Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Phương hướng và giải pháp thúc đẩy Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010

a) Ưu điểm của hàng thủ công mỹ nghệ.
- S ản phẩm có tính truyền thống, mang đậm đà bản sắc dân tộc.
- Chủ yếu sản xuất trong các làng nghề truyền thống.
- Sản xuất bằng nguyên liệu sẵn có trong nớc.
- Nguyên liệu phụ cho sản xuất rất ít không đáng kể.
- Thuận nợi cho huy động nguồn lao động dồi dào cho sản xuất
- Đầu t cho sản xuất thấp.
- Tăng thu nhập cho ngời dân
- Đợc nhiều khách hàng trên thế giới a chuộng nên có tiềm năng rất lớn về
thị trờng xuất khẩu góp phần vào thu ngoại tệ đáng kể, giải quyết tình trạng
thiếu ngoại tệ mạnh phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nớc.
Việc sản xuất không đòi hỏi lợng vốn ban đầu và cơ sở vật chất lớn chỉ
cần vài hộ nông dân hợp lại là có thể đứng tên thành một tổ hợp sản xuất. Điều
này có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi mà các đơn vị kinh
doanh của nớc ta hiện nay đang có nhiều khó khăn về vốn.
Nớc ta là nớc nông nghiệp(80%dân số làm nghề trồng trọt)thì hàng thủ
công mỹ nghệ sẽ giải quyết đợc thời gian nhàn rỗi của ngời nông dân. Tận dụng
thời gian chờ vụ thu hoạch mới, có việc làm tại chỗ, vừa tận dụng nguyên nhiên
liệu phong phú, rẻ, vừa huy động sức lao động tạo nên thu nhập đáng kể cho ng-
ời dân. Đó là những thế mạnh tiềm năng rất lớn của ngành nghề này. Đảng và
nhà nớc đã nhận thức đúng đắn và có chính sách phù hợp để phát triển mặt hàng
này.
b) Hạn chế:
-Khó kiểm soát chất lợng hàng hoá.
-Thu gom hàng hoá không đợc nhanh bởi vì sản xuất không tập trung do
đó dễ ảnh hởng đến thời gian thực hiện hợp đồng.
5
-Để sản phẩm có chất lợng cao cần đáp ứng đầy đủ những phơng tiện kĩ
thuật.
II. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong
phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ mang
lại những lợi ích kinh tế thiết thực mà còn có ý nghĩa chính trị rộng lớn
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có vai trò đăc biệt quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế của Việt Nam nói riêng và của các quốc gia nói chung.
Các lý thuyết về tăng trởng và phát triển đều chỉ ra rằng, để tăng trởng và phát
triển kinh tế, mỗi quốc gia đều có bốn điều kiện. Nguồn nhân lực, tài nguyên,
vốn và khoa học công nghệ. Song không phải quốc gia nào cúng có đầy đủ
những điều kiện đó. Hiện nay các nớc đang phát triểnđang thiếu vốn và kĩ thuật
công nghệ nhng lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên rất dồi dào. Các nớc
phát triển lại dồi dào về vốn và thiên nhiên. Để giải quyết tình trạng này họ
buộc phải nhập từ bên ngoài những yếu tố nguồn lực sản xuất trong nớc cha
hoặc khó khăn trong sản xuất, có nghĩa là cần một nguồn ngoại tệ chính là
khoản ngoại tệ thu về từ xuất khẩu. Xuất khẩu là hoạt động chính tạo ra tiền đề
cho nhập khẩu, tạo điều kiện cho quy mô và tốc độ tăng trởng của nhập khẩu.
a) Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với nền kinh tế.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đảm bảo khả năng phát triển nền kinh
tế ở những nớc đang phát triển, một trong những vật cản chính của quá trình
tăng trởng kinh tế là thiếu vốn. Nguồn vốn huy động từ nớc ngoài đóng vai trò
tơng đối quan trọng. Mọi cơ hội tiếp cận đầu t hay vay nợ nớc ngoài chỉ tăng
khi chủ đầu t hay ngời cho vay nợ thấy khả năng xuất khẩu của nớc đó vì đây là
nguồn chính đảm bảo khả năng trả nợ.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng góp phần thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
6
Thực tế cho thấy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng góp phần làm
chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam nói riêng và của các quốc gia
đang phát triển nói chung từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đợc
nhìn nhận từ hai khía cạnh sau:
Chỉ xuất khẩu những mặt hàng thủ công mỹ nghệ mà đợc coi là vợt quá
mức tiêu dùng nội địa. Điều này có nghĩa là nền kinh tế quy mô nhỏ và lạc hậu,
sản xuất còn cha đủ tiêu dùng thì xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chỉ bó hẹp
trong một phạm vi nhỏ và tăng trởng chậm nếu không muốn nói là không thể
tăng trởng không phát huy đợc lợi thế của quốc gia. Do đó, các ngành sản xuất
kinh doanh không có cơ hôi để phảt triển và mở rộng.
Coi thị trờng thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất, coi trọng xuất khẩu,
quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển
sản xuất.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện mở rộng thị trờng sản
phẩm, tạo lợi thế nhờ quy mô và các lợi thế vốn có của quốc gia.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện cho các ngành cùng có
điều kiện và cơ hội phát triển.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá,
tăng cờng hiệu quả sản xuất của các quốc gia bởi khi khoa học công nghệ ngày
càng phát triển thì phân công lao động ngày càng sâu sắc.
-Thông qua xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, các doang nghiệp trong nớc
có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trờng thế giới và giá cả, chất l-
ợng. Những yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành cơ cấu sản xuất phù
hợp với thị trờng.Trên cơ sở đó, doanh nghiệp phát triển tới một mức độ cao
hơn.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng
thị trờng, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nớc
7
trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời chia sẻ rủi
ro, mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng uy tín của doanh nghiệp. Ngoài ra
doanh nghiệp còn nhận đợc thông tin phản hồi từ khách hàng bên ngoài để điều
chỉnh chiến lợc cho phù hợp xu thế thời đại.
-Xuất khẩu khuyến khích phát triển các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nh hoạt động đầu t, nghiên cứu phát triển, Marketting.
b) Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với xã hội ở nớc ta.
-Là sản phẩm của ngành nghề truyền thống, mang đậm nét của truyền
thống dân tộc, nên hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm đáp
ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn là những văn hoá phẩm
phục vụ đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu thởng thức tinh hoa văn hoá của
các dân tộc. Vì vậy hàng thủ công mỹ nghệ vừa có nhu cầu cao trên thị trờng n-
ớc ngoài theo sự phát triẻn giao lu văn hoá giữa các nớc, giữa các dân tộc trên
thế giới. Quan tâm và có chính sách thoả đáng phát triển các nghành nghề này,
mở rộng tiêu thụ các sản phẩm đợc làm ra trên thị trờng trong và ngoài nớc, đẩy
mạnh xuất khẩu làm sống động những nghành nghề truyền thống là thiết thực
bảo tồn và phát triển một trong những di sản văn hoá qúi giá của dân tộc Việt
Nam.
-Các nghành nghề thủ công truyền thống nếu đợc phát triển tốt đều có sức
hút mạnh mẽ nguồn lao động dồi dào trong nớc nhất là trong giai đoạn hiện nay
và trong những năm trớc mắt lao động d thừa ở nớc ta còn nhiều. Phát triển sản
xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có tác dụng lớn trong việc tạo ra công
ăn việc làm và tăng thu nhập chính đáng cho lao động trong nớc, góp phần xoá
giảm nghèo, giải quyết vấn đề nhàn c, nhất là trong lớp trẻ có tác dụng tích cực
đẩy lùi các hiện tợng tiêu cực, các tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo trật tự an
ninh xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay thất nghiệp còn nhiều thì ý nghĩa
chính trị xã hội của vấn đề trên càng lớn. Trong quá trình phát triển và xuất
khẩu các loại hàng hoá này không những thu hút hàng triệu lao đông không có
việc làm ở thành thị và nông thôn mà còn tạo cơ hội sử dụng và đào tạo các
8
nghệ nhân, thợ giỏi có tay nghề và kỹ xảo truyền thống góp phần bảo tồn phát
triển và truyền lại cho đời sau vốn quí nghề nghiệp này của dân tộc.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ra nớc ngoài các doanh nghiệp xuất
khẩu đã thực hiện tăng cờng giao lu văn hoá với các nớc, giao lu thành quả của
các nghệ nhân, giao lu văn hoá dân tộc và giao lu truyền thông quí báu của dân
tộc Việt Nam.
-Xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng
nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của nhân dân.
-Ngân sách nhà nớc cũng có thêm nguồn thu nhờ thuế xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là cơ sở để mở rông và thúc đẩy phát
triển các mỗi quan hệ kinh tế đối ngoại.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại
khác có sự tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau từ đó thúc đẩy các mối quan hệ
khác, ngợc lại sự phát triển các ngành này tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ càng phát triển hơn.
III. Những yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ
* Tình hình kinh tế trong nớc và định hớng xuất khẩu của chính phủ.
Hoạt động xuất khẩu đơng nhiên phụ thuộc vào tiềm lực sản xuất trong n-
ớc và định hớng của chính phủ. Coi trọng sản xuất tiêu dùng trong nớc hay h-
ớng về xuất khẩu. Nếu chính phủ coi trọng chính sách về xuất khẩu thì khi đó
hoạt động xuất khẩu mới phát triển.
* Các công cụ chính sách.
Các công cụ chính sách bao gồm thuế quan xuất khẩu, các nhân tố phi
thuế quan.
- Thuế quan xuất khẩu.
9
Thuế quan xuất khẩu làm tăng thu cho ngân sách nhng nó lại làm cho giá
cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế quan cao hơn mức giá cả trong nớc. Tác
đông của thuế quan xuất khẩu nhiều khi mang đến bất lợi cho khả năng xuất
khẩu do qui mô xuất khẩu của một nớc là nhỏ so với dung lợng của thị trờng thế
giới, thuế xuất khẩu là hạ thấp tơng đối mức giá cả trong nớc của hàng thủ công
mỹ nghệ có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế và sẽ làm giảm sản
lợng trong nớc của mặt hàng có thể xuất khẩu, sản xuất trong nớc sẽ thay đổi
bất lợi đối với mặt hàng xuất khẩu. Mặt khác việc duy trì một mức thuế xuất
khẩu cao trong một thời gian dài sẽ làm lợi cho những đối thủ cạnh tranh. Tóm
lại thuế xuất khẩu cao sẽ làm hạn chế hoạt động xuất khẩu và ngợc lại thuế xuất
khẩu thấp sẽ tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu.
- Các nhân tố phi thuế quan.
+Hạn ngạch: Là qui định của nhà nứơc về số lợng cao nhất của mặt hàng
này đợc phép xuất khẩu hay nhập khẩu từ một thị trờng trong một thời gian nhất
định thông qua hình thức cấp giấy phép. Hạn ngạch nhập khẩu của một nớc sẽ
ảnh hởng đến khối lợng hàng hoá xuất khẩu của nớc khác.
+Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: Là hình thức quốc gia nhập khẩu đòi hỏi
quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt số lợng hàng xuất khẩu sang nớc mình một
cách tự nguỵên, nếu không họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết. Khi một
mặt hàng xuất khẩu của hàng thủ công mỹ nghệ gặp phải hạn chế xuất khẩu tự
nguyện sẽ gặp khó khăn trong số lợng hàng đợc xuất khẩu tơng tự nh hạn
ngạch.
+Những qui định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Bao gồm những qui định về vệ
sinh, đo lờng, an toàn lao động, bao bì đóng gói đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ
sinh, bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trờng sinh thái khi mà xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ ngày càng tăng thì sự huỷ hoại môi trơng sinh thái và tài nguyên
cũng không có nghiã là giảm.
+Trợ cấp xuất khẩu: Chính phủ có thể áp dụng những biện pháp trợ cấp
trực tiếp hoặc cho vay lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu hàng thủ công mỹ
10
nghệ hoặc có thực hiện một khoản vay u đãi cho các bạn hàng nớc ngoài để họ
có điều kiện mua cac sản phẩm do nớc mình sản xuất. Khi đó hoạt động xuất
khẩu mặt hàng này sẽ dễ dàng hơn. Kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng lên đáng kể.
+Chính sách tỷ giá hối đoái:Trong trờng hợp tỷ giá hối đoái tăng nên nghĩa
là đồng nội tệ mất giá thì giá cả hàng hoá xuất khẩu sẽ rẻ tơng đối so với các
hàng hoá của những nớc xuất khẩu cùng loại từ đó số lợng xuất khẩu hàng hoá
sẽ tăng lên nhng lúc đó giá cả nguyên vật liêu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá
xuất khẩu sẽ tăng lên không có lợi cho hoạt động xuất khẩu. Ngợc lại khi tỷ giá
hối đoái giảm xuống nghĩa là đồng nội tệ lên giá thì giá cả hàng hoá xuất khẩu
trở lên đắt đơng đối so với mức giá chung thế giới dẫn đến số lợng hàng thủ
công mỳ nghệ sẽ giảm đi. Lúc này sẽ cần đến sự điều chỉnh của chính phủ.
* Quan hệ kinh tế quốc tế.
Rõ ràng là quan hệ kinh tế quốc tế ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu nói
chung và hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng. Ta có thể lấy
ví dụ IRAQ khi bị cấm vận về kinh tế, không có một mối liên hệ kinh tế nào với
thế giới bên ngoài do đó cũng không có hoạt động xuất khẩu gì, dẫn đến tình
hình kinh tế trong nớc vồ cùng khó khăn. Một nớc có mối quan hệ tốt với thế
giới bên ngoài thì hoạt động xuất khẩu sẽ phát trển.
* Yều tố chính trị.
Chế độ chính trị là khá quan trọng trong mối quan hệ hợp tác giữa các nớc.
Từ yếu tố chính trị mà chính phủ một nớc sẽ có những định hớng khuyến khích
hay ngăn cản giao lu thơng mại với một nớc khác. Điều này ảnh hởng đến hoạt
động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
* Thực trạng khoa học công nghệ.
Khoa học công nghệ là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả sản xuất và chất lợng sản phẩm. Khoa học công nghệ ngày càng hiện đại
thì chất lợng sản phẩm và hiệu quả sản xuất càng đợc nâng cao tạo điều kiện
cho hoạt động xuất khẩu.
11
IV. Sự cần thiết và nội dung của hoạt động xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ của nớc ta
1. Sự cần thiết xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là một khâu của quá trình
kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu. Xét trên bình diện một quốc gia thì kinh
doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là một trong nhừng hoạt động cơ bản,
là một trong những nguồn thu chủ yếu đối với hoạt động thu ngoại tệ của quốc
gia tức là các doanh nghiệp đã tham gia vào một trong hai khâu của quá trình
tái sản xuất mở rộng: Phân phối lu thông hàng hoá và dịch vụ. Xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ là chiếc cầu nối sản xuất và tiêu dùng trong nớc với sản xuất
và tiêu dùng trên thị trờng nớc ngoài. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ không chỉ mang lại nguồn lợi lớn cho doanh nghiệp mà còn góp
phần đẩy mạnh sản xuất trong nớc nhờ tích luỹ vốn từ khoản ngoại tệ thu về,
phát huy tính năng đông sáng tạo của các đơn vị kinh doanh thông qua cạnh
tranh kinh tế. Kinh doanh xuất khẩu mặt hàng này còn là phơng tiện để khai
thác triệt để các lợi thé về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực
và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các nớc và đẩy nhanh tiến trình hoà nhập vào
nền kinh tế toàn cầu.
Từ những năm 1990 trở về trớc, ta bắt đầu xuất khẩu một số mặt hàng
khác với khối lợng lớn lên tỷ trọng nhóm hàng thủ công mỹ nghệ giảm đáng kể
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc. Bình quân trong thời kỳ 1986
-1990 tỷ trọng cả hàng công nghiệp nhẹ và hàng thủ công mỹ nghệ chỉ còn
29,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy kim ngach xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ trong thời kỳ này có năm đạt khá cao ( gần 250 triệu R/ USD) nhng chủ
yếu tính giá bằng Rúp theo giá hình thành không thay đổi theo thời gian dài.
Nên nếu xét về thực tế thì giá này cao hơn giá cùng loại xuất khẩu sang thị tr-
ờng ngoại tệ tự do chuyển đổi từ 1,5 đến 2 lần. Do đó, trị giá thực của kim
ngạch xuất khẩu tính bằng USD cũng chỉ khoảng 130 150 triệu USD/ năm.
12
Từ năm 1991,khi thị trờng liên xô cũ SNG và Đông Âu, thị trờng chủ yếu
của hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu trong thời kì trớc của nớc ta bị mất, các
ngành hàng thủ công mỹ nghệ gặp rất nhiều khó khăn trong xuất khẩu dẫn đến
sản xuất bị thu hẹp, lao động không có việc làm, việc chuyển đổi thị trờng đòi
hỏi thời gian tìm kiếm bạn hàng mới, thị trờng mới. Sau vài năm lao đao trong
cơ chế mới, dần dần một số ngành nghề tìm đợc lối thoát, khôi phục và phát
triển phục vụ cho cả tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu.Vừa qua năm 2000 kim
ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 120 triệu USD, vì vậy thấy đợc tầm
quan trọng của việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ các doanh nghiệp cần
tranh thủ và tận dụng mọi khả năng để mở rộng thị trờng và tìm kiếm khách
hàng đáp ứng ngời tiêu dùng cả trong nớc và ngoài nớc về mẫu mã, chất lợng.
Chính phủ cần có chính sách phù hợp khuyến khích xuất khẩu mặt hàng này.
Giải quyết đợc vấn đề này có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế xã hội nớc ta,
ngoài ra nhu cầu thế giới về mặt hàng này ngày càng cao vẻ đẹp của hàng thủ
công mỹ nghệ mang đậm tính dân tộc văn hoá của đất nớc.
2. Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng là một hoạt động kinh doanh bao
gồm nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn lại mang những đặc trng riêng.
Vì vậy hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với hoạt động thơng mại
trong nớc.
a) Nghiên cứu thị trờng xuất khẩu mặt hàng này.
Thị trờng là yếu tố sống còn và là yếu tố vận động không ngừng, vì vậy bất
kỳ doanh nghiệp nào cũng phải nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu để chỉ ra phơng
thức hoạt động của nó nh thế nào cho phù hợp để từ đó doanh nghiệp có đối
sách thích hợp trong quá trình xuất khẩu sang từng loại thị trờng. Hoạt động
nghiên cứu thị trờng này bao gồm:
- Nghiên cứu môi trờng.
13
Điều này thể hiện việc nghiên cứu môi trờng kinh tế, môi trờng văn hoá-
xã hội, môi trờng chính trị, hệ thống luật pháp, môi trờng công nghệ.
- Nghiên cứu giá cả hàng hoá.
Xu hớng biến động của giá cả trên thị trờng quốc tế rất phức tạp và chịu sự
chi phối của những nhân tố lạm phát, chu kì, cạnh tranh lũng đoạn giá cả.
- Nghiên cứu về cạnh tranh.
+ Ai có thể là đối thủ cạnh tranh.
+ Cạnh tranh nh thế nào(cạnh tranh về độ tin cậy, đổi mới công nghệ hay
khuyếch trơng quảng cáo).
- Nghiên cứu về nhu cầu.
Nhu cầu là một yếu tố chịu ảnh hởng sâu sắc bởi những nhân tố khác nhau
nh văn hoá, sở thích, kinh tế, chính trị.
b) Tạo nguồn hàng xuất khẩu.
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá, dịch vụ của một công ty, một
địa phơng, một vùng hoặc toàn bộ đất nớc có khả năng xuất khẩu đợc. Để tạo
nguồn hàng xuất khẩu các doanh nghiệp có thể đầu t trực tiếp hay gián tiếp cho
xuất khẩu, thu gom hoặc ký kết hợp đồng thu mua với đơn vị sản xuất.
c) Lập phơng án giao dịch, đàm phán, kí kết và tổ chức thực hiện hợp
đồng xuất khẩu.
-Chuẩn bị giao dịch.
Do hoạt động kinh doanh đối ngoại thờng phức tạp hơn các hoạt động đối
nội vì nhiều lẽ: Bạn hàng ở cách xa nhau, hoạt động kinh doanh chịu sự điều tiết
của nhiều hệ thống luật pháp, hệ thống tài chính khác nhau nên tr ớc khi tiến
hành hợp tác làm ăn, doanh nghiệp cần phải chuẩn bị chu đáo. Kết quả của việc
giao dịch phụ thuộc vào sự chuẩn bị đó.
- Giao dịch đàm phán trớc khi kí kết hợp đồng xuất khẩu.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét