không thể tuyên bố vô
hiệu vì khó xác minh tình trạng của chủ thể lúc đó. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm
thế nào để bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi của người tham gia xác lập giao dịch
trong lúc không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình, muốn làm được điều
này thì Điều 133 nên bổ sung thêm các cơ sở, căn cứ cụ thể chứng minh trạng thái
của chủ thể trong thời điểm tham gia xác lập giao dịch.
8. GDDS vô hiệu do không tuân thủ về hình thức.
Hình thức theo nghĩa thông thường “là toàn thể nói chung những gì làm thành bề
mặt ngoài của sự vật, cái chứa đựng biểu hiện nội dung”. Đặc điểm chung của
GDDS là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia vào gia vào
giao dịch. Sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí phải được thể hiện dưới một hình
thức nhất định phù hợp với ý chí đích thực của các bên như: bằng lời nói, bằng văn
bản hoặc hành vi được ghi nhận dưới những dạng nhất định để biểu lộ sự tồn tại
của GDDS. Thông qua hình thức đó, mọi người thấy được các bên tham gia cam
kết, thỏa thuận cái gì.
Điều 134 BLDS quy định “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao
dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì
yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác
quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một
thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”.
Trong GDDS, đòi hỏi các bên phải tuân theo đúng hình thức mà pháp luật quy
định cho loại giao dịch đó vô hiệu. Trong trường hợp pháp luật không quy định thì
các bên có thể tùy nghi lựa chọn. Tuy nhiên không phải tất cả các loại GDDS mà
pháp luật đều quy định cho các bên tham gia giao dịch có thể lựa chọn bất cứ hình
thức thể hiện nào. Bởi lẽ khách thể của GDDS rất phong phú và đa dạng, mỗi
khách thể có đặc trưng và công dụng khác nhau. Để đảm bảo an toàn pháp lý trong
giao dịch cũng như bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích công cộng, có những giao
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét