ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả.
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên khám, điều trị tại khoa Khám bệnh-cấp cứu và
khoa Nội tổng hợp, trung tâm Y tế huyện Xuyên Mộc.
Cỡ mẫu
Được tính theo công thức
Với: Z = 1,96 (độ tin cậy 95%)
P = 0,23 (tỉ lệ BN có các hành vi nguy cơ phối hợp là 23%, theo điều tra của
Viện Tim mạch Việt Nam tại các tỉnh miền Bắc năm 2001-2002).
d = 0,05 (độ chính xác 5%)
Vậy: n = 272, làm tròn bằng 300.
Kỹ thuật chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu không xác suất theo thứ tự BN được chẩn
đoán THA từ BN thứ nhất cho đến khi đủ số BN theo cỡ mẫu.
Tiêu chí chọn mẫu
* Tiêu chí đưa vào: BN hội đủ các tiêu chí sau:
- Được chẩn đoán THA theo cách đo sau:
+ Nghỉ 5 phút trước khi đo, ngồi trên ghế tựa, bàn chân đặt trên nền nhà, cổ
tay để ngang mức tim.
+ Đo hai lần liền, sau đó lấy trị số trung bình cộng của 2 lần đo.
- Tuổi: 18 trở lên.
- Đồng ý trả lời phỏng vấn.
* Tiêu chí loại ra:
- BN không đồng ý trả lời phỏng vấn.
- Có rối loạn tâm thần hoặc câm điếc.
- Có biến chứng như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.
- Có bệnh lý khác kèm theo: đái tháo đường, bệnh nội tiết khác.
Kiểm soát sai lệch chọn lựa: dựa vào tiêu chí chọn mẫu.
Thu thập dữ kiện
Phương pháp thu thập dữ kiện
Đo huyết áp BN để chọn vào mẫu và tiến hành phỏng vấn. Nếu BN được kê
đơn điều trị ngoại trú sẽ được phỏng vấn tại phòng truyền thông-giáo dục
sức khỏe của khoa Khám bệnh-cấp cứu, nếu BN được nhập viện điều trị nội
trú sẽ được phỏng vấn tại khoa Nội tổng hợp.
Công cụ thu thập dữ kiện:
Huyếp áp kế và Bộ câu hỏi phỏng vấn.
Kiểm soát sai lệch thông tin
* Định nghĩa rõ các biến số.
* Chọn điều tra viên là điều dưỡng trung cấp nhiệt tình, trung thực, có
kỹ năng giao
tiếp tốt.
* Tập huấn điều tra viên để thống nhất về cách đo huyết áp, cách
phỏng vấn và ghi chép bảng câu hỏi.
* Điều tra thử để đánh giá tính đồng bộ của các điều tra viên và hiệu
chỉnh bộ câu hỏi.
* Giám sát thường xuyên việc thu thập số liệu của các điều tra viên.
KẾT QUẢ
Qua thăm khám và phỏng vấn 300 BN đến khám và điều trị tại khoa Khám
bệnh-Cấp cứu và Nội tổng hợp thuộc trung tâm Y tế huyện Xuyên mộc trong
thời gian từ 01/04/2009 đến 30/6/2009, chúng tôi ghi nhận được các kết quả
như sau:
Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu:
Tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đều có BN THA, trong đó, một số
địa phương có tỉ lệ BN đến khám nhiều hơn địa phương khác, như: thị trấn
Phước Bửu (29%), xã Xuyên Mộc (16%), xã Phước Tân (16%). Trong mẫu
nghiên cứu, BN nam nhiều hơn nữ. Không có BN ở nhóm tuổi 18-24 và 25-
34, trong các nhóm tuổi còn lại, bệnh nhân ở nhóm tuổi trên 64 chiếm nhiều
nhất (56%). Đa số bệnh nhân (89%) có chỉ số BMI < 25, không có bệnh
nhân có BMI > 30. Bệnh nhân THA giai đoạn 2 nhiều hơn giai đoạn 1. Bệnh
nhân đang có vợ, chồng chiếm tỉ lệ 66,7%, độc thân và ly dị chiếm tỉ lệ thấp
(2%). Có 63,3% bệnh nhân có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống.
BN là người hưu trí chiếm 33%, nghề khác 23%, nông dân 20%, công chức-
viên chức 11%, ngư dân chiếm tỉ lệ thấp nhất (2%). Hầu hết BN (97%) có
thu nhập gia đình/tháng dưới 5.000.000 đồng.
Các hành vi nguy cơ của bệnh nhân THA:
Bảng 1: Tần số và tỉ lệ BN phân bố theo hành vi nguy cơ gây bệnh cao huyết
áp
Hành vi nguy cơ
Tần Tỉ lệ
số (%)
Có 106 35
Hút
thuốc lá
Không 194 65
Có 165 55
Uống
rượu bia
Không 135 45
Có 243 81
Ăn mặn
Không 57 19
Có 44 15 Ăn
nhiều
dầu, mỡ
Không 256 85
Có 119 40 Hoạt
động thể
lực
Không 181 60
Bảng 2: Tần số và tỉ lệ BN phân bố theo mức độ các hành vi nguy cơ gây
bệnh cao huyết áp
Mức độ các hành vi Tần Tỉ lệ
nguy cơ số (%)
Hút ít 21 20
Hút vừa 64 60
Hút
thuốc lá
Hút nhiều 21 20
Uống ít 102 62
Uống vừa 54 33
Uống
rượu bia
Uống nhiều 9 5
Ít 26 9
Vừa 230 77
Ăn dầu,
mỡ
Nhiều 44 14
Không 130 43
Ít 51 17
Hoạt
động
thể lực
Thường xuyên 119 40
Liên quan giữa hành vi nguy cơ và đặc tính của bệnh nhân
Về giới tính, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ hút thuốc lá ở nam
(93%) và tỉ lệ hút thuốc lá ở nữ (7%) với p < 0,001. Nam hút thuốc lá nhiều
hơn 7,5 lần so với nữ với PR = 7,47 (KTC 95% 4,36-11,52). Bên cạnh đó, về
yếu tố nghề nghiệp, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ hút thuốc
lá ở nhóm bệnh nhân có nghề nghiệp là nội trợ (65%) so với nhóm công
chức-viên chức (39%) với p = 0,013. Nhóm nội trợ hút thuốc lá gấp 5 lần so
với nhóm công chức-viên chức với PR = 5,06 (KTC 95% 1,78-12,01). Các
yếu tố còn lại không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3: Liên quan giữa uống rượu/bia và đặc tính bệnh nhân.
Uống
rượu/bia
Đặc tính
Có
n (%)
Không
n (%)
P PR (KTC
95%)
Giới tính
Nữ
12 (9)
120
(91)
Nam
153
(91)
15 (9)
<
0,001
8,34
(5,17-
13,47)
Học vấn
Chưa
xong tiểu
học
5 (28)
13
(72)
1
Tiểu học
14
(31)
31
(69)
0,795
1,17
(0,35-3,93)
Trung học
cơ sở
67
(53)
60
(47)
0,055
2,90
(0,97-8,62)
Phổ thông
trung học
58
(70)
25
(30)
0,002
6,03
(1,94-
18,73)
Đại học,
cao đẳng,
THCN
21
(78)
6 (22) 0,002
9,10
(2,30-
35,94)
Nghề
nghiệp
CC-VC 21
(64)
12
(36)
1
Công
nhân
10
(63)
6 (37) 0,938
0,95
(0,27-3,27)
Nông dân
41
(69)
18
(31)
0,566
1,30
(0,53-3,20)
Ngư dân
3 (50) 3 (50) 0,531
0,57
(0,10-3,29)
Nội trợ
2 (12)
15
(88)
0,002
0,07
(0,01-0,39)
Nghề
khác
24
(35)
45
(65)
0,007
0,30
(0,12-0,72)
Hưu trí
64
(64)
36
(36)
0,970
1,01
(0,44-2,30)
Bảng 4: Liên quan giữa ăn mặn và đặc tính BN.
Đặc tính An mặn P PR (KTC
95%)
Có
n (%)
Không
n (%)
Học vấn
Chưa xong
tiểu học
4 (22)
14
(78)
1
Tiểu học
34
(76)
11
(24)
<
0,001
10,81
(2,94-
39,80)
Trung học
cơ sở
106
(83)
21
(17)
<
0,001
17,66
(5,29-
58,99)
Phổ thông
trung học
75
(90)
8 (10)
<
0,001
32,81
(8,68-
123,93)
Đại học,
cao đẳng,
THCN
24
(89)
3 (11)
<
0,001
28,00
(5,45-
143,71)
Bảng 5: Liên quan giữa ăn nhiều dầu mỡ và đặc tính bệnh nhân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét