Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Lý luận chung về công ty cổ phần và thị trường chứng khoán. ý nghĩa sự vận dụng này ở nước ta .

2. Thị trờng chứng khoán
Thị trrờng chứng khoán là một thị trờng mà nơi đó ngời ta mua bán ,
chuyển nhợng , trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời . Tuy nhiên , đó có
thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung . Tính tập trung ở đây là muốn nói đến
việc các giao dịch đợc tổ chức tại một địa điểm cụ thể .
Hình thái điển hình của TTCK tâp trung là Sở giao dịch chứng khoán
( Stock exchange ) . Tại Sở giao dịch chứng khoán , các giao dịch đợc tập trung
tại một địa điểm ; các lệnh đợc chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình
ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch .
TTCK phi tập trung còn gọi là thị trờng OTC ( over the counter ) . Trên thị
trờng OTC , các giao dịch đợc tiến hành qua mạng lới các công ty chứng khoán
phân tán trên khắp quốc gia và đợc nối với nhau bằng mạng điện tử . Giá trên thị
trờng này đợc hình thành theo phơng thức thỏa thuận .
Ưu điểm và cũng là chức năng của thị trờng chứng khoán gồm có một số
nội dung chính sau đây :
a . Huy động vốn đầu t cho nền kinh tế : Khi các nhà đầu t mua chứng khoán
do các doanh nghiệp phát hành , số tiền nhàn rỗi của họ đợc đa vào hoạt động sản
xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội . Thông qua TTCK ,
chính phủ và chính quyền ở địa phơng cũng huy động đợc các nguồn vốn cho
mục đích sử dụng và đầu t phát triển hạ tầng kinh tế , phục vụ các nhu cầu chung
của xã hội .
b. Cung cấp môi trờng đầu t cho công chúng : TTCK cung cấp cho công chúng
một môi trờng đầu t lành mạnh với những cơ hội lựa chọn phong phú . Các loại
chứng khoán trên thị trờng rất khác nhau về tính chất , thời hạn và độ rủi ro , cho
phép các nhà đầu t có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng , mục tiêu
và sở thích của mình .
c. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán : Nhờ có TTCK các nhà đầu t có
thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc thành các loại
chứng khoán khác khi họ muốn . Khả năng thanh khoản là một trong những đặc
tính hấp dẫn của chứng khoán đối với các nhà đầu t . Đây là yếu tố cho thấy tính
linh hoạt , an toàn của vốn đầu t . TTCk hoạt động càng năng động và có hiệu quả
thì tính thanh khoản của chứng khoán giao dịch trên thị trờng càng cao .
5
d . Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp : Thông qua chứng khoán , hoạt động
của các doanh nghiệp đợc phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho
việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp đợc nhanh chóng và thuận
tiện , từ đó cũng tạo ra một môi trờng lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn , kích thích áp dụng công nghệ mới , cải tiên sản phẩm .
e . Tạo môi trờng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô : Các
chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và
chính xác ,. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu t đang mở rộng , nền kinh
tế tăng trởng ; ngợc lại giá chứng khoán giảm cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của
nền kinh tế . Vì thế , TTCK đợc gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là công
cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô . Thông qua
TTCK , Chính phủ có thể mua bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù
đắp thâm hụt ngân sách và quản lí lạm phát . Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử
dụng một số chính sách , biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hớng đầu t
đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế .
Về mặt nhợc điểm , có thể nói TTCK chẳng khác gì một con dao hai lỡi ,
nếu biết cách quản lí TTCK một cách hiệu quả thì nó sẽ phát huy đợc hết những
chức năng cần thiết của mình cho nền kinh tế , ngợc lại TTCk cũng có thể gây ra
những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế một trong số những hậu quả đó chính
là lam phát . Chúng ta hãy cùng suy ngẫm một chút về chuyện làm giá và lợi
nhuận giữa tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC và những nhà đầu t , những doanh
nghiệp lớn có cổ phiếu niêm yết trên TTCK Việt Nam .
OPEC đợc thành lập từ năm 1960 bởi Iran , Iraq , A Rập Saudi và Vênzuela
. Hiện tại tổ chức này còn có thêm 9 quốc gia nữa để tạo thành một liên minh độc
quyền ( đợc phơng Tây gọi là Cartel ) đóng vai trò quan trọng trong việc quyết
định giá dầu thô trên thế giới . Về một khía cạnh nào đó , nhiều nhà kinh tế học ví
vai trò của OPEC là định ra giá cả trong khi đa phần Chính phủ và ngời dân các
quốc gia còn lại là ngời chấp nhận giá trên thị trờng dầu . Và vì thế , có ngời ví
von rằng OPEC đã bằng nhiều cách rút bớt sự giàu có của các nớc phát triển ( và
cả đang phát triển ) về cho mình . Lợi nhuận từ dầu hỏa của OPEC trong thời gian
gần đây đã đợc một số nhà phân tích hé lộ : nếu nh giá dầu cứ giữ mức trên 100
đô la Mỹ/thùng thì chỉ trong sáu ngày OPEC sẽ kiếm đủ tiền để mua lại tập đoàn
General Motors khổng lồ của Mỹ , và chỉ trong ba năm sẽ đủ tiền để mua 20% cổ
phần của tất cả các công ty nằm trong danh sách S&P 500 . Theo cơ quan năng l-
ợng Mỹ , các nớc OPEC kiếm đợc doanh số khoảng 675 tỷ đô la Mỹ trong năm
2007 và dự kiến khoảng 863 tỷ đô la Mỹ trong năm 2008 (với những gì thực tế
đang diễn ra có lẽ con số này sẽ còn cao hơn rất nhiều) , một khoản doanh thu
tăng lên quá lớn trong khi cả thế giới đang phải đơng đầu với đói nghèo , lạm phát
và khủng hoảng tài chính . Thậm chí một số phân tích còn chỉ trích là ngay cả
6
trong tròng hợp giá dầu chỉ còn 50 đô la Mỹ một thùng thì các nớc này vẫn kiếm
đợc rất nhiều tiền . Trong thời gian gần đây , mặc các nỗ lực của Mỹ , các nớc
OPEC vẫn không có ý định gia tăng sản lợng dầu cho dù giá dầu vẫn đang ở mức
cao , và nhiều lãnh đạo OPEC còn tuyên bố cho rằng họ hoàn toàn có khả năng
kiểm soát sao cho giá dầu ở trên 80 đô la Mỹ /thùng .Đây dờng nh là một gáo nớc
lạnh dội vào lời kêu gọi của nhiều ngời dân đối với các công ty xăng dầu lớn là
trong khi chúng tôi đang cố gắng cắt giảm nhu cầu sử dụng của mình và sống khó
khăn hơn , các anh không thể cắt giảm lợi nhuận đợc chút nào hay sao ? .
Những lời kêu gọi kiểu này phát đi trên khá nhiều phơng tiện truyền thông của
các nớc phơng Tây và nhằm vào các tập đoàn xăng dầu lớn . Nhng dờng nh đã bỏ
quên vai trò của ngời đứng đằng sau tấm màn giá xăng dầu cao : tổ chức độc
quyền định giá OPEC , ngời cố tình điều khiển giá xăng dầu theo mong muốn của
mình để thu lợi nhuận cao cho cả một khu vực sản xuất xăng dầu .
Trở lại với TTCK Việt Nam , hãy thử hình dung nếu nh xuất hiện một tổ
chức những nhà đầu t sở hữu sở hữu cổ phiếu lớn kết hợp với các doanh nghiệp có
tiếng nói quyết định trên thị trờng , thì TTCK Việt Nam sẽ chỉ còn nằm trong tay
một số cá nhân , tính năng động ở thị trờng thứ cấp sẽ không còn nữa. ở nớc ta
hiện nay cha có một liên minh nào thực sự chi phối thị trờng chứng khoán , nhng
dáng dấp liên minh độc quyền quyết định giá cả kinh điển của kinh tế học đang
xuất hiện . Nó giống nh giai đoạn đầu của OPEC , các thành viên không tuân thủ
thỏa thuận và sức mạnh của khối không đủ lớn để chống lại áp lực từ chính phủ
nên liên minh này không mấy thành công .
Vậy không chỉ đa ra những phơng hớng để phát triển và ổn định thị trờng Chính
phủ cũng cần có những điều luật cụ thể trong từng thời điểm , từng giai đoạn để
giữ cho thị trờng minh bạch , trong sáng , không để bất cứ một tổ chức nào , một
nhóm ngời nào chi phối đến sự vận động của TTCK .
II . Vai trò công ty cổ phần và thị trờng chứng khoán trong nền
kinh tế Việt Nam hiện nay
1 . Vai trò của công ty cổ phần và mục tiêu của việc cổ phần hoá
doanh nghiệp
a . Vai trò của công ty cổ phần
Công ty cổ phần -một tổ chức kinh doanh có t cách pháp nhân và các cổ
đông chỉ có trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình.Điều này cho
phép công ty có t cách pháp lý đầy đủ để huy động những lợng vốn lớn nằm rải
rác thuộc nhiều cá nhân trong xã hội.
Cơ cấu tổ chức trong công ty cổ phần đã thực hiện đợc việc tách biệt quyền
sở hữu và quyền kinh doanh,tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu của một bên
là đông đảo công chúng mua cổ phần còn bên kia là đội ngũ các nhà quản trị kinh
7
doanh chuyên nghiệp sử dụng t bản xã hội cho những công cuộc kinh doanh quy
mô lớn.
Các cổ phiếu và trái phiếu của công ty cổ phần đợc chuyển nhợng dễ dàng
trên thị trờng chứng khoán,vì thế bất kể cổ phiếu đợc chuyển chủ bao nhiêu lần
cuộc sống của các doanh nghiệp vẫn tiếp tục một cách bình thờng mà không bị
ảnh hởng.Đồng thời nhờ cơ chế này nó đã tạo nên sự di chuyển linh hoạt các
luồng vốn trong xã hội theo các nhu cầu và cơ hội đầu t đa dạng của các công ty
và công chúng.
Hơn nữa , công ty cổ phần huy động đợc nguồn vốn trong xã hội cung
cấp cho hoạt động kinh doanh và đầu t phát triển của doanh nghiệp . Một mặt vừa
góp phần tháo gỡ khó khăn cho ngân sách nhà nớc (không phải chu cấp cho
doanh nghiệp) mặt khác vốn và tài sản doanh nghiệp nhà nớc nhờ quá trình cổ
phần hoá thu lại sẽ đợc đầu t mở rộng sản xuất;tăng thêm tài sản cố định góp phần
to lớn thúc đẩy kinh tế tăng trởng.
Ngoài ra , hình thái công ty cổ phần xuất hiện sẽ thay đổi cung cách quản lý
trong mỗi doanh nghiệp , ở công ty cổ phần quyền lợi của những ngời chủ mới
của doanh nghiệp gắn chặt với sự thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh vì
thế họ rất đoàn kết,gắn bó và thống nhất trong việc tìm kiếm và đa ra phơng hớng
hoạt động phù hợp nhất của doanh ngiệp nhằm củng cố , tăng cờng sức cạnh tranh
của sản phẩm do họ sản xuất ra , quan tâm đến công việc công ty và lao động với
tinh thần trách nhiệm cao.
b . Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp
Việt Nam là một nớc đợc xếp hạng có mức thu nhập khá thấp so với các n-
ớc trong khu vực và trên thế giới . Nguyên nhân của tình trạng này là do khu vực
kinh tế quốc doanh vẫn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh hiện nay . Những doanh nghiệp này mặc dù đợc Nhà nớc đầu
t một lợng vốn khá lớn . Song do cơ chế quản lí cứng nhắc , thiếu năng động , tính
canh tranh thấp , đầu t dàn trải , công tác quản lí còn kém , một bộ phận không
nhỏ cán bộ quản lí có trình độ chuyên môn thấp , cha đáp ứng đợc yêu cầu của
nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa , dẫn đến hiệu quả kinh
doanh thấp , hiện tợng lãi giả , lỗ thật vẫn còn xảy ra ở một số doanh nghiệp quốc
doanh . Vậy để có một nền kinh tế phát triển , đủ sức cạnh tranh trong khu vực và
quốc tế , thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải thực hiện tốt các vấn đề cổ phần
hóa doanh nghiệp Nhà nớc , có nh vậy mới góp phần nâng cao hiệu quả kinh
doanh , tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp , tạo ra loại hình doanh nghiệp có
nhiều chủ sở hữu , trong đó có đông đảo ngời lao động , tạo động lực mạnh mẽ và
cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp , để sử dụng có hiệu quả vốn , tài sản
cảu nhà nớc và của doanh nghiệp . Mặt khác thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp
Nhà nớc sẽ góp phần huy động một lợng vốn lớn của toàn thể xã hội , bao gồm cá
8
nhân và các tổ chức kinh tế , tổ chức xã hội trong và ngoài nớc để đầu t đổi mới
công nghệ , phát triển doanh nghiệp , thực sự phát huy vai trò làm chủ của ngời
lao động , của các cổ đông và tăng cờng sự giám sát của nhà đầu t và ngời lao
động , bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà nớc , doanh nghiệp và ngời lao động .
Nghị quyết hội nghị lần 3 Ban chấp hành trung ơng Đảng khóa IX đã chỉ rõ : Cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc không đợc biến thành t nhân hóa doanh nghiệp
nhà nớc . Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc là sự thay đổi về mọi mặt , từ
quyền sở hữu đến quyền năng pháp lí và phơng pháp quản lí điều hành doanh
nghiệp . Khi chuyển sang công ty cổ phần thì bản thân công ty cổ phần có quyền
sở hữu với tài sản . Công ty cổ phần là một pháp nhân đầy đủ , cơ quan quyền lực
cao nhất của công ty cổ phần là Đại hôị đồng cổ đông . Công ty cổ phần hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp , trên công ty cổ phần không có cơ quan chủ quản
nh doanh nghiệp nhà nớc . Song thực trạng hiện nay có sự can thiệp hành chính
của các cơ quan nhà nớc trong vấn đề quản trị công ty cổ phấn sau khi cổ phần
hóa .
2 . Vai trò của thị trờng chứng khoán
Ngoài những chức năng đã trình bày ở phần 2 / I / A , thị trờng chứng
khoán còn có những vai trò hết sức quan trọng . Cụ thể thị trờng chứng khoán là
công cụ khuyến khích dân chúng tiết kiệm và thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi vào
đầu t . Đồng thời TTCK cũng là phơng tiện huy động vốn hết sức dễ dàng và hiệu
quả , bên cạnh đó TTCK cũng góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn hiệu
quả hơn , là công cụ làm giảm áp lực lạm phát , tạo thói quen về đầu t trong đai
bộ phận dân chúng cũng nh trong doanh nghiệp . Ngoài ra TTCK còn là nơi thu
hút các nguồn vốn đầu t từ nớc ngoài .
B . Công ty cổ phần - quá trình hình thành và phát triển , đánh
giá chung về thị trờng chứng khoán Việt Nam
I . Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần
Công ty cổ phần ra đời từ cuối thế kỉ XVI ở các nớc t bản phát triển nh một
nhu cầu khách quan của lịch sử .Trong suốt mấy trăm năm qua các công ty cổ
phần đã chiếm một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế thế giới .
Quá trình lịch sử hình thành và phát triển của hình thức công ty cổ phần trải qua
bốn giai đoạn . Giai đoạn mầm mống : trong giai đoạn này vốn đợc góp theo một
nhóm ngời với hoạt động liên kết lỏng lẻo . Giai đoạn hình thành : đã có sự xuất
hiện của cổ phiếu và sự giao dịch chứng khoán , hoạt động có tổ chức hơn . Giai
đoạn phát triển : các công ty cổ phần đã phổ biến ở các nớc t bản chủ nghĩa với
hình thức đa quốc gia , đã hình thành những trung tâm tài chính quốc tế , giao
dịch chứng khoán sôi động . Giai đoạn trởng thành : là giai đoạn phát triển của
những công ty xuyên quốc gia đa quốc gia , thu hút công nhân mua cổ phiếu , cơ
9
cấu công ty cũng nh pháp luật dần hoàn thiện hơn . Trở lại với Việt Nam , trong
tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp : Hơn 10 năm qua việc cổ phần hóa
doanh nghiệp Nhà nớc đã đợc thực hiện từng bớc vững chắc theo đờng lối nghị
quyết của Đảng . Chính phủ đã cụ thể hóa các chủ trơng của Đảng , ban hành
đồng bộ các văn bản qui định với chính sách khá toàn diện phù hợp , kịp thời giải
quyết các vấn đề đặt ra trong sắp xếp cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc nhất là
việc xử lí nợ tồn đọng , lao động dôi d .
II . Thực trạng trong vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp ở Việt
Nam
Từ năm 2001 đến tháng 6/2005 cả nớc đã sắp xếp lại 2.881 doanh nghiệp Nhà
nớc trong tổng số 5.655 doanh nghiệp Nhà nớc ( có vào đầu năm 2001 ) trong đó
đã cổ phần hóa 1.826 doanh nghiệp Nhà nớc . Đến tháng 6/2005 cả nớc còn 2.983
doanh nghiêph nhà nớc 100% vốn nhà nớc ( trong đó : 2.253 doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh , 440 doanh nghiệp Quốc phòng , An ninh và sản xuất
cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích , 290 doanh nghiệp Nông - Lâm trờng . Về
cơ bản , trong những năm qua , nhiều địa phơng trong cả nớc đã hoàn thành việc
sắp xếp , đổi mới các doanh nghiệp Nhà nớc quy mô nhỏ . Nh Quảng Ninh nay đã
tinh đến chuyện giả thể Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nớc thuộc
UBND tỉnh . Tơng tự với Hải Phòng , việc sắp xếp đã hoàn thành cơ bản . Hiện
chỉ có 12 doanh nghiệp nhà nớc thuộc thành phố này , trong đó có tới bảy doanh
nghiệp là các công ty thủy nông , thực tế chỉ còn lại năm doanh nghiệp Nhà nớc .
Còn với những doanh nghiệp nhà nớc lớn , bớc đầu chúng ta đã khởi động đợc
việc cổ phần hóa một số công ty lớn nh Vinaconex hay Vietcombank . Tiến trình
cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nớc đợc cải thiện từng bớc và ngày càng đợc
đẩy nhanh tiến độ , nhất là hiện nay nớc ta đang đứng trớc nhiều áp lực trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế , do đó Chính phủ luôn quan tâm đến tiến trình
này , nhất là hớng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà n-
ớc . Hơn nữa trớc đây doanh nghiệp nhỏ lẻ , phân tán , còn ngày nay thì rất tập
trung , tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cổ phần hóa . Đợc biết , sẽ có khoảng
80 doanh nghiệp đợc chuyển sang mô hình mẹ-con , sau đó các doanh nghiệp con
sẽ cổ phần hóa trớc khi cổ phần hóa công ty mẹ . Ngoài ra , đối với những tập
đoàn đang đợc xây dựng , thực hiện đa sở hữu nhng nhà nớc cần giữ cổ phần chi
phối . Thực tế , Thủ tớng chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh 104 đề án sắp xếp
doanh nghiệp nhà nớc của các bộ , ngành , địa phơng , Tổng công ty nhà nớc đến
hết năm 2006 .
III . Cái nhìn tổng quát về thị trờng chứng khoán Việt Nam
trong quá trình hội nhập
10
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đa Việt Nam trở thành một
nớc công nghiệp phát triển đòi hỏi trong nớc phải có một nguồn vốn lớn để đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế . Do đó , Việt Nam cần phải có chính
sách huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nớc để chuyển các
nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn đầu t và thị trờng chứng
khoán tất yếu sẽ ra đời vì nó giữ vai trò quan trọng đối với việc huy động vốn
trung và dài hạn cho hoạt động kinh tế.
Nhận thức rõ việc xây dựng thị trờng chứng khoán là một nhiệm vụ chiến l-
ợc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trình xây dựng và phát triển đất n-
ớc , trớc yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế , phù hợp với điều kiện kinh tế
chính trị và xã hội trong nớc và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế , trên cơ sở tham
khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình thị trờng chứng khoán trên thế
giới , thị trờng chứng khoán Việt Nam đã ra đời . Sự ra đời của thị trờng chứng
khoán Việt Nam đợc đánh dấu bằng việc đa vào vận hành Trung tâm giao dịch
chứng khoán TP . Hồ Chí Minh ngày 20/7/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu
tiên vào ngày 28/7/2000 .
Sự ra đời của thị trờng chứng khoán Việt Nam quả là một bớc đột phá trong
lĩnh vực phát triển tài chính . Nhng chúng ta hãy nhìn lại xem , liệu sau một thời
gian đi vào hoạt động TTCK có làm hài lòng các nhà kinh tế , các nhà đầu t ,
Câu trả lời là không , nói một cách thẳng thắn , đến cuối năm 2003 TTCK Việt
Nam vẫn hoạt động một cách cầm chừng . Thật vậy sau 3 năm đi vào hoạt
động , TTCK Việt Nam vẫn cha thực hiện đợc chức năng chính của mình là một
kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế , sàn giao dịch vắng bóng
nhà đầu t , có khi 3,4 ngày liền không tìm thấy sự xuất hiện của một nhà đầu t
nào. Các doanh nghiệp khát vốn chủ yếu vẫn vay ngân hàng và chính phủ phát
hành trái phiếu cho các công trình vẫn phải động viên dân mua . Bên cạnh đó ,
tính thanh khoản trái phiếu qua TTCK còn thấp và đó cũng là lí do mà trái phiếu
trên TTCK cha đem lại sự hấp dẫn cho nhà đầu t , thông tin trên thị trờng thiếu
minh bạch cũng làm các nhà đầu t e ngại . Trong năm 2003 cũng đã có một số
vấn đề liên quan đến tổ chức niêm yết chế độ công bố thông tin , nghĩa vụ công
bố thông tin nh Công ty Canfoco , Bibica gây ra tâm lí hoang mang cho giới đầu
t và gây ảnh hởng đến một số DN khác niêm yết . Tuy vậy số doanh nghiệp này
vẫn cha đợc xử lí một cách thật sự thích đáng , điều này có thể làm tiền lệ cho
những vụ vi phạm tiếp theo và dần đánh mất lòng tin của công chúng . Phần trách
nhiệm ở đây cũng không thể bỏ qua vai trò của các công ty kiểm toán , có thể nói
trong thời gian này , các công ty kiểm toán đã không hoàn thành tốt vai trò của
mình , không thực sự có trách nhiệm trong việc đánh giá hoạt động của các doanh
nghiệp . Trong khi đó , cơ quan quản lí thị trờng chỉ căn cứ vào đánh giá của cơ
quan kiểm toán , không đi sâu vào công tác tài chính và mọi công bố trên thị tr-
ờng đều dựa vào kết quả từ cơ quan kiểm toán công bố cho nhà đầu t . ở đây đã
có một số dấu hiệu từ phía cơ quan kiểm toán làm sai lệch các chỉ tiêu tài chính
11
trong công ty gây tâm lí hoang mang cho nhà đầu t . Thiết nghĩ các công ty kiểm
toán cũng có một vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy thị trờng chậm phát
triển và làm mất lòng tin trong giới đầu t . Song song với sự chậm chạp của thị tr-
ờng nh vậy , nghị định sửa đổi Nghị định 48/CP xơng sống của thị trờng chứng
khoán cũng đã chậm trễ nhiều lần so với dự kiến , việc hoàn tất và sửa đổi nghị
định để trình chính phủ dờng nh diễn ra quá lâu , trong khi thị trờng chứng khoán
thì đang cầu cứu từng ngày , từng giờ . Vẫn biết để xây dựng văn bản đòi hỏi phải
có sự tham gia của nhiều bộ , ngành với tính phức tạo cao và những sự điều chỉnh
liên tục , tuy nhiên không thể vì những lí do đó mà chúng ta bỏ qua một sự thật
cần nhìn nhận đúng hơn , đó là hành lang pháp lí của Việt Nam vẫn còn rất bất
cập , thiếu hợp lí , cơ chế vận hành đã trơn tru hơn nhng vẫn còn quá chậm chạp ,
thiếu hiệu quả . Nói nh vậy không có nghĩa là phủ nhận công lao của nhà nớc ,
chính phủ mà chỉ để góp phần thúc đẩy thị trờng phát triển hơn . Thay đổi TTCK
không phải một sớm một chiều là có thể làm đợc , không thể cùng một lúc có thể
thay đổi hành lang pháp lí , nhận thức của ngời dân , của doanh nghiệp , nhng ít
nhất chỉ ra những khuyết điểm để sửa chữa cũng giúp chúng ta dần đa TTCK
thoát khỏi giai đoạn khởi đầu đầy khó khăn này .
Chính phủ cũng đã thấy rõ sự bất hợp lí trong những chính sách phát triển
thị trờng vào thời điểm đó và đã đa ra những chính sách cụ thể . Thật vậy , khuyến
cáo từ chính phủ sắp tới TTCK sẽ là kênh huy động vốn quan trọng nhất của thị
trờng tài chính . Bởi vì theo thông lệ quốc tế , các DN , các nền kinh tế cần vốn thì
có 80% huy động qua TTCK , 20% huy động vốn ngân hàng . Đây là một cấu
trúc hoàn chỉnh của thị trờng tài chính , còn ở Việt Nam vào thời điểm này điều
đó ngợc lại , tới 90% huy động qua ngân hàng và 10% huy động qua TTCK . Phải
chăng đây cũng là môt phần nguyên nhân cảu tình trạng tín dụng nóng vào thời
điểm đó . Nếu nh sử dụng vốn ngắn hạn qua kênh ngân hàng mà đầu t trung hạn
và dài hạn thì sẽ dẫn đến những hậu quả khủng hoảng thị trờng tài chính . Chúng
ta lấy vốn ngắn hạn để đầu t dài hạn và chúng ta cứ đảo nợ để kế tiếp nhau thì
chắc chắn đến một lúc nào đó sẽ có cái sai lệch trong cấu trúc thị trờng tài chính ,
đó là một điều không thể tránh khỏi . Cùng với những khuyến cáo về sử dụng
kênh huy động vốn TTCK , chúng ta cũng đã có những biện pháp nhằm tạo nên
tính thanh khoản cao của trái phiếu nhằm hấp dẫn giới đầu t : Đầu tiên là thay đổi
lại cách tính đinh lãi suất phát hành ; Thứ hai là cơ chế phát hành , phát hành trực
tiếp đến ngời đầu t , tránh giới hạn bởi một số tổ chức tài chính nhất định vì nếu
họ không có nhu cầu bán lại trên thị trờng thì sẽ không có sự sôi động của thị tr-
ờng thứ cấp đối với trái phiếu .Thứ ba , phải làm cho công cụ trái phiếu trở thành
công cụ tài chính thờng xuyên , Chính phủ có thể liên tục ra các huy động mới ,
tạo ra một kênh huy động thực sự cho các nha đầu t , các doanh nghiệp tham gia
vào thị trờng này . Thứ t là phải tạo ra một cơ chế giao dịch . Thật vậy vào thời
điểm đó cơ chế giao dịch qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán giống nh giao
dịch cổ phiếu là không phù hợp . Thông lệ quốc tế ngời ta không làm nh vậy mà
12
giao dịch trái phiếu dành cho các nhà đầu t chuyên nghiệp , hình thành một thị tr-
ờng khác và thông thờng giao dịch trên thị trờng phi tập trung chứ không phải thị
trờng tập trung .
Một bớc đi chiến lợc nữa đợc Chính phủ đề ra , theo sửa đổi Nghị định
48/CP , điều kiện phát hành ra công chúng và điều kiện niêm yết sẽ đợc nới lỏng .
Bên cạnh đó , Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội cũng sẽ đợc nghiên cứu
và đi vào hoạt động , tuy nhiên tiêu chuẩn niêm yết ở Hà Nội sẽ thấp hơn ở thành
phố HCM . Chẳng hạn đối với công ty cổ phần muốn phát hành cổ phiếu , yêu cầu
vốn điều lệ hiện là 10 tỷ đồng sẽ giảm xuống còn 5 tỷ . Yêu cầu sau 2 có lãi 2
năm liên tục gần nhất đến thời điểm xin phép phát hành sẽ giảm xuống một năm .
Sau khi phát hành , các DN có vốn từ 5 tỷ trở lên có thể đợc niêm yết cổ phiếu để
huy động vốn qua thị trờng tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội .
Trải qua một quá trình chung tay phát triển , đến nay , năm 2008 TTCK
Việt Nam đã có những bớc phát triển vợt bậc , nhất là giai đoạn những năm 2006 ,
2007 có thể coi là giai đoạn phát triển mạnh của TCCK Việt Nam , có thể đem so
sánh với giai đoạn phát triển thần kì của nền kinh tế Nhật Bản những năm 1952-
1973 . Tuy nhiên nhìn nhận một cách thực tế hơn , trong năm 2006 và 2007
TTCK Việt Nam phát triển quá nóng , giá trị cổ phiếu vợt trên giá trị thật của nó
nhiều lần . Hãy hình dung một công ty phát hành cổ phiếu chỉ sau một thời gian
rất ngắn giá trị cổ phiếu đã tăng lên hàng chục lần .Thế thì giá trị cao hơn đó từ
đâu mà ra ? Thật vô lý nếu không nhận thấy rằng đó là giá trị ảo . Sự thật cũng đã
chứng minh cho sự phát triển quá nóng của thị trờng , những tháng đầu năm
2008 , TTCK Việt Nam chìm trong đêm tối , chỉ số Vn-Index tụt dốc không
phanh , các nhà đầu t thua lỗ nặng nề , những lá th cầu cứu khẩn cấp đã đợc các
nhà đầu t gửi đến Thủ tớng Chính phủ mong có những biện pháp kịp thời để cứu
lấy thị trờng chứng khoán . Vậy phải chăng Chính phủ nên can thiệp vào thị trờng
chứng khoán , liệu có cần thiết không khi mà chúng ta phải cố gắng để cứu lấy
giá trị ảo của thị trờng , tại sao không để thị trờng định giá lại đúng giá trị thật
của nó ? Việc Vn-Index tuột dốc phần lớn là sự biến động của thị trờng thứ cấp
thị trờng giao dịch chứ không phải là thị trờng sơ cấp thị trờng phát hành
. Thực chất , việc giá cổ phiếu đang đi xuống chỉ ảnh hởng đến các nhà đầu t , mà
chính xác ra là các nhà đầu cơ chứng khoán chứ không tác động đến tình hình tài
chính và kinh doanh của công ty niêm yết . Các nhà đầu cơ chứng khoán đã thổi
giá chứng khoán lên quá cao trong năm 2006 , 2007 , đến nay cổ tức thu đợc từ
việc đầu t không đáng là bao so với lãi tiết kiệm ( nếu họ mang số tiền đó gửi tiết
kiệm ) nên bây giờ mới chợt nhận ra là chứng khoán không phải là một thứ công
cụ để đổi đời nh nhiều ngời khác lầm tởng . Việc thi trờng điều chỉnh xuống sâu
nh hiện nay , nếu nhìn theo một khía cạnh khác , lại là điều không đáng lo ngại vì
mọi thứ cần đợc định giá đúng giá trị thật , kể cả chứng khoán . Việc điều chỉnh
thị trờng nh vậy , thậm chí sẽ giúp tháo ngòi quả bom nổ chậm , giúp thị trờng
của chúng ta an toàn hơn .
13
Cũng có nhiều ngời cho rằng , giá cổ phiếu bây giờ quá rẻ để mua . Nhng
xin khẳng định rằng giá cổ phiếu không quá rẻ nh mọi ngời nghĩ .Theo ngân hàng
HSBC , chỉ số PE trên thị trờng Việt Nam bây giờ là 13 , là lí tởng để mua vào .
Liệu điều này có đúng ? Trên thị trờng quốc tế , lãi suất đồng USD , EUR , JPY ,
chỉ dao động mức 1-5% . Nh vậy , nếu gửi tiền ngân hàng thì phải sau khoảng
15-20 năm mới có thể đợc gấp đôi ( tính lãi kép ) . Do đó , chỉ số PE vào khoảng
13 là lí tởng ( tức là nếu đầu t chứng khoán thì sau 13 năm sẽ thu hồi đựoc vốn
gốc ban đầu và có lãI là chính chứng khoán chúng ta đang nắm giữ ) . Tuy nhiên ,
với lãi suất VND luôn khoảng từ 9-12% một năm , chúng ta cần gửi tiết kiệm
trong vòng 8-9 năm là đã đợc gấp đôi . Nh vậy chỉ số PE thấp hơn 8 thì đầu t
chứng khoán mới có lợi hơn gửi tiết kiệm .
Hiện nay , Việt Nam đang hớng theo kinh tế thị trờng , vậy can thiệp để
cứu thi trờng có phù hợp các quy luật của một nền kinh tế thị trờng dựa trên quan
hệ cung cầu ? Các giải pháp mà các nhầ đầu t đa ra đều chỉ vì quyền lợi của chính
mình và đi ngợc lại quy luật của thị trờng . Cần hiểu rằng Nhà nớc không thể can
thiệp thô bạo vào nền kinh tế nh vậy . Việc tạm thời đóng cửa thị trờng , ngừng
giao dịch là biện pháp phi thực tế và sẽ ảnh hởng trầm trọng hơn tới nền kinh tế .
Giải pháp tạm ngừng giao dịch một số chứng khoán gây bất lợi cho thị trờng cũng
là giải pháp tiêu cực mang tính chủ quan . Giải pháp đề nghị Nhà nớc mua lại số
cổ phiếu của các nhà đầu t là phi thực tế . Ngoại trừ giải pháp giãn tiến độ IPO
của các công ty nhà nớc là có thể chấp nhận đợc . Hơn nữa , vào thời điểm này ,
chúng ta vẫn phải đang đối mặt với lạm phát . Lạm phát ảnh hởng đến cuộc sống
của tất cả mọi ngời từ thành thị đến nông thông và ảnh hởng đến tăng trởng kinh
tế . Còn thị trờng suy giảm chỉ tác động đến một bộ phận các nhà đầu t . Do vậy ,
việc duy trì tốc độ tăng trởng của nền kinh tế và chống lạm phát quan trọng hơn
rất nhiều việc cứu thị trờng thứ cấp nhất là khi hai việc này không thể làm cùng
một lúc . Chúng ta cũng cần hiểu rằng việc các nhà đầu t thua lỗ hiện nay chỉ đơn
giản là việc ngời này móc tiền của ngời kia một cách hợp lí chứ không phải do
các công ty làm ăn thua lỗ trầm trọng . Nh vậy cũng giống nh trớc đây mọi ngời
cùng thắng lớn nhờ đầu cơ cổ phiếu chứ không phải là do các công ty làm ăn hiệu
quả và do nền kinh tế phát triển đột phá .
Và nếu ai còn nhớ thời gian trớc khi xảy ra cơn sốt giá cổ phiếu , trong các
năm 2002-2005 , Vn-Index chỉ dao động trong khoảng 200-300 điểm nào có thấy
ai kêu cứu . Còn giờ đây , Vn-Index vẫn còn cao gấp đôi thời điểm năm 2005 .
Vậy việc cứu thị trờng có cấp thiết , trong thời điểm hiện nay cần u tiên cho việc
cứu lạm phát cứu cả nền kinh tế chứ không phải là giá trị ảo của TTCK
lợi ích của một số cá nhân .
Tóm lại , sau 8 năm đi vào hoạt động , TTCK Việt Nam tuy đã đạt đợc
những thành tựu đáng kể , nhng vẫn còn cha thực sự ổn định , cha hoàn thành tốt
vai trò chính của mình , đó là kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế VN .
Và cũng cần nhấn mạnh rằng , TTCK Việt Nam vẫn còn rất nhỏ bé cha thể đại
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét