Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.2. Khái niệm về khách du lịch
Khái niệm về khách du lịch xuất hiện đầu tiên ở Pháp vào cuối thế kỷ thứ XIII. Thời
bấy giờ các cuộc hành trình của người Đức, người Đan Mạch, người Bồ Đào Nha,
người Hà Lan và người Anh trên đất Pháp được chia làm hai loại:
+ Lepetit tour ( cuộc hành trình nhỏ): Đi thành phố Pari đến miền Đông Nam nước
Pháp.
+ Le grand tour ( cuộc hành trình lớn): cuộc hành trình của những người đi dọc theo
bờ Địa Trung Hải xuống Tây Nam nước Pháp và vùng bourgon.
Khách du lịch được định nghĩa là người thực hiện một cuộc hành trình lớn “Faire le
grand tour”.
Vào đầu thế kỷ XX nhà kinh tế học người Áo Iozef Stander định nghĩa: “ Khách du
lịch là hành khách xa hoa ở lại theo ý thích, ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa
mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục tiêu kinh tế”
Nhà kinh tế học người Anh Ogilvie Vi khẳng định: để trở thành khách du lịch cần có
hai điều kiện
Thứ nhất: phải xa nhà thời gian dưới một năm.
Thứ hai: ở đó phải tiêu những khoản tiền đã tiết kiệm ở nơi khác.
Tuy nhiên, những khái niệm nêu ra ở trên đều mang tính phiến diện, chưa đầy đủ,
chủ yếu mang tính chất phản ánh sự phát triển của du lịch đương thời và xem xét
không đầy đủ, hạn chế nội dung thực của khái niệm – khách du lịch.
Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở đáng tin cậy, cần tìm hiểu và phân tích
một số định nghĩa về “khách du lịch” được đưa ra từ các hội nghị quốc tế về du lịch
hay của các tổ chức quốc tế quan tâm đến các vấn đề du lịch. Cụ thể:
- Định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới ( UNWTO) về khách du lịch.
+ Khách du lịch quốc tế ( International tourist): là một người lưu trú ít nhất một
đêm nhưng không quá 1 năm tại một quốc gia khác quốc gia thưòng trú. Du khách có
thể đến vì nhiều lý do khác nhau nhưng không có lĩnh lương ở nơi đến ( chữa bệnh,
thăm quan, giải trí công vụ…)
+ Khách du lịch trong nước ( Internal tourist): Là người đang sống trong một
quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác trong quốc gia đó trong thời
gian ít nhất 24 giờ và không qua 1 năm với mục đích du lịch như: Giải trí, kinh
doanh, công tác, hội họp, thăm gia đình…. ( trừ làm việc để lĩnh lương)
Trần Đức Trung Du lịch 48
5
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Ngày 4 – 3 – 1993 theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới, Hội đồng thống kê
Liên Hiệp Quốc ( United Nations Statisticall Commission) đã công nhận những
thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:
+ Khách du lịch quốc tế ( Internation tourist) gồm 2 loại:
Inbound tourist: Du lịch nhập cảnh hay du lịch quốc tế chủ động. Loại này gồm
những người từ nước ngoài đến du lịch tại một quốc gia.
Outbound tourist: du lịch quốc tế thụ động hay du lịch xuất cảnh. Loại này là những
khách du lịch từ nước mình đi đến du lịch tại một quốc gia khác. Hiện nay trên thế
giới các nước như Pháp, Mỹ… giữ đầu bảng về thể loại du lịch quốc tế thụ động
Như vậy khách du lịch chủ động của quốc gia này lại là khách du lịch thụ động của
quốc gia khác ( nhận và gửi khách) .Một số điểm có thể coi là trở ngại đối với khách
du lịch quốc tế là: Ngôn ngữ , tiền tệ, thủ tục giấy tờ.
+ Khách du lịch trong nước: (Internal tourist): Gồm những ngưòi bản địa và
những người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó du lịch trong nứơc
+ Khách du lịch Nội địa ( Domestic tourist): Đây là thị trường cho các cơ sở
lưu trú và các nguồn thu hút du khách trong một quốc gia.
Domestic tourist =Internal + Inbound
+ Khách du lịch quốc gia( National tourist):
National tourist = Internal + Outbound.
- Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam:
Theo luật du lịch Việt Nam (2005): Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi
du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
+ Khách du lịch quốc tế:
Theo quy chế quản lý lữ hành của Tổng cục du lịch Việt Nam ( 29/4/1995). Khách
du lịch quốc tế là người nước ngoài đến Việt Nam không quá 12 tháng với mục đích
thăm quan, nghỉ dưỡng, hành hương, thăm người thân, bạn bè, tìm hiểu cơ hội kinh
doanh.
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005).
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nứơc ngoài thường trú tại Việt
Nam ra nước ngoài du lịch.
+ Khách du lịch nội địa:
Trần Đức Trung Du lịch 48
6
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo quy chế quản lý lữ hành của Tổng cục du lịch Việt Nam: Khách du lịch nội địa
là là công dân Việt Nam ra khỏi nơi ở không quá 12 tháng đi du lịch, thăm người
thân, kinh doanh trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Theo luật du lịch Việt Nam: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người
nứơc ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
1.1.3. Khái niệm về du lịch và phân loại các loại hình du lịch.
1.1.3.1. Khái niệm về du lịch
Du lịch là hiện tượng kinh tế, xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội
dung của nó không ngừng được mở rộng và ngày một phong phú. Để đưa ra một
định nghĩa cho hiện tượng đó sao cho nó vừa mang tính chất bao quát, vừa mang
tính chất lý luận và thực tiễn, đó là một vấn đề hết sức khó khăn. Có thể nêu ra một
số khó khăn sau:
Khó khăn thứ nhất: do tồn tại các cách tiếp cận khác nhau và dưới các góc độ khác
nhau mà các tác giả có các định nghĩa khác nhau về du lịch. Cụ thể:
Tiếp cận trên góc độ của người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm
thời ở ngoài nơi lưu trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác
nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị. Với họ, du lịch như là một cơ hội để tìm
kiếm những kinh nghiệm sống và sự thỏa mãn một số các nhu cầu về vật chất và tinh
thần của họ
Tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các sự
kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của người đi du
lịch. Các doanh nghiệp du lịch coi du lịch như là một cơ hội để bán các sản phẩm mà
họ sản xuất ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách (người đi du lịch), đồng thời
thông qua đó đạt được mục đích số một của mình là tối đa hóa lợi nhuận.
Tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương: Trên góc độ này, du lịch được
hiểu là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ
thuật để phục vụ du khách. Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh đa dạng,
được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể. Du lịch là
một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu
nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng
cao mức sống vật chất và tinh tinh thần cho dân địa phương.
Tiếp cận trên góc độ cộng đồng dân cư sở tại: thì du lịch là một hiện tượng kinh tế -
xã hội.
Trần Đức Trung Du lịch 48
7
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khó khăn thứ hai: là do sự khác nhau về ngôn ngữ và cách hiểu khác nhau về du
lịch ở các nước khác nhau. Bên cạnh vấn đề về ngôn ngữ thì hiện nay tồn tại các
cách nhìn nhận khác nhau về du lịch ở các nước khác nhau còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như:
+ Phụ thuộc vào lịch sử và trình độ phát triển của ngành du lịch
+ Phụ thuộc vào tầm quan trọng của du lịch đối với nền kinh tế - xã hội của đất nước
(là ngành kinh tế mũi nhọn, là ngành kinh tế quan trọng, là ngành đem lại lợi nhuận
cao hay đem lại lợi nhuận không đáng kể)
+ Phụ thuộc vào chinh sách phát triển của mỗi quốc gia
Khó khăn thứ ba: do tính đặc thù của hoạt động du lịch. Du lịch là một ngành dịch
vụ nên nó tồn tại những đặc thù riêng khác biệt so với các ngành khác như:
Thứ nhất, các nhu cầu du lịch là tổng hợp của các nhu cầu đi lại, ăn nghỉ, vui chơi,
giải trí và các nhu cầu này phải xuất phát đồng bộ trong một thời gian nhất định.
Thứ hai, một sản phẩm du lịch tổng hợp không thế do một đơn vị kinh doanh tạo ra
mà do tổng hợp các hoạt động kinh doanh đa dạng tạo ra.
Thứ ba, du lịch là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp. Do vậy, ngành du lịch chỉ có
thể phát triển được khi có sự kết hợp chặt chẽ với các ngành khác như tài chính –
ngân hàng, xây dựng, giao thông
Thứ tư, do du lịch là hoạt động kinh tế mới mẻ, còn đang trong quá trình phát triển.
Thứ năm, đó là tính hai mặt của bản thân từ “du lịch”.
Và do sự tồn tại của các khó khăn khách quan và chủ quan trong việc tìm ra một
định nghĩa thống nhất về du lịch nên đến nay có rất nhiều các định nghĩa khác nhau
về du lịch của các tác giả khác nhau.
Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về du lịch tại Anh như sau: “Du lịch là sự phối
hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích
giải trí. Ở đây, sự giải trí là động cơ chính”.
Năm 1930, ông Glusman, người Thụy Sỹ định nghĩa: Du lịch là sự chinh phục
không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú
“thường xuyên”.
Giáo sư, tiến sỹ Hunziker và giáo sư, tiến sỹ Krapf – hai người được coi là những
người đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa như sau: Du lịch
là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và
lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú
thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời.
Trần Đức Trung Du lịch 48
8
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Định nghĩa về du lịch của Trường Tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie: Du
lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội được lặp đi, lặp lại đều đặn – chính là sản
xuất và trao đổi dịch vụ và hàng hóa của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập – đó là
các tổ chức, các xí nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự
đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích thỏa mãn các nhu cầu cá thể về vật
chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ
ngơi, chữa bệnh, giải trí mà không có mục đích lao động kiếm lời.
Định nghĩa này đã xem xét rất kỹ hiện tượng du lịch như là một phạm trù kinh tế với
đầy đủ tính đặc trưng và vai trò của một bộ máy kinh tế, kỹ thuật điều hành. Song,
nó cũng có nhược điểm là lặp đi lặp lại một số ý.
Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10, thuật ngữ “Du lịch” được hiểu
như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời
gian nhất định”.
Bên cạnh những định nghĩa khác nhau về du lịch được đưa ra ở nhiều nước khác
nhau thì để có quan niệm đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch,
khoa Du lịch và Khách sạn (Trường ĐHKTQD) Hà Nội cũng đã đưa ra định nghĩa
về du lịch trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động trên thế giới
và ở Việt Nam trong những thập niên gần đây:
“Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du
lịch, sản xuất, trao đổi hàn hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng
các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác
của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội
thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”
1.1.3.2. Phân loại các loại hình du lịch
Việc nghiên cứu, phân loại và xu hướng phát triển của các loại hình du lịch
đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh du lịch. Nó giúp cho doanh
nghiệp kinh doanh du lịch có thẻ xác định được mục tiêu, chiến lược và phương pháp
kinh doanh hiệu quả nhất.
Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm
giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc
được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân
phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó.
Trần Đức Trung Du lịch 48
9
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và khi phân loại các loại hình du lịch thì các tiêu thức phân loại thường được sử
dụng như sau:
a. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch. Theo tiêu thức này, Du lịch
được chia thành 2 loại là du lịch Quốc tế và du lịch Nội địa.
- Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của du
khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Ở hình thức du lịch này khách
phải đi qua biên giới và tiêu thụ ngoại tệ ở nơi đến du lịch .Du lịch quốc tế được chia
thành 2 loại :
+ Du lich quốc tế chủ động ( Inbound): là hình thức du lịch của những người từ
nước ngoài đến một quốc gia nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó.
+ Du lịch quốc tế thụ động ( Outbound): là hình thức du lịch của công dân một
quốc gia nào đó và của những người nước ngoài đang cư trú trên một lãnh thổ của
quốc gia đó đi ra nước khác du lịch và trong chuyến đi ấy họ đã tiêu tiền kiếm ra tại
đất nước đang cư trú.
- Du lịch Nội địa: là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách
cùng nằm trong một lãnh thổ của một quốc gia.
b. Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch
được phân thành những loại hình sau:
- Du lịch chữa bệnh
Ở thể loại này khách đi du lịch do nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần
của họ. Du lịch chữa bệnh lại được phân thành:
+ Chữa bệnh bằng khí hậu: khí hậu núi, khí hậu biển
+ Chữa bệnh bằng nước khoáng: tắm nước khoáng, uống nước khoáng
+ Chữa bệnh bằng bùn
+ Chữa bệnh bằng hoa quả
+ Chữa bệnh bằng sữa (đặc biệt bằng sữa ngựa)
- Du lịch nghỉ ngơi, giải trí
Nhu cầu chính làm nảy sinh hình thức du lịch này là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để
phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải
trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát con người ra khỏi công việc hàng ngày.
- Du lịch thể thao : gồm có 2 dạng
+ Du lịch thể thao chủ động: Khách đi du lịch để tham gia trực tiếp vào hoạt động
thể thao. Du lịch thể thao chủ động bao gồm: du lịch leo núi, du lịch săn bắn, du lịch
câu cá, du lịch tham gia các loại thể thao (đá bóng, bóng rổ, trượt tuyết )
Trần Đức Trung Du lịch 48
10
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Du lịch thể thao thụ động : những cuộc hành trình đi du lịch để xem các cuộc thi
thể thao quốc tế, các thể vận hội Olimpic
- Du lịch văn hóa
Mục đích chính là nhằm nâng cao hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử,
kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong
tục, tập quán của đất nước du lịch. Du lịch văn hóa được phân làm 2 loại:
+ Du lịch văn hóa với mục đích cụ thể: khách du lịch thuộc thể loại này thường đi
với mục đích đã định sẵn. Thường họ là các cán bộ khoa học, sinh viên và các
chuyên gia.
+ Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: gồm đông đảo những người ham thích mở
mang kiến thức về thế giới và thỏa mãn những tò mò của mình.
- Du lịch công vụ
Mục đích chính của loại hình du lịch này là nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc
nghề nghiệp nào đó. Với mục đích này, khách đi tham dự các cuộc hội nghị, hội thảo,
kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc triển lãm hàng hóa, hội chợ
- Du lịch thương gia
Mục đích chính của loại hình du lịch này là đi tìm hiểu thị trường, nghiên cứu dự án
đầu tư, ký kết hợp đồng.
- Du lịch tôn giáo
Loại hình du lịch này nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người
thep các đạo khác nhau.
- Du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương
Loại hình du lịch này phần lớn nảy sinh do nhu cầu những người xa quê hương đi
thăm hỏi bà con họ hàng, bạn bè thân quen, đi dự lễ cưới, lễ tang
- Du lịch quá cảnh
Nảy sinh do nhu cầu đi qua lãnh thổ của một nước nào đó trong thời gian ngắn để
đến nước khác.
c. Căn cứ vào đối tượng khách du lịch. Theo tiêu thức này du lịch được phân thành:
- Du lịch thanh thiếu niên
- Du lịch dành cho những người cao tuổi
- Du lịch phụ nữ, du lịch gia đình
d. Căn cứ vào phương tiện vận chuyển khách sử dụng. Theo tiêu thức này du lịch
được phân thành:
Trần Đức Trung Du lịch 48
11
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Du lịch xe đạp
- Du lịch ô tô
- Du lịch máy bay
- Du lịch tàu hỏa
- Du lịch tàu thuỷ
e. Căn cứ vào phương tiện lưu trú mà khách sử dụng. Theo tiêu thức này du lịch được
phân thành:
- Du lịch ở khách sạn (Hotel)
- Du lịch ở khách sạn ven đường (Motel) – khác sạn ở bên lề những chặng đường
dài dành cho khác đi du lịch bằng ô tô
- Du lịch ở lều, trại ( Camping)
- Du lịch ở làng du lịch (Tourism village)
f. Căn cứ vào thời gian đi du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành:
- Du lịch ngắn ngày (thường gọi là du lịch cuối tuần – weekend holiday)
- Du lịch dài ngày
g. Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch. Theo tiêu thức này du lịch được phân
thành:
- Du lịch nghỉ núi
- Du lịch nghỉ biển, sông, hồ
- Du lịch thành phố
- Du lịch đồng quê
h. Căn cứ vào hình thức tổ chức đi du lịch. Theo tiêu thức này du lịch được phân
thành:
- Du lịch theo đoàn
Ở loại hình này, các thành viên tham dự đi theo đoàn và thường có chuẩn bị chương
trình từ trước, trong đó đã định ra những nơi sẽ tới thăm, nơi cư trú và ăn uống. Du
lịch theo đoàn có thể được tổ chức theo hai hình thức sau:
+ Du lịch theo đoàn có thông qua tổ chức du lịch
+ Du lich theo đoàn không thông qua tổ chức du lịch
- Du lịch cá nhân, bao gồm:
+ Du lịch cá nhân có thông qua các tổ chức du lịch
+ Du lịch cá nhân không thông qua các tổ chức du lịch
1.1.4. Khái niệm và vai trò của du lịch Nội địa
Trần Đức Trung Du lịch 48
12
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.4.1. Khái niệm Du lịch Nội địa
Du lịch nội địa là các hoạt động tổ chức, phục vụ người bản địa, người nước
ngoài cư trú tại nước mình đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Điểm đến và
điểm đi trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
1.1.4.2. Vai trò của du lịch nội địa
- Về mặt văn hóa – xã hội
Du lịch nội địa là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả về văn hoá
– xã hội. Nó là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu hiệu cho các thành tựu kinh
tế, chính trị, văn hoá , xã hội, giới thiệu về con người phong tục tập quán ở các vùng
miền, từng địa phương trên đất nước.
Du lịch nội địa đánh thức các làng nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền của các
dân tộc. Khách du lịch rất thích mua các đồ lưu niệm mang tính dân tộc, đó là các sản
phẩm của các nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền. Khách du lịch văn hoá ngày một
đông, họ thường đi tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá dân
tộc. Do vậy việc tôn tạo và bảo dưỡng các di tích đó ngày càng được quan tâm nhiều
hơn. Nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền dân tộc phục vụ cho các mục đích có điều
kiện phục hồi và phát triển hơn như các nghề khắc, khảm, sơn mài,làm tranh lụa…
Du lịch nội địa làm tăng thêm tầm hiểu biết chung về xã hội của người dân
thông qua người ở địa phương khác, ngưòi nước ngoài cư trú tại Việt Nam về phong
cách sống, thẩm mỹ, ngoại ngữ…
Du lịch làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mới quan hệ hiểu biết của nhân
dân giữa các vùng với nhau.
- Về mặt kinh tế
Du lịch Nội địa tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản
xuất ra lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật…) làm tăng
thêm tổng sản phẩm quốc nội.
Du lịch Nội địa tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc
dân giữa các vùng. Hay nói cách khác du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối
cấu trúc của thu nhập và chi tiêu của nhân dân theo các vùng
Du lịch Nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khoẻ cho nhân dân lao động và
do vậy góp phần làm tăng năng xuất lao động xã hội. Ngoài ra du lich Nội địa giúp
cho việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch quốc tế đựợc hợp lý hơn. Vào
trước và sau thời vụ du lịch, khi khách quốc tế vắng có thể sử dụng cơ sở vật chất kỹ
Trần Đức Trung Du lịch 48
13
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thuật vào phục vụ khách du lịch nội địa. theo cách đó vừa có tác dụng thúc đẩy du
lịch nội địa phát triển mà còn tận dụng đựơc cơ sở vật chất kỹ thuật.
Du lịch Nội địa làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển
du lịch. Hoạt động du lịch Nội địa phát triển, tạo nguồn thu ngân sách cho các địa
phương từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý
trực tiếp của địa phương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp du lịch
kinh doanh trên địa bàn.
Du lịch Nội địa góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo.
Hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành như giao thông, vận tải,
bưu điện…phát triển đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra một thị trường tiêu
thụ hàng hoá. Phát triển du lịch nội địa sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng như
mạng lưói giao thông công cộng, mạng lưới điện nước….
1.2. Hoạt động kinh doanh du lịch Nội địa
1.2.1. Kinh doanh du lịch
- Kinh doanh lữ hành ( Tour Operators Business) Là việc thực hiện các hoạt động
nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần
quảng cáo và bán chương trình này trược tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc
văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch.
- Đặc điểm của sản phẩm lữ hành :
Sản phẩm lữ hành có tính chất tổng hợp: Sản phẩm lữ hành là sự kết hợp của
nhiều dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống… của các
nhà sản xuất riêng lẻ thành một sản phẩm mới hoàn chỉnh. Sản phẩm du lịch là các
chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, khách hàng phải trả tiền trọn gói cho
dịch vụ trong chương trình du lịch trước khi đi du lịch.
Sản phẩm lữ hành không đồng nhất giữa các lần cung ứng do chất lượng dịch
vụ cấu thành phụ thuộc vào tâm lý trạng thái tình cảm của người phục vụ lẫn người
cảm nhận, các yếu tố lại thay đổi và chịu tác động của nhiều nhân tố trong những thời
điểm khác nhau.
Sản phẩm du lịch bao gồm các hoạt động diễn ra trong cả một quá trình từ khi
đón khách theo yêu cầu cho đến khi khách trở lại điểm xuất phát gồm : Những hoạt
động đảm bảo nhu cầu của chuyến đi, nhu cầu giải trí, tham quan. Những hoạt động
đảm bảo nhu cầu thiết yếu của khách như đi lại, ăn , ở.
Trần Đức Trung Du lịch 48
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét