Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Nghiên cứu đánh giá phát thải khí nhà kính trong hoạt động khai thác hải sản và đề xuất các biện pháp giảm thiểu (nghiên cứu điển hình tại thành phố hải phòng)

dụng 40 bóng đèn cao áp, giàn đèn có trọng lượng 400 kg, tiêu thụ 200 lít dầu diesel/ngày. Khi
thay thế bằng 100 bóng đèn LED, trọng lượng giàn đèn chỉ còn 125 kg và lượng dầu tiêu thụ tụt
xuống mức 30 lít/ngày. Với thời gian đi biển xa bờ 20 ngày/tháng, lượng nhiên liệu tiêu thụ từ
4.000 lít dầu/tháng giảm xuống còn 600 lít dầu/tháng nhờ công nghệ LED. Có nghĩa là mỗi đợt
đi biển, 1 con tàu công suất lớn có thể tiết kiệm tiền dầu gần 3.000 đô la Mỹ nếu dùng hệ thống
đèn dẫn dụ theo công nghệ LED đồng thời giảm phát thải khoảng 3.026 tấn khí nhà kính.
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣơng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là:
+ Nghiên cứu vai trò của phát thải KNK đối với BĐKH và quá trình phát thải KNK của
một số lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, trong đó có thủy sản.
+ Quá trình phát thải khí nhà kính từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch (dầu diessel)
trong hoạt động khai thác hải sản tại Hải Phòng.
2.2. Nội dung và phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi không gian : Hoạt động khai thác thủy sản có phạm vi rất rộng lớn đó là toàn bộ
vùng biển, tuy nhiên luận văn nghiên cứu phát thải KNK của hoạt động khai thác hải sản Hải
Phòng, do đó phạm vi không gian chủ yếu của luận văn chính là ngư trường khai thác của các
đội tàu khai thác hải sản Hải Phòng, được trình bầy trên hình 3.
Phạm vi thời gian của luận văn: Đối với quá trình kiểm kê, tính toán phát thải KNK là từ
2000 đến 2009 và năm 2011, đây là khoảng thời gian có số liệu thống kê khá đầy đủ và chi tiết
nhất đối với hoạt động khai thác thủy sản của Hải Phòng. Đối với dự báo phát thải KNK là
khoảng thời gian từ đây đến năm 2020.

Hình 1. Ngư trường khai thác của các đội tàu khai thác hải sản Hải Phòng
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp điều tra thu thập cơ sở số liệu.
2.3.2. Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích số liệu
2.3.3. Phương pháp kiểm kê khí nhà kính
+ Yêu cầu của cơ sở số liệu
Để có thể kiểm kê tính toán lượng phát thải KNK trong khai thác hải sản đề tài cần điều
tra thống kê các số liệu về cơ cấu tàu thuyền (số lượng tàu, loại nghề, loại tàu, loại máy thủy…)
và lượng nhiên liệu tiêu thụ của các loại tàu thuyền chính trong hoạt động khai thác hải sản.
+ Kiểm kê tính toán phát thải KNK:
Để kiểm kê KNK của hoạt động khai thác hải sản đề tài sử dụng công thức tổng quát tính
tổng lượng KNK phát thải cho tàu khai thác sử dụng dầu diezen (IPCC, 2001):
GHG = ∑
i
(F
i
x H
i
x E
i
)
Trong đó: GHG: tổng lượng khí thải nhà kính phát thải trong 1 năm (tấn/năm)
F: Lượng nhiên liệu tiêu thụ trong năm (tấn/năm)
H: Nhiệt đốt cháy của nhiên liệu (TJ/tấn) (H = 42,7 MJ/kg nhiên liệu diezen,
IPCC, 1997).
E: Hệ số phát thải của nhiên liệu cho các loại khí (tấn/TJ nhiên liệu) (CO
2
: 74,3
g/MJ – Vreuls, 2006; N
2
O: 0,0006 g/MJ; CH
4
: 0,005 g/MJ – IPCC, 1997)
i: dạng nhiên liệu sử dụng
Ở đây, lượng nhiên liệu tiêu thụ của tàu khai thác hải sản được tính toán dựa trên công
thức:
F = CV*g
e
*H*BAC
Trong đó:
CV: là tổng công suất của tàu.
H: là tổng số giờ hoạt động của các tàu khai thác trong năm.
BAC: là hệ số hoạt động của tàu khai thác.
g
e
: Suất tiêu hao nhiên liệu của tàu khai thác
2.3.4. Phương pháp dự báo phát thải KNK trong hoạt động kinh tế thủy sản
Trên cơ sở kiểm kê tính toán được tổng lượng phát thải KNK, hệ số phát thải KNK của các
đội tàu (nói cách khác chính là các hình thức đánh bắt) trong hoạt động khai thác hải sản ở Hải
Phòng tính đến 2011, căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản của Hải Phòng đến năm
2020 và Quy hoạch tổng thế phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030,
luận văn đã dự báo tương lai lượng phát thải KNK trong hoạt động thủy sản và lấy đó làm cơ sở
đề xuất các biện pháp giảm thiểu, giải pháp thích ứng với BĐKH của hoạt động khai thác thủy
sản.
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hoạt động khai thác hải sản ở Việt Nam, tại Hải Phòng và phát thải khí nhà kính
trong hoạt động khai thác hải sản
3.1.1. Thực tế hoạt động khai thác hải sản tại Việt Nam và phát thải KNK
a. Biến động số lượng tàu thuyền và công suất khai thác
Giai đoạn 2000-2009 số lượng tàu lắp máy cả nước tăng từ 72.909 chiếc lên 120.326
chiếc, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 5.269 chiếc/năm. Tổng công suất tàu tăng từ
3.232.812cv lên 7.636.743cv, bình quân hàng năm tổng công suất tăng thêm 489.326cv.
Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản của cả nước giai đoạn 2000-2009 đã có sự tăng trưởng rõ
rệt về số lượng tàu và tổng công suất. Số lượng tàu lắp máy cả nước đã tăng từ 72.909 chiếc lên
120.326 chiếc, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 5.269 chiếc/năm. Tổng công suất tàu tăng từ
3.232.812cv lên 7.636.743cv, bình quân hàng năm tổng công suất tăng thêm 489.326cv.
b. Cơ cấu đội tàu khai thác
Theo số liệu tổng hợp từ Cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản và các Cơ quan quản
lý nghề cả ở 28 tỉnh ven biển, tính đến hết tháng 12/2009 cả nước có 125.546 tàu khai thác hải
sản. Trong đó có 5.220 tàu không lắp máy, chiếm 4,2% và 120.326 tàu lắp máy, chiếm 95,8%.
Số lượng tàu thuyền không lắp máy đều thuộc nhóm nghề khác, còn lại những nghề khai thác
được thống kê (16 nghề) đều trang bị tàu lắp máy.
Trong đó, số lượng tàu lắp máy ở khu vực vịnh Bắc Bộ có 34.611 chiếc, chiếm 28,8% số
lượng tàu lắp máy trong toàn quốc; khu vực miền Trung có 45.186 chiếc, chiếm 37,6%; khu vực
Đông Nam Bộ có 24.570 chiếc, chiếm 20,4%; khu vực Tây Nam Bộ có 15.959 chiếc, chiếm
13,3%. Số lượng tàu khu vực vịnh Bắc Bộ và miền Trung tuy nhiều về số lượng nhưng đa phần
là tàu công suất <20cv; số lượng tàu khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ số lượng ít hơn các
khu vực khác nhưng tỷ lệ tàu công suất lớn thì nhiều hơn. Điều này phản ánh quy mô của đội tàu
khu vực phía Nam lớn hơn khu vực phía Bắc.
Kết cấu vỏ tàu chủ yếu là vỏ gỗ. Khả năng chịu sóng gió của các tàu kém. Các tàu công
suất lớn thường có vỏ tàu chắc chắn hơn nhóm tàu công suất nhỏ. Đa số ngư dân thường lắp máy
thủy hoặc máy bộ cải hoán đã qua sử dụng, chất lượng còn lại chỉ khoảng 70 - 80% so với máy
mới. Các tàu có công su ất nhỏ hơn 20cv chu
̉
yếu l ắp máy do Trung Quốc sản xuất. Điều này thể
hiện sự lạc hậu của nghề khai thác hải sản nước ta và đó có thể là một trong những nguyên nhân
làm gia tăng lượng phát thải KNK.
3.1.2. Thực tế hoạt động khai thác hải sản tại Hải Phòng
Theo thống kê của chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng (2011), Hải Phòng có
3.999 tàu thuyền hoạt động thuỷ sản, trong đó: Số tàu > 20 CV là 1.347 tàu với các nghề chính
chụp mực, lưới kéo và lưới rê; số tàu < 20 CV là 2652 tàu. Tổng số lao động hoạt động nghề cá
trên 15 nghìn lao động, tập trung chủ yếu ở các huyện Thủy Nguyên, Kiến Thụy, Đồ Sơn và Cát
Hải. Như vậy, so với năm 2008 (2.863 chiếc) chỉ sau 4 năm, tổng số tàu thuyền khai thác hải sản
của Hải Phòng đã tăng thêm 1.136 chiếc (Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Hải Phòng). Số
lượng tàu kích thước lớn chiếm tỉ lệ nhỏ trong cơ cấu tàu thuyền của thành phố. Máy tàu chủ yếu
là máy cũ và giá trị sử dụng còn lại khoảng từ 70-80% (Nguyễn Long, 1999).
Số lượng tàu khai thác hải sản của Hải Phòng tăng liên tục trong những năm từ 1976 đến
1995, sau đó chững lại. Những năm gần đây số lượng tàu thuyền không những không tăng mà
giảm đi. Tổng công suất máy tàu tăng đều hàng năm, từ năm 1976 đến 2003, sau đó giảm dần.
Giai đoạn 1995 – 2000, số lượng tàu biến động theo chiều hướng giảm về số lượng, tuy nhiên
công suất máy tàu tăng liên tục, chứng tỏ trong giai đoạn này có sự chuyển đổi cơ cấu đội tàu
khai thác. Các tàu có kích thước nhỏ, công suất máy thấp được dần thay thế bằng tàu có kích
thước và công suất máy lớn hơn.
3.2. Kiểm kê phát thải KNK trong hoạt động khai thác hải sản tại Hải Phòng
3.2.1. Mức tiêu thu nhiên liệu của một số đội tàu khai thác
Tổng lượng nhiên liệu tiêu thụ của đội tàu chụp mực tại Hải Phòng năm 2011 là
17.109,65 tấn, tương ứng với tổng công suất là 45.773cv. Trong đó, đội tàu có nhóm công suất từ
20 - 50cv tiêu thụ 1.395,93 tấn, nhóm công suất từ 50 – 90cv tiêu thụ 2.382,42 tấn, nhóm công
suất từ 150 - 250cv tiêu thụ 4.257,38 tấn và đội tàu có công suất trên 250cv tiêu thụ 1.624,52 tấn.
Với đội tàu lưới kéo, tổng lượng nhiên liệu tiêu thụ năm 2011 là 11.050,03 tấn. Trong đó,
đội tàu có công suất nhỏ hơn 20cv (504,90 tấn), đội tàu từ 150 – 250cv (947,53 tấn) và đội tàu có
công suất lớn hơn 250cv (957,01 tấn) tiêu thụ dưới 1000 tấn/năm, đội tàu có công suất từ 25 –
50cv tiêu thụ lượng nhiên liệu lớn nhất (3.858,37 tấn), tiếp đến là đội tàu từ 90 – 150cv (2.589,82
tấn) và đội tàu có nhóm công suất từ 50 – 90cv (2.192,39 tấn)
Đội tàu lưới rê với 1.558 chiếc tương ứng với mức công suất 38.109,80 cv, tiêu thụ lượng
nhiên liệu là 12.663,31 tấn năm 2011. Trong đó, đội tàu có mức công suất từ 50 – 90cv (969,91
tấn) và đội tàu công suất lớn 250cv (903,22 tấn) có mức tiêu thụ nhiên liệu nhỏ hơn 1000
tấn/năm. Các đội tầu còn lại đều có mức tiêu thụ nhiên liệu lớn hơn 1000 tấn/năm. Đáng chú ý là
đội tàu công suất nhỏ hơn 20cv có mức tiêu thụ lớn nhất là 6.953,01 tấn, các đội tàu còn lại
tương ứng với mức tiêu thụ nhiên liệu là 1.086,87 tấn (20 – 50cv), 1.306,26 tấn (90 – 150cv) và
1.44,05 tấn với đội tàu từ 150 – 250cv.
Tổng lượng nhiên liệu tiêu thụ năm 2011 của đội tàu còn lại là 9.257,56 tấn. Trong đó,
nhóm tàu có công suất nhỏ hơn 20cv tiêu thụ lượng nhiên liệu lớn nhất (4.843,75 tấn) tiếp đến là
nhóm tàu từ 20 - 50cv (1.297 tấn) và 50 - 90cv (1.016,19 tấn). Các nhóm công suất còn lại lần
lượt là 905,09 tấn (90 - 150cv), 810,50 tấn (> 250cv) và 184,49 tấn (150 - 25-cv).
Bảng 1. Tổng lượng nhiên liệu của các đội tàu khai thác hải sản tại Hải Phòng
Nhóm công suất
(cv)
Số lƣợng tàu
(chiếc)
Tổng công suất
(cv)
Lƣợng nhiên liệu
tiêu thụ (tấn)
<20
2.584
36.692,8
12.301,66
20-50
672
23.054
7.638,70
50-90
317
20.987
6.560,91
90-150
279
32.424
12.250,56
150-250
105
19.263
7.033,46
>250
41
13.863
4.295,26
Tổng
3.998
146.283,8
50.080,54
Như vậy, với tổng công suất 146.283,8cv trong một năm đội tàu khai thác hải sản Hải
Phòng tiêu thụ khoảng 50.080,54 tấn dầu diesel. Trong đó, nhóm tàu có công suất nhỏ hơn 20cv
tiêu thụ lượng lớn nhất (12.301,66 tấn), tiếp đến là nhóm tàu có công suất từ 50 – 90cv
(12.205,56 tấn), điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế do đây là 2 nhóm tàu có tổng công suất
lớn nhất. Nhóm tàu sử dụng nhiên liệu ít nhất là nhóm có công suất lớn hơn 250cv với 4.295,26
tấn.
3.2.3. Tổng lượng phát thải KNK trong hoạt động khai thác hải sản Hải Phòng
Lượng phát thải khí nhà kính được tính toán cho từng đội theo 6 nhóm công suất, các khí
nhà kính được tính toán bao gồm CO
2
, N
2
O và CH
4
sau đó được quy đổi ra CO
2e
tương đương.
CO
2e
được tính toán dựa trên mức độ làm khí quyển Trái đất ấm của các khí nhà kính khác so với
CO
2
trong vòng 100 năm.
Tổng lượng phát thải khí CO
2
của đội tàu chụp mực là 54.282,24 tấn, khí NO
2
là 0,44 tấn
và khí CH
4
là 3,65 tấn tương đương với 54.504,19 tấn CO
2e
. Trong đó, nhóm tàu có công suất từ
90 - 150cv có lượng phát thải CO
2e
lớn nhất (23.730,65 tấn), tiếp đến là nhóm tàu có công suất từ
150 - 250cv (13.562,24 tấn), nhóm tàu từ 50 - 90cv (7589,39 tấn), nhóm tàu lớn hơn 250cv
(5175,05 tấn), nhóm tàu từ 20 - 50cv (4446,86 tấn), riêng nhóm tàu có công suất nhỏ hơn 20cv
không có tàu hoạt động nghề chụp mực nên lượng phát thải bằng không.
Đối với đội tàu hoạt động nghề lưới kéo, tổng lượng phát thải khí CO
2e
là 35.200,77 tấn.
Trong đó, nhóm tàu có công suất từ 20 – 50cv có lượng phát thải CO
2e
lớn nhất (12.291,16 tấn),
tiếp đến là nhóm tàu có công suất từ 90 - 150cv (8.250,10 tấn), nhóm tàu từ 50 - 90cv (6.984,05
tấn), nhóm tàu lớn hơn 250cv (3.048,63 tấn), nhóm tàu từ 150 - 250cv (3.018,45 tấn), rnhóm tàu
có công suất nhỏ hơn 20cv phát thải ít nhất (1.608,39 tấn)
Với đội tàu lưới rê, tổng lượng phát thải CO
2e
tương đương khoảng 40.340,00 tấn. Trong
đó nhóm tàu có công suất nhỏ hơn 20cv phát thải lớn nhất (22.149,38 tấn), các nhóm tàu còn lại
đều có lượng phát thải nhỏ hơn 5000 tấn/năm. Cụ thể, nhóm tàu có công suất từ 20 – 50cv phát
thải 3.462,30 tấn, nhóm từ 50 – 90cv là 3.089,71 tấn, nhóm tàu từ 90 – 150cv phát thải 4.161,19
tấn, nhóm tàu có công suất từ 150 – 250cv phát thải 4.600,13 tấn và nhóm >250cv phát thải
2.877,28 tấn.
Đối với đội tàu hoạt động trong những nghề khác, tổng lượng phát thải CO
2
e tương
đương khoảng 29.490,71 tấn. Trong đó, nhóm tàu công suất nhỏ hơn 20cv có lượng phát thải lớn
nhất (15.430,17 tấn), điều này hoàn toàn hợp lý vì có tới 80% tàu có công suất dưới 20cv hoạt
động ơ nghề này, tiếp đến là nhóm tàu có công suất từ 20 – 50cv (4.133,39 tấn). Hai nhóm tàu có
lượng phát thải thấp nhất là nhóm từ 150 – 250cv (1.224,83 tấn) và nhóm lớn hơn 250cv
(2.581,92 tấn)
Bảng 2. Tổng lượng phát thải KNK của các đội tàu khai thác hải sản Hải Phòng
Nhóm công suất
Tổng công suất (cv)
CO
2

(tấn)
N
2
O
(tấn)
CH
4
(tấn)
CO
2e

(tấn)
<20
36.693
39.028,36
0,32
2,63
39.187,94
20-50
23.054
24.234,62
0,20
1,63
24.333,71
50-90
20.987
20.815,21
0,17
1,40
20.900,32
90-150
32.424
38.866,24
0,31
2,62
39.025,16
150-250
19.263
22.314,41
0,18
1,50
22.405,65
>250
13.863
13.627,17
0,11
0,92
13.682,89
Tổng công suất (cv)
146.284
158.886,02
1,28
10,69
159.535,67
Với tổng công suất máy là 146.284 cv, năm 2011 đội tàu khai thác hải sản của Hải Phòng
tiêu thụ 50.080,54 tấn nhiên liệu (dầu diesel) tương ứng với lượng phát thải 159.535,67 tấn CO
2e

tương đương. Trong đó, nhóm tàu có công suất dưới 20cv phát thải lớn nhất với 39.187,94 tấn,
tiếp đến là nhóm tàu từ 90-150cv (39.025,16 tấn), nhóm tàu có công suất lớn hơn 250cv phát thải
ít nhất với 13.682,89 tấn.
3.2.4. Hệ số phát thải KNK của một số đội tàu khai thác hải sản Hải Phòng
Việc ước tính hệ số phát thải khí nhà kính của các đội tàu khai thác hải sản rất cần thiết
phải có số liệu sản lượng khai thác của từng nghề, tuy nhiên số liệu sản lượng hải sản khai thác
tại Hải Phòng chỉ được thống kê theo nhóm thương phẩm mà chưa được thống kê theo nghề khai
thác. Do đo, để có được ước tính sơ bộ về hệ số phát thải khí nhà kính cho các đội tàu khai thác
hải sản Hải Phòng, đề tài phải sử dụng số liệu tham chiếu từ tỷ lệ phần trăm sản lượng của các
đội tàu cả nước trung bình 3 năm (2007, 2008 và 2009).
Bảng 3. Hệ số phát thải khí nhà kính của một số đội tàu khai thác hải sản Hải Phòng
Nghề khai thác
Sản lƣợng (tấn)
CO
2e
(tấn)
Tấn CO
2e
/tấn sản phẩm
Lưới kéo
17.702,30
35.200,77
1,99
Lưới rê
5.744,19
40.340,00
7,02
Chụp mực
5.999,19
54.504,19
9,09
Nghề khác
10.817,33
29.490,71
2,73
Tổng
40.263,00
159.535,67
3,96
Từ bảng cho thấy, trung bình để khai thác được 1 tấn sản phẩm chúng ta đã phát thải ra
môi trường 3,96 tấn CO
2e
tương đương. Trong đó nghề chụp mực là nghề có hệ số phát thải lớn
nhất (9,09 tấn CO
2e
/tấn sản phẩm ), tiếp đến là nghề lưới rê (7,02 tấn CO
2e
/tấn sản phẩm), nghề
có hệ số phát thải thấp nhất là nghề lưới kéo (1,99 tấn CO
2e
/tấn sản phẩm), các tàu hoạt động ở
các nghề khác trung bình phát thải 2,73 tấn CO
2e
/tấn sản phẩm.
Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của một số nước như Ấn Độ (1,67 tấn CO
2e
/tấn sản
phẩm) và Anh (1,70 tấn CO
2e
/tấn sản phẩm) cho thấy mức phát thải khí nhà kính của nghề khai
thác hải sản Hải Phòng cao hơn rất nhiều. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế về
công nghệ khai thác cũng như mức độ khai thác quá mức nguồn lợi của nghề khai thác hải sản
Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng.
3.3. Quy hoạch phát triển thủy sản Hải Phòng đến 2015 định hƣớng đến 2020, dự báo khả
năng và quy mô phát thải KNK trong tƣơng lai
3.3.1. Quy hoạch phát triển thủy sản Hải Phòng đến 2015 định hướng đến 2020.
 Chỉ tiêu quy hoạch
Các chỉ tiêu quy hoạch, sắp xếp lại nghề khai thác hải sản ở Hải Phòng đến năm 2015
được xác định theo 2 phương án sau:
Theo phƣơng án I (Phương án lựa chọn) đến năm 2015 các chỉ tiêu quy hoạch, sắp xếp
lại nghề khai thác hải sản ở Hải Phòng được xác định như sau:
Bảng 4. Các chỉ tiêu quy hoạch nghề khai thác hải sản của thành phố Hải Phòng đến năm 2010
và 2015 theo phương án I
TT
Tên chỉ tiêu
Đơn vị
Năm 2004
Năm 2010
Năm
2011**
Năm 2015
1
Tổng số tàu thuyền
chiếc
3.615
2.741

2.561
2
Tàu thuyền máy
chiếc
2.406
2.136
3.999*
2.256
3
Tàu thuyền > 90cv
chiếc
586
664
434
761
4
Thuyền thủ công
chiếc
1.209
605
-
305
5
Sản lượng khai thác
tấn
31.722
32.000
40.263
34.000
6
Sản lượng cá
tấn
22.419
23.170
25.817
24.590
7
Sản lượng mực
tấn
3.320
2.905
5.618,7
3.120
8
Sản lượng tôm
tấn
1.853
915
2.181,7
900
9
Hải sản khác
tấn
4.13
5.010
18.909,7
5.390
10
Sản lượng xa bờ
tấn
16.381
18.000
13.687
20.500
11
Sản lượng gần bờ
tấn
15.341
14.000
26.576
13.500
12
Lao động đánh cá
người
11.347
10.358
7.254
9.900
(Nguồn: ** Cục thống kê Hải Phòng, số liệu thống kê năm 2011. * Chi cục Bảo vệ Thủy sản Hải
Phòng)
Như vậy, khi so sánh một số chỉ tiêu quy hoạch năm 2010 với số liệu thống kê 2011 cho
thấy, sự phát triển của nghề khai thác hải sản Hải Phòng đã phá vỡ quy hoạch. Theo phương án
lựa chọn (Phương án I), tổng số thuyền máy Hải Phòng phải giảm từ 2.406 chiếc năm 2004
xuống còn 2.136 chiếc năm 2010 và đến năm 2015 ổn định ở mức 2.300 chiếc.
3.3.2. Dự báo quy mô phát thải khí nhà kính trong hoạt động khai thác hải sản Hải Phòng
năm 2020
Nhóm
công
suất(cv)
Số
lƣợng
tàu (chiếc)
Công
suất (cv)
Lƣợng nhiên
liệu tiêu
thụ (tấn)
CO
2

(tấn)
N
2
O
(tấn)
CH
4
(tấn)
CO
2e
(tấn)
< 20
1.405
19.946
6.687,18
21.215,82
0,17
1,43
21.302,56
20 - 50
366
12.532
4.744,59
15.052,74
0,12
1,01
15.114,29
50 - 90
173
11.409
4.030,30
12.786,57
0,10
0,86
12.838,85
90 - 150
409
47.598
17.560,24
55.711,79
0,45
3,75
55.939,59
150 - 250
154
28.278
10.145,17
32.186,67
0,26
2,17
32.318,28
> 250
60
20.351
5.926,12
18.801,27
0,15
1,27
18.878,14
Tổng
2.566
140.114
49.093,60
155.754,85
1,26
10,48
156.391,71
Từ bảng 24 cho thấy, tổng lượng phát thải khí nhà kính của các đội tàu khai thác hải sản
Hải Phòng năm 2020 khoảng 156.391,71 tấn CO
2e
tương đương, giảm 3143.95 tấn (1,97%) so
với năm 2011, tương đương với mức giảm bình quân 0,22%/năm. Đây là mức giảm quá thấp so
với mục tiêu giảm 20% phát thải KNK vào năm 2020 của ngành nông nghiệp, hơn nữa khai thác
hải sản lại là lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng nhất trong các lĩnh vực khác nhau của ngành sản
xuất nông nghiệp.
Theo Quyết định phê duyệt đề án “Giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, nông
thôn đến năm 2020” đã đặt mục tiêu đến năm 2020, giảm phát thải 20% lượng KNK trong nông
nghiệp, nông thôn. Để đạt được mục tiêu này ngành Nông nghiệp nói chung và ngành khai thác
hải sản Hải Phòng nói riêng phải đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm giảm phát thải khí nhà kính
trong tương lai một cách hiệu quả.
3.4. Đề xuất các biện pháp giảm thiểu phát thải KNK
1) Giải pháp chuyển đổi, hạn chế và lộ trình cắt giảm tàu thuyền khai thác
Hải Phòng cần phải rà soát, điều chỉnh và bổ xung quy hoạch thủy sản cho phù hợp với
điều kiện phát triển thực tế, thực hiện lộ trình chuyển đổi, hạn chế và cắt giảm tàu thuyền khai
thác theo đúng quy hoạch.
2) Giải pháp nâng cao năng lực dự báo ngư trường để giảm thiểu thời gian di chuyển
giúp đánh bắt có hiệu quả hơn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét