Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động marketing của Công ty TNHH Sơn Rosa Việt Nam

Chuyên đề tốt nghiệp
điều kiện hiện nay sẽ mang lại hiệu quả rất thấp, trừ khi doanh nghiệp kinh
doanh loại sản phẩm ở vào vị thế độc quyền. Và rốt cuộc họ chỉ cần làm như
họ đã từng làm hoặc doanh nghiệp khác từng làm, và rồi họ đón nhận lấy sự
đào thải của cuộc cạnh tranh nghiệt ngã trên thị trường. Bởi vì, khi xây dựng
nhà máy luyện kim thì họ chỉ cần tạo cho sản phẩm của họ vẫn giữ nguyên
được tên gọi là sắt thép, khi thành lập doanh nghiệp sản xuất xe đạp thì họ chỉ
cần tạo ra một sản phẩm, chở được người và dùng chân để đạp. Khi đó ý niệm
của họ là tạo ra một phương tiện để đáp ứng nhu cầu đi lại của con người.
Rõ ràng người làm marketing, nhận thức về nhu cầu thị trường khách
hàng, không thể chỉ dừng ở nhu cầu tự nhiên. Để tạo ra được sản phẩm hàng
hóa thích ứng với nhu cầu thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh và hiệu
quả kinh doanh của công ty, người ta phải hiểu một khía cạnh thứ hai của nhu
cầu thị trường đó là mong muốn.
+ Mong muốn là nhu cầu tự nhiên của con người có dạng đặc thù, đòi
hỏi được đáp lại bằng một hình thức đặc thù phù hợp với trình độ văn hóa
vàtính cách cá nhân của con người. Ví dụ, đói là một cảm giác thiếu hụt lương
thực, thực phẩm trong dạ dày. Sự đòi hỏi về lương thực và thực phẩm để
chống đói là nhu cầu tự nhiên của con người. Nhưng người này thì đòi phải có
cơm, người khác lại cần bánh mì, người này cần cơm chiên, người khác cần
cơm nấu trong nồi đất, người này cần cơm bằng giống gạo này, người khác
cần cơm thổi từ giống gạo khác. Những sự khác biệt đó trong nhu cầu, đòi hỏi
được đáp lại bằng cùng một loại sản phẩm, nhưng có những đặc tính khác
nhau phản ánh được ước muốn của con người.
Như vậy, chỉ có phát hiện ra mong muốn của từng người hoặc tập hợp
người, người ta mới tạo ra những tính đặc thù của cùng một loại sản phẩm.
Nhờ vậy mà tăng cường khả năng thích ứng và cạnh tranh trên thị trường và
nâng cao được hiệu quả kinh doanh.
Dựa vào nhu cầu tự nhiên của con người nhà kinh doanh sẽ xác định
Phạm Văn Đức QLKT -K34
5
Chuyên đề tốt nghiệp
được loại sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đó, nhưng dựa vào mong muốn của
người ta thì nhà kinh doanh mới có thể xác định được các thông số và đặc tính
của loại sản phẩm đó mà họ cần. Nhờ vậy mới có thể tạo ra sự tiến bộ và khả
năng cạnh tranh của nhãn hiệu sản phẩm do công ty sản xuất ra với những sản
phẩm cùng loại.
Tuy nhiên phát hiện ra những nhu cầu tự nhiên thường dễ dàng, khám
phá ra mong muốn về từng khía cạnh của nhu cầu là công việc khó khăn hơn,
đòi hỏi phải nghiên cứu tỉ mỉ và kỹ lưỡng hơn. Và đôi khi mong muốn của
con người tồn tại dưới dạng tiềm ẩn mà chính họ cũng không nhận thức được.
Nhưng hễ được nhà kinh doanh hoặc một yếu tố mt nào đó gợi mở thì nó lại
bùng phát nhanh và biến thành sức mua mạnh mẽ. Ví dụ như sự ra đi và hồi
phục cảu bút máy Packe trong cuộc cạnh tranh với bút bị Pilot sau khi khôi
phục và gợi mở cho người tiêu dùng thèm muốn địa vị cao sang gắn liền với
việc dùng bút máy Packe mới.
Nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người là vô hạn, nhà kinh
doanh không chỉ phát hiện và sản xuất ra sản phẩm để thích ứng với chúng
như là những thứ cho không, mà phải thông qua trao đổi để vừa thỏa mãn lợi
ích của người tiêu dùng, vừa thỏa mãn mục đích của nhà kinh doanh. Vì vậy
trong khi đáp lại nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người nhà kinh
doanh phải tính đến một nội dung khác của nhu cầu thị trường - Nhu cầu có
khả năng thanh toán.
+ Nhu cầu có khả năng thanh toán là nhu cầu tự nhiên và mong muốn
phù hợp với khả năng mua của người tiêu dùng. Nhà kinh doanh có thể phát
hiện ra nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người. Họ có thể chế tạo ra đủ
hàng hoá với đặc tính cực kỳ hoàn mỹ, rút cục lại họ cũng chẳng bán được bao
nhiêu, nếu như chi phí sản xuất nó lại quá lớn, giá cao đến mức người ta không
thể mua được, mặc dù người ta rất thích được dùng nó. Nhu cầu tiềm năng
không thể biến thành nhu cầu hiện thực, thành sức mua đối với hàng hóa.
Phạm Văn Đức QLKT -K34
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Chừng nào mà nhà kinh doanh hiểu rõ được khách hàng sẽ cần loại hàng
hóa gì? Hàng hóa đó phải có những đặc điểm gì? Đâu là những đặc trưng
quan trọng nhất? Để tạo ra nó người ta phải tốn phí bao nhiêu. Tương ứng
với nó là mức giá nào? Thì người ta sẽ mua. Khi đó họ mới thực sự hiểu được
nhu cầu của người tiêu dùng, và kinh doanh mới hi vọng mang lại cái mà họ
chờ đợi - lợi nhuận. Để hiểu được nhu cầu thị trường đòi hỏi nhà quản trị
marketing phải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng về phương
diện của nhu cầu.
Muốn có thông tin về nhu cầu của khách hàng ngoài khả năng phán
đoán, theo dõi, hình thành hệ thống thông tin marketing đôi khi người làm
marketing còn cần phải có những cuộc nghiên cứu bằng nhiều hình thức và
phương pháp khác nhau.
Nội dung của các cuộc nghiên cứu có thể rất rộng, nhưng đôi khi cũng
rất đẹp. Chẳng hạn như, muốn lựa chọn lĩnh vực kinh doanh và do đó loại
hàng hóa có khả năng hấp dẫn khách hàng nhất trong tương lai, người ta phải
nghiên cứu dự kiến mua hàng của khách hàng cần những đặc tính nào và đánh
giá như thế nào đối với những đặc tính của hàng hoá, làm cơ sở cho việc đổi
mới và hoàn thiện sản phẩm, thì nội dung nghiên cứu lại chỉ xoay quanh các
đặc tính và thông số của hàng hóa. Đôi khi cuộc nghiên cứu lại chỉ tập trung
vào một đặc tính hoặc yếu tố nào đó của sản phẩm như: giá cả, bao bì Đó là
những công việc đòi hỏi phải được đào tạo về chuyên môn và sẽ có một môn
học riêng thuộc chuyên ngành marketing về vấn đề này. Song một doanh
nghiệp muốn thắng lợi trong cạnh tranh thương trường, muốn đi đầu một việc
làm thỏa mãn và khai thác nhu cầu thị trường, muốn khỏi rơi vào thế đối phó
bị động, thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và xác định đúng nhu cầu là một loại
hoạt động tất yếu phải được thực hiện thường xuyên và chủ động bởi một bộ
phận chuyên môn.
1.2. Sản phẩm.
Sản phẩm được hiểu là tất cả mọi hàng hóa và dịch vụ có thể đem chào
Phạm Văn Đức QLKT -K34
7
Chuyên đề tốt nghiệp
bán, có khả năng thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn của con người, gây
sự chú ý, kích thích sự mua sắm và tiêu dùng của họ.
Như vậy, khi nói đến sản phẩm thường hàm ý cả những hàng hóa hữu
hình và hàng hóa vô hình hay là dịch vụ. Ngay trong một hàng hóa hữu hình
cũng bao hàm cả yếu tố hữu hình và yếu tố vô hình.
Cần phải nhận thấy rằng, khi tiêu dùng mua một hàng hóa hay dịch vụ
điều mấu chốt họ quan tâm chính là những lợi ích, mà do việc tiêu dùng hàng
hóa hay dịch vụ đó đem lại. Như vậy những hàng hóa hay dịch vụ mà người
kinh doanh đem bán chỉ là những phương tiện truyền tải những lợi ích mà
người tiêu dùng chờ đợi. Những lợi ích đó lại thuộc vào nhu cầu và ước muốn
của người tiêu dùng. Như vậy nhiệm vụ đặt ra cho các nhà kinh doanh là phải
xác định chính xác nhu cầu, mong muốn và do đó, lợi ích mà người tiêu dùng
cần được thỏa mãn, đề từ đó sản xuất và cung cấp những hàng hóa và dịch vụ
có thể đảm bảo tốt những lợi ích cho người tiêu dùng.
Nhiều nhà kinh doanh thường phạm phải sai lầm là: chỉ chú ý tới bản
thân sản phẩm, mà coi nhẹ những lợi ích do sản phẩm đó có thể mang lại. Trái
lại, các doanh nghiệp thực hành marketing thành công thường hành động theo
triết lý "Hãy yêu quý khách hàng hơn là sp "hoặc" Hãy quan tâm tới lợi ích có
thể đem lại cho khách hàng hơn là sản phẩm".
1.3. Giá trị, chi phí và sự thỏa mãn.
+ Khi khách hàng quyết định mua sắm một nhãn hiệu hàng hóa cụ thể họ
thường kỳ vọng vào những lợi ích do tiêu dùng nhãn hiệu hàng hóa đó mang
lại. Cùng một nhu cầu có nhiều hàng hóa hoặc nhãn hiệu hàng hóa có thể
hướng đến để thỏa mãn. Nhưng theo cảm nhận của người tiêu dùng thì mức
độ cung cấp những lợi ích của các hàng hóa đó không giống nhau. Hàng hóa
này có ưu thế về cung cấp lợi ích này, nhưng lại có hạn chế trong việc cung
cấp lợi ích khác. Khi quyết định mua buộc người tiêu dùng phải lựa chọn. Để
lựa chọn người tiêu dùng phải căn cứ vào khả năng cung cấp các lợi ích và do
Phạm Văn Đức QLKT -K34
8
Chuyên đề tốt nghiệp
đó, khả năng thỏa mãn nhu cầu của từng hàng hóa và nhãn hiệu. Cách làm
như vậy hình thành khái niệm giá trị tiêu dùng.
Giá trị tiêu dùng đối với một hàng hóa là sự đánh giá của người tiêu
dùng về khả năng của nó trong việc thỏa mãn nhu cầu đối với họ.
Như vậy đối với cùng một hàng hóa mỗi người tiêu dùng có thể đánh giá
cho nó một giá trị tiêu dùng khác nhau. Hàng hóa nào được nhiều người đánh
giá giá trị cao thì cơ hội thị trường đối với hàng hóa đó càng lớn.
Cần lưu ý rằng giá trị tiêu dùng hàng hóa và giá trị theo nghĩa chi phí để
tạo ra nó có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng đó là hai phạm trù khác
nhau:
+ Việc đánh giá giá trị dùng đối với các hàng hóa là suy nghĩ đầu tiên
của người tiêu dùng hướng đến với hàng hóa. Để tiến dẫn tới quyết định mua
hang khách hàng phải quan tâm tới chi phí đối với nó.
Theo quan niệm của người tiêu dùng thì chi phí đối với một hàng hóa là
tất cả những hao tổn mà người tiêu dùng phải bỏ ra để có được những lợi ích
do tiêu dùng hàng hóa đó mang lại.
Như vậy để có được những lợi ích tiêu dùng khách hàng phải chi ra tiền
của sức lực, thời gian và thậm trí cả các chi phí do khắc phục những hậu quả
phát sinh bởi việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa. Những chi phí này bao gồm
cả chi phí mua sắm, sử dụng và đào thải sản phẩm. Đây cũng là cơ sở để
khách hàng lựa chọn những hàng hóa khác nhau trong việc thoả mãn cùng
một nhu cầu.
+ Khi đã đánh giá được giá trị tiêu dùng và chi phí đối với từng hàng hóa
khách hàng đã có căn cứ để lựa chọn hàng hóa. Tất nhiên, khách hàng sẽ lựa
chọn hàng hóa nào có khả năng thoả mãn nhu cầu của họ tốt nhất.
Sự thoả mãn là mức độ của trạng thái cảm giác của người tiêu dùng bắt
nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm với những
kỳ vọng của họ.
Phạm Văn Đức QLKT -K34
9
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4. Trao đổi
Marketing xuất hiện khi người ta quyết định thoả mãn nhu cầu và mong
muốn thông qua trao đổi.
Trao đổi là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ một người
nào đó bằng cách đưa cho họ một thứ khác.
Trao đổi là khái niệm căn bản nhất tạo nền móng cho hd marketing.
Nhưng để tiến tới trao đổi cần phải có các điều kiện sau:
- ít nhất phải có hai bên
- Mỗi bên cần phải có một thứ gì đó có giá trị đối với bên kia.
- Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao thứ mình có;
- Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay từ chối đề nghị của bên kia;
- Mỗi bên đều tin chắc là mình nên hay muốn giao dịch với bên kia.
Năm điều kiện trên chỉ tạo ra tiền đề cho trao đổi. Một cuộc trao đổi thực
sự chỉ diễn ra khi hai bên đã thoả thuận được với nhau về các điều kiện của
trao đổi có lợi (hoặc chí ít cũng không có hại) cho cả hai bên.
Vì vậy, trao đổi là một quá trình chứ không phải là một sự việc. Hai bên
được xem là đang thực hiện trao đổi nếu họ đang thương lượng để đi đến
những thoả thuận. Khi đã đạt được sự thoả thuận thì người ta nói rằng một
giao dịch đã hoàn thành. Giao dịch là đơn vị đo lường cơ bản của trao đổi.
Giao dịch là một cuộc trao đổi mang tính chất thương mại những vật có
giá trị giữa hai bên.
Như vậy các giao dịch thương mại chỉ có thể diễn ra thực sự khi hội đủ
các điều kiện:
- ít nhất có hai vật có giá trị;
- Những điều kiện thực hiện giao dịch đã thoả thuận xong;
- Thời gian thực hiện đã thoả thuận xong;
- Địa điểm thực hiện đã thoả thuận xong.
Những thoả thuận này có thể được thể hiện trong cam kết hoặc hợp đồng
Phạm Văn Đức QLKT -K34
10
Chuyên đề tốt nghiệp
giữa hai bên, trên cơ sở một hệ thống luật pháp buộc mỗi bên phải thực hiện
cam kết của mình.
Khi thực hiện các giao dịch hai bên rất dễ phát sinh mâu thuẫn do hiểu
lầm. Vì vậy, việc giao dịch lần đầu hoặc với những khách hàng mới thường
rất khó khăn. Những công ty thành công thường cố gắng thiết lập mối quan hệ
bền vững, lâu dài và tin cậy với tất cả các đối tượng giao dịch thương mại có
liên quan trên cơ sở triết lý về marketing quan hệ.
1.5. Thị trường
Khái niệm trao đổi, giao dịch dẫn ta đến khái niệm thị trường. Nhiều
môn học tiếp cận thị trường theo góc độ khác nhau. Định nghĩa thị trường
theo góc độ marketing phát biểu như sau:
Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu
cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả
mãn nhu cầu và mong muốn đó.
Như vậy theo quan niệm này quy mô thị trường sẽ tuỳ thuộc vào số
người có cùng nhu cầu và mong muốn vào lượng thu nhập, lượng tiền vốn mà
họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắm hàng hóa thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó.
Qui mô thị trường không phụ thuộc vào số người đã mua hàng và cũng không
phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn khác nhau.
Mặc dù tham gia thị trường phải có cả người mua và người bán, những
người làm marketing lại coi người bán hợp thành ngành sản xuất - cung ứng,
còn người mua mới hợp thành thị trường. Bởi vậy, họ thường dùng thuật ngữ
thị trường để ám chỉ một nhóm khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất
định, do đó, được thoả mãn bằng một loại sản phẩm cụ thể; họ có đặc điểm
giới tính hay tâm sinh lý nhất định, độ tuổi nhất định và sinh sống ở một vùng
cụ thể.
Như vậy rõ ràng là không có sự hiểu biết đầy đủ về khái niệm nhu cầu,
sản phẩm, giá trị, chi phí, sự thoả mãn, trao đổi, giao dịch, thị trường thì
chúng ta không thể hiểu đúng đắn và đầy đủ khái niệm marketing.
Phạm Văn Đức QLKT -K34
11
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Vai trò của Marketing trong kinh doanh của doanh nghiệp
2.1. Các quan điểm định hướng kinh doanh của doanh nghiệp - sự
hình thành marketing hiện đại
Trong thời đại ngày nay, marketing hiện đại và do đó quản trị kinh
doanh theo triết lý marketing là một phương pháp cốt yếu và phổ biến trong
quản trị kinh doanh của các doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị
trường. Phương pháp quản trị kinh doanh này không chỉ giới hạn trong khuôn
khổ của thị trường nội địa mà còn được ứng dụng cả trong kinh doanh trên thị
trường quốc tế; không chỉ trong kinh doanh các sản phẩm hữu hình mà cả
kinh doanh dịch vụ. Những triết lý của marketing hiện đại còn được ứng
dụng vào cả những hoạt động chính trị, xã hội. Tính phổ biến đó của việc ứng
dụng marketing hiện đại, một mặt, phản ánh vai trò của nó trong đời sống
kinh tế xã hội, mặt khác, còn khẳng định tính không thể thay thế được của
phương pháp quản trị kinh doanh này đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường.
Marketing có vai trò to lớn như vậy nhưng không phải ngay từ đầu đã
phát triển thành một lý thuyết hoàn chỉnh, và trong thực tiễn hiện nay không
phải doanh nghiệp nào cũng nhận thức đầy đủ và áp dụng đúng lý thuyết
marketing vào quản trị kinh doanh của doanh nghiệp. Xét về mặt lịch sử sự ra
đời lý thuyết marketing hiện đại và ứng dụng nó là một quá trình. Quá trình
đó gắn liền với quá trình tìm kiếm các triết lý và phương pháp quản trị doanh
nghiệp hướng ra thị trường. Cho đến nay người ta đã tổng kết và thậm chí
trong thực tiễn có thể tồn tại 5 triết lý hay 5 quan điểm định hướng cho kinh
doanh của doanh nghiệp.
2.1.1. Quan điểm định hướng sản xuất
Quan điểm định hướng sản xuất cho rằng: Người tiêu dùng sẽ ưa thích
nhiều sản phẩm được bán rộng rãi với giá hạ. Vì vậy những nhà quản trị các
doanh nghiệp cần phải tập trung vào việc tăng qui mô sản xuất và mở rộng
phạm vi tiêu thụ.
Phạm Văn Đức QLKT -K34
12
Chuyên đề tốt nghiệp
2.1.2. Quan điểm định hướng vào hoàn thiện sản phẩm
Không ít doanh nghiệp lại nhấn mạnh và tập trung vào việc hoàn thiện
sản phẩm hiện có.
Bởi vì theo họ: Người tiêu dùng luôn ưa thích những sản phẩm có chất
lượng cao nhất, nhiều công dụng và tính năng mới. Vì vậy, các nhà quản trị
các doanh nghiệp muốn thành công phải luôn tập trung mọi nguồn lực vào
việc tạo ra các sản phẩm có chất lượng hoàn hảo nhất và thường xuyên cải
tiến chúng.
Như vậy theo quan điểm này người ta cho rằng yếu tố quyết định sự
thành công đối với một doanh nghiệp chính là vai trò dẫn đầu về chất lượng
và đặc tính sản phẩm hiện có.
Trong điều kiện của Việt Nam việc nâng cao chất lượng sản phẩm để
tăng cường khả năng cạnh tranh, đặc biệt là khi chất lượng sản phẩm còn thấp
và yêu cầu hội nhập đặt ra gay gắt là điều hết sức cần thiết. Nhưng nếu một
doanh nghiệp chỉ loay hoay vào việc nâng cao chất lượng và cải tiến các đặc
tính sản phẩm hiện có thì chưa có gì đảm bảo chắc chắn cho sự thành công.
Bởi vì nếu chỉ theo hướng này dễ làm người ta ít chú ý đến sự biến đổi nhu
cầu, thị hiếu tiêu dùng của khách hàng và sự xuất hiện những sản phẩm mới
thay thế hiệu quả hơn.
2.1.3. Quan điểm tập trung vào bán hàng
Một quan điểm khác xuất hiện khá sớm, tồn tại dai dẳng và chi phối
mạnh tới định hướng kinh doanh của các doanh nghiệp. Đó là quan điểm tập
trung vào bán hàng.
Quan điểm này khẳng định rằng: Người tiêu dùng thường bảo thủ và do
đó có sức ỳ hay thái độ ngần ngại, chần trừ trong việc mua sắm hàng hóa. Vì
vậy, để thành công doanh nghiệp cần tập trung mọi nguồn lực và sự cố gắng
vào việc thúc đẩy tiêu thụ và khuyến mãi.
Như vậy, theo quan điểm này thì yếu tố quyết định sự thành công của
một doanh nghiệp là tìm mọi cách để tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ đã
được sản xuất ra. Từ đó các nhà quản trị doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn,
Phạm Văn Đức QLKT -K34
13
Chuyên đề tốt nghiệp
cho khâu tiêu thụ và khuyến mãi, phải tạo ra các cửa hàng hiện đại, phải huấn
luyện được đội ngũ nhân viên bán hàng biết lôi kéo và thuyết phục khách
hàng nhanh chóng vượt qua trở ngại về tâm lý bằng bất kỳ cách thức nào. Đẩy
được nhiều hàng và thu được nhiều tiền từ phía khách hàng là tiêu chuẩn để
đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác.
Đành rằng quan điểm này có thể giúp cho doanh nghiệp thành công
trong những trường hợp kinh doanh các sản phẩm ít có khả năng biến đổi về
chất lượng và đặc tính hoặc những sản phẩm có nhu cầu thụ động, tức là
những sản phẩm mà người mua ít nghĩ đến việc mua sắm chúng hoặc có nghĩ
đến cũng không thấy có gì bức bách. Vì chúng chưa liên quan đến lợi ích trực
tiếp của họ, ví dụ như: bảo hiểm, các vở tuồng cổ Nói chung bán hàng là
hoạt động quan trọng của quá trình kinh doanh, nhưng dù sớm hay muộn hoạt
động này sẽ gặp khó khăn, nếu như việc chế tạo ra sản phẩm của doanh
nghiệp tách rời khỏi việc tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu của khách hàng.
2.1.4. Quản điểm kinh doanh theo cách thức marketing
Quan điểm kinh doanh theo cách thức marketing khẳng định rằng: Chìa
khóa để đạt được những mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là doanh
nghiệp phải xác định đúng những nhu cầu và mong muốn của thị trường (khách
hàng) mục tiêu từ đó tìm mọi cách đảm bảo sự thoả mãn nhu cầu và mong
muốn đó bằng những phương thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Bảng 1.1. So sánh quan điểm bán hàng và quan điểm marketing
Các chỉ tiêu
Các quan điểm
Điểm xuất
phát
Trung tâm
chú ý
Các biện pháp Mục tiêu
Bán hàng Nhà máy sản phẩm Kích động việc
mua sắm
Tăng lợi nhuận nhờ
tăng lượng bán
Marketing Thị trường
mục tiêu
Hiểu biết
nhu cầu
khách hàng
Marketing hỗn
hợp
Tăng lợi nhuận nhờ
thoả mãn tốt hơn
nhu cầu
Một là, marketing hiện đại bao giờ cũng tập trung vào những khách hàng
Phạm Văn Đức QLKT -K34
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét