Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

“Một số giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương”.

+Mỗi ngành có một giới hạn tối u cần thiết. Khi giới hạn tối u vợt quá khuôn
khổ kinh tế của gia đình nông dân, lúc đó, nông dân tìm cách hợp tác với nhau để
đạt giới hạn tối u mới , bằng cách đó là chuyển dần lên sản xuất lớn. Nói cách
khác, do không có khả năng tập trung vô hạn theo chiều sâu nh trong công nghiệp
nên sản xuất nông nghiệp chỉ có thể tập trung theo chiều rộng từ quá trình này đến
quá trình khác. Nh vậy ngời nông dân khi làm chủ và ngời lao động sẽ đi tới chỗ
liên kết các quá trình và các ngành tách rời nhau cùng nhau mua sắm t liệu sản
xuất, thành lập các nhóm sử dụng máy móc và tiêu thụ sản phẩm, cải tạo đất đai.
Và bằng cách đó mà thay đổi cách kinh doanh của mình.
-T tởng của Frank Elliss:
Kinh tế hộ nông dân là sản xuất của các hộ gia đình nông nghiệp, có quyền
sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình. Sản
xuất của họ thờng nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ
không hoàn hảo và hoạt động của thị trờng.
-Quan điểm của Liên Hợp Quốc:
+Về phơng diện thống kê:
Liên hợp quốc cho rằng: hộ là những ngời cùng sống chung dới một mái nhà,
cùng ăn chung và có cùng một ngân quỹ.
+Về phơng diện sản xuất:
Liên hợp quốc cho rằng: kinh tế hộ là một hình thức tổ chức cơ sở của nền
sản xuất hàng hoá. Nó hoạt động sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình, có một
hoặc một số ngời lao động tự đầu t theo khả năng về vốn để trang bị t liệu sản
xuất, sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ theo yêu cầu sản phẩm cho sự sinh tồn
của họ trên thị trờng.
Mỗi t tởng, mỗi quan điểm cho ta một cách nhận thức tổng quát về kinh tế hộ
nông dân hoặc kinh tế hộ nông dân trên một mặt nào đó. Tuy vậy, chúng ta có thể
hiểu:
Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế - xã hội đợc hình thành trên cơ sở các
mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống, phong tục, tâm linh, tâm lý, đạo đức. Là hình
thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông dân và nông thôn. Kinh tế hộ nông dân đã tồn
tại từ rất lâu ở các nớc nông nghiệp, tự chủ trong sản xuất - kinh doanh nông
nghiệp, là pháp nhân kinh tế, bình đẳng trớc pháp luật và là chủ thể nền kinh tế thị
trờng.
5
+Hộ là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên trong hộ gắn bó
với nhau chặt chẽ trớc tiên bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống.
+Trong các t liệu sản xuất của hộ nông dân, ruộng đất là t liệu sản xuất quan
trọng nhất, là t liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế.
+Kinh tế hộ nông dan chủ yếu dựa vào sức lao động của gia đình, không
hoặc rất ít thuê lao động ngoài, các lao động trong gia đình mang tính tự giác cao.
Ngoài các lao động chính thì kinh tế hộ nông dân còn có những lao động phụ đó là
những lao động trẻ em và ngời già.
+Ngời chủ hộ vừa là ngời quản lý điều hành sản xuất,vừa trực tiếp lao động
nên mọi ngời trong hộ đều gắn bó với nhau chặt chẽ trong quá trình sản xuất. Từ
đó các thông tin, các quyết định đợc xử lý nhanh và kịp thời, mang tính hợp lý
cao.
+Tính t hữu của ngời lao động liên hệ với lợi ích cá nhân một cách chặt chẽ,
nó vừa là mục đích, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế hộ phát triển.
Từ những t tởng, những quan điểm, khái niệm và những đặc điểm của kinh tế
hộ nông dân nh đã nêu ở trên chúng ta có thể rút ra đợc bản chất của kinh tế hộ
nông dân thể hiện ở những khía cạnh sau:
+ Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế, trong đó các thành viên hoạt động và
làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích của bản thân, của gia đình và của
toàn xã hội.
+Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế thích nghi nhất với đặc điểm của
sản xuất nông nghiệp, nơi mà các cây trồng, vật nuôi đòi hỏi sự quan tâm sát sao,
sự chăm sóc đúng lúc của con ngời. Đất đai và các t liệu sản xuất khác đòi hỏi một
sự bảo quản và bồi dỡng hợp lý từ ngời sử dụng, một yêu cầu mà không hình thức
sản xuất nào khác đáp ứng đợc.
+ Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế phổ biến mang tính chất đặc thù ở
mỗi vùng, mỗi khu vực và mỗi nớc trên thế giới.
Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở vừa sản xuất, vừa tiêu dùng (mà
ngời ta thờng gọi tự cấp tự túc) sản phẩm mà hộ làm ra có thể đợc tiêu dùng luôn
với vai trò là t liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng.
+Cũng nh những thành phần kinh tế khác, Kinh tế hộ nông dân phải vận
dụng tổng hợp các quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế khách quan trong quá trình
tồn tại và phát triển của mình.
6
+Kinh tế hộ nông dân không những giải quyết tốt các mục tiêu của hộ nông
dân mà còn giải quyết tốt vấn đề môi trờng sinh thái và vấn đề xây dựng nông
thôn mới.
b- Đặc trng của kinh tế hộ nông dân.
Kinh tế hộ nông dân đang tồn tại và phát triển với vai trò là một đơn vị sản
xuất cơ sở của nông nghiệp - nông thôn. Là một thành phần kinh tế độc lập, tự chủ
cùng các thành phần kinh tế khác hình thành lên nền kinh tế thị trờng của nớc ta
hiện hay. Kinh tế hộ nông dân sẽ luôn là một tế bào bền vững và phát triển lành
mạnh trong nền kinh tế, nó mang những đặc trng cơ bản sau đây:
-Đặc trng về sở hữu:
Tuy không đợc sở hữu về đất đai nhng hộ nông dân lại đợc nhà nớc giao
quyền sử dụng ổn định và lâu dài. Đó là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của
mọi quá trình sản xuất trong nông nghiệp. Mọi t liệu sản xuất khác đều thuộc
quyền sở hữu của các thành viên trong hộ, và tất nhiên mọi sản phẩm làm ra đều
thuộc quyền sở hữu của gia đình. Tất cả những điều này tạo lên sự khác biệt giữa
sở hữu hộ nông dân và sở hữu t nhân trong sở hữu tập thể.
-Đặc trng về mục đích sản xuất.
Mục đích sản xuất của kinh tế hộ nông dân đợc xác định chủ yếu trên cơ sở
đảm bảo nhu cầu về lơng thực và thực phẩm cho hộ, một số ít d thừa đợc đem ra
để trao đổi. Tuy nhiên cùng với quá trình phát triển, mục tiêu đảm bảo nhu cầu của
hộ sẽ giảm dần và thay vào đó là sản xuất hàng hoá nhằm nâng cao thu nhập, cải
thiện đời sống cho các thành viên, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu về vật chất
và tinh thần của các thành viên trong gia đình.
-Đặc trng về lao động:
+Thờng thì các hộ nông dân không thuê lao động mà chỉ sử dụng những
thành viên trong gia đình. Trong các ngành kinh tế khác, việc sử dụng lao động là
trẻ em và ngời lớn tuổi là không đợc phép nhng trong kinh tế hộ nông dân thì lao
động trẻ em và ngời lớn tuổi đóng một vai trò rất đáng kể ,hai lao động trẻ em
hoăc ngời lớn tuổi đợc tính bằng một lao động chính.
+Mọi lao động trong hộ nông dân làm việc với tính tự giác cao, tự chủ vì lợi
ích của bản thân, của gia đình và của toàn xã hội.
-Đặc trng về mặt tổ chức:
+Tổ chức của hộ nông dân rất đơn giản, gọn nhẹ chỉ bao gồm những ngời
trong gia đình, trong bộ tộc có quan hệ hôn nhân và huyết thống.
7
+Tổ chức của hộ nông dân rất chặt chẽ, điều khiển mọi quá trình sản xuất
chủ yếu là ngời chủ gia đình trên cơ sở thứ bậc, hiệu lực cao bởi kỷ cơng, lề nếp
mang tính truyền thống.
-Đặc trng về hoạt động kinh tế hộ:
+Hoạt động kinh tế của hộ nông dân khá đa dạng và phong phú, có thể tiến
hành sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, nhiêù ngành nghề .
+Có tính phù hợp và tự điều chỉnh cao, với mỗi thay đổi của môi trờng sản
xuất kinh doanh thì hoạt động kinh tế của hộ có thể tự điều chỉnh để phù hợp .Tuy
nhiên sự tự phù hợp đó nhanh hay chậm, chính xác hay không còn phụ thuộc vào
điều kiện và khả năng của mỗi thành viên trong hộ.
-Đặc trng về phân phối:
Các sản phẩm do hộ nông dân sản xuất ra trớc hết đợc phân phối đều theo
nhu cầu của các thành viên trong gia đình, phần còn d thừa đợc đem bán hoặc trao
đổi theo sự thống nhất giữa mọi thành viên trong gia đình.
Với sáu đặc trng nh đã nêu ở trên, kinh tế hộ nông dân thực sự là thành phần
kinh tế phù hợp với yêu cầu của mọi nền kinh tế đang tồn tại, nó là một trong năm
thành phần kinh tế của Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta trong quá trình tiến lên chủ
nghĩa xã hội.
c-Vai trò của kinh tế hộ nông dân.
Kinh tế hộ nông dân là một trong những thành phần cấu tạo lên nền kinh tế
quốc dân của mỗi nớc, nó không chỉ tự phát triển, tự ảnh hởng mà còn ảnh hởng
tới và chịu sự ảnh hởng tác động của tất cả các thành phần kinh tế khác. Sự tồn tại
và phát triển của kinh tế hộ ảnh hởng sâu sắc tới đời sống vật chất, văn hoá, tinh
thần của mọi tầng lớp dân c trong xã hội.
Trong các học thuyết, các quan điểm của mình, các nhà kinh tế, các nhà
chính trị đã phần nào nêu lên những chính kiến của mình về vai trò của kinh tế hộ.
Trong bất kỳ thời đại nào, bất kỳ thời điểm lịch sử nào kinh tế hộ nông dân vẫn
luôn đóng vai trò quan trọng.
-Cung cấp lợng lơng thực, thực phẩm chủ yếu phục vụ cho đời sống và nhu
cầu của con ngời:
+Hàng năm trên toàn thế giới, với sự ổn định khoảng 300 triệu hộ nông dân
đã đóng góp, giữ vai trò là lực lợng chủ đạo trong nền nông nghiệp toàn cầu. Sản
xuất ra khoảng trên 2000 triệu tấn lơng thực, trên 200 triệu tấn hạt có dầu và
8
khoảng 1000 triệu tấn thịt, sữa, trứng, hàng tỷ tấn rau, quả cung cấp cho gần 6 tỷ
ngời.
+ở Mĩ, chỉ với khoảng 65% đất nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân đã tạo ra
một lợng nông sản chiếm khoảng 70% giá trị sản phẩm nông nghiệp, 50% sản l-
ợng ngô toàn thế giới.
+ở Nhật Bản, kinh tế hộ nông dân đã sản xuất ra một khối lợng sản phẩm đủ
cung cấp cho nhu cầu của cả nớc với khối lợng: 100% nhu cầu về gạo; 81% nhu
cầu về thịt; 98% nhu cầu về trứng; 90% đến 95% nhu cầu về rau, quả
+ở Việt Nam chúng ta với trên 10 triệu hộ nông dân, hàng năm đã tạo ra một
khối lợng nông sản thực phẩn cực lớn với sự tiến bộ vợt bậc, theo thống kê năm
2000 thì khối lợng sản phẩm của toàn ngành nông nghiệp là: 35,36 triệu tấn lơng
thực quy thóc, xuất khẩu đạt 3,6 triệu tấn gạo, đã trồng đợc 717 nghìn ha ngô, sản
lợng xuất khẩu cà phê đạt 694 nghìn tấn, cao su đạt 280 nghìn tấn, sản lợng thịt,
trứng liên tục tăng với tốc độ cao, chúng ta không những đảm bảo nhu cầu lơng
thực, thực phẩm cho nhân dân cả nớc mà còn vơn lên trở thành một trong những n-
ớc xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.
-Hình thành đơn vị tích tụ vốn của xã hội.
Kinh tế hộ nông dân với đặc điểm là đơn vị sản xuất cơ sở và tự chủ đã đóng
vai trò là đơn vị tích tụ vốn của xã hội, cùng vời các đơn vị trong các thành phần
kinh tế khác tạo lên một tổng thể các nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu về vốn của
toàn xã hội.
Nguồn vốn mà các hộ nông dân tích tụ đợc là cơ sở cho việc chuyển từ kinh
tế tự túc tự cấp sang kinh tế hàng hoá với hiệu quả cao mang lại. Kết quả ấy sẽ tạo
điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nông nghiệp, góp phần
tích cực và to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của minh, kinh tế hộ nông dân vừa là
đơn vị tích tụ vốn, vừa đóng vai trò là đơn vị giải ngân nguồn vốn đó vào việc tái
sản xuất hoặc mở rộng ngành nghề, tạo nguồn đầu t vào các ngành khác.
-Tạo công ăn việc làm cho ngời lao động.
Trong quá trình sản xuất, kinh tế hộ nông dân cần sử dụng nhiều lao động với
số ngày công rất cao. Tuy nhiên với mỗi dạng hộ khác nhau, ở mỗi thời điểm và
thời kỳ phát triển của hộ khác nhau mà có nhu cầu về lao động không giống nhau:
+Sử dụng lao động gia đình:
9
Hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình và lao động trong gia
đình cũng là nguồn chủ yếu cung cấp cho nhu cầu của hộ, chúng ta phải nói rằng
đa số lao động trong hộ đều làm việc cho sự phát triển và mục tiêu sản xuất cũng
nh quá trình sản xuất của hộ nông dân.
+Sử dụng lao động gia đình ngoài độ tuổi lao động.
Hiện nay, một tình trạng khá phổ biến là ở các hộ nông dân, việc sử dụng lao
động ngoài độ tuổi lao động, đó là các trẻ em và ngời lớn tuổi, với cách tính cứ hai
lao động này bằng một lao động chính đã góp phần tăng thu nhập cho hộ, giải
phóng dần lực lợng lao động chính ra khỏi nông nghiệp đến một mức hợp lý.
+Sử dụng lao động làm thuê:
Việc sử dụng lao động làm thuê rất ít khi xẩy ra ở những hộ tự túc tự cấp, sản
xuất nhỏ nhng lại là việc làm khá phổ biến ở các hộ nông dân sản xuất hàng hoá
và sản xuất lớn. Những hộ nông dân này việc thuê mớn thêm lao động thờng
xuyên hoặc vào thời vụ là điều cần thiết với tiền công hợp lý đã tạo ra một số lợng
công ăn việc làm khá lớn cho những lao động d thừa ở nông thôn hiện nay.
Kinh tế hộ nông dân, trong quá trình sản xuất và phát triển của mình cần rất
nhiều ngày công lao động. Thực tế đã chứng minh qua những năm vừa qua, kinh tế
hộ nông dân đã giải quyết cho hàng triệu lao động ở nông thôn nớc ta, góp phần
quan trọng vào công cuộc giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động.
-Thực hiện phân công lao động theo đơn vị kinh tế hộ nông dân.
Cùng với quá trình phát triển của mình kinh tế hộ nông dân ngày càng có
điều kiện để tích luỹ tái sản xuất theo cả chiều rộng và chiều sâu, khoa học kỹ
thuật và công nghệ cũng nh máy móc đợc áp dụng và sử dụng vào sản xuất ngày
càng nhiều. Trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm của ngời nông dân ngày càng đợc
nâng lên rõ rệt thêm vào đó là sự phù hợp trong cơ chế và các chính sách của nhà
nớc sẽ giúp cho sản xuất ngày càng phát triển số lao động phục vụ cho nhu cầu
của kinh tế hộ về nông nghiệp ngày càng giảm, sẽ dẫn đến tình trạng d thừa lao
động trong nông nghiệp. Số lao động d thừa này với trình độ ngày càng đợc nâng
lên sẽ chuyển dịch sang làm việc tại các ngành, nghề khác, nhất là các ngành nghề
truyền thống sẽ ngày càng phát triển.
Tất cả những điều này sẽ dẫn tới diện tích đất nông nghiệp trên đầu ngời sẽ
tăng, năng xuất lao động tăng và hiệu quả sản xuất của một lao động sẽ không
ngừng đợc nâng lên.
-Đổi mới kỹ thuật sản xuất.
10
Sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân với t cách là một thành phần
kinh tế tồn tại và luôn đổi mới cùng với quá trình đổi mới, phát triển của nền kinh
tế nói chung. Kinh tế hộ nông dân chịu sự ảnh hởng tác động của các thành phần
kinh tế khác, của nhiều yếu tố khác. Qua quá trình hoạt động, nó luôn phát triển h-
ớng tới hoàn thiện mình, mà đổi mới về kỹ thuật sản xuất chỉ là một mặt đổi mới
của nó. Sự đổi mới về kỹ thuật sản xuất có đợc là do các nguyên nhân tác động sau
đây:
+Ngời nông dân với kinh nghiệm sản xuất của mình ngày càng làm tốt hơn
công việc của mình, phát hiện những khó khăn cần khắc phục và những thuận lợi
cần khai thác phát huy.
+Cùng với quá trình phát triển của mình, việc đầu t cho đổi mới trang thiết bị
sản xuất là điều tất yếu mà việc học hỏi khoa học kỹ thuật mới là việc làm thực sự
cần thiết.
+Trong đời sống kinh tế hộ nông dân thì việc cạnh tranh lành mạnh, sự ghanh
đua với những kết quả đạt đợc sẽ là động lự là nhân tố tích cực đầu t và học hỏi.
+Cùng với sự quan tâm về giáo dục của nhà nớc, các mạng lới khuyến nông
ngày càng hoạt động có hiệu quả thì một hệ quả là trình độ của ngời lao động
trong hộ nông dân ngày một nâng lên. Điều này thực sự là nhân tố tích cực giúp
vận dụng tốt những điều kiện vốn có những t liệu sản xuất trong nông hộ đợc kết
hợp có khoa học mang lại hiệu quả kinh tế cao.
+Qua thời gian và sự phát triển của nền kinh tế, đầu t của nhà nớc cho nông
nghiệp cũng ngày một tăng, góp phần khai thác tốt những tiềm năng, u thế riêng
có của hộ.
Tất cả những điều nói trên kết hợp với nhau một cách hài hoà, khoa học, kinh
nghiệm truyền thống kết hợp với kỹ thuật hiện đại làm cho sản phẩm sản xuất
ngày càng nhiều hơn, chất lợng tốt hơn, giá thành hạ hơn, lợi nhuận thu đợc cao
hơn. Đó cũng là mục tiêu cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân.
Sản xuất hàng hoá có thể sớm đợc áp dụng những tiến bộ khoa học, công
nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất.
-Giữ gìn và làm trong sạch môi trờng sinh thái.
Vấn đề môi trờng và ô nhiễm môi trờng ngày nay đang đợc toàn thể nhân
loại quan tâm cùng giải quyết. Giữ gìn và làm trong sạch môi trờng là vấn đề đang
đợc đặt nên vị trí hàng đầu hiện nay. Kinh tế hộ nông dân, hàng năm với hàng
11
triệu ha cây xanh các loại đợc gieo trồng đã góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ
môi trờng trên thế giới. Đó là điều mà không ai trong chúng ta có thể phủ nhận.
Từ sự tìm hiểu về bản chất, đặc trng và vai trò của kinh tế hộ nông dân nh đã
nêu ở trên, chúng ta có thể khẳng định kinh tế hộ nông dân sẽ tồn tại và luôn là
một thành phần kinh tế quan trọng của mọi quốc gia, sự phát triển của nó không
những làm cho đời sống của ngời dân ngày càng đợc nâng cao, các nguồn lực
trong sản xuất nông nghiệp ngày càng đợc khai thác đầy đủ mà còn có tác dụng to
lớn thúc đẩy sự phát triển của các thành phần, các ngành kinh tế khác:
Đối tợng sản xuất của kinh tế hộ nông dân có đặc điểm riêng biệt đó là cây
trồng và vật nuôi, là những cơ thể sống, chúng sinh trởng và phát triển theo những
quy luật sinh học nhất định. Là các cơ thể sống, vì vậy chúng rất nhạy cảm với
môi trờng tự nhiên mỗi sự thay đổi về thời tiết, khí hậu, về sự chăm sóc của con
ngời đều có tác động trực tiếp đến quá trình phát sinh và phát triển của chúng, và
tất nhiên là ảnh hởng đến kết quả cuối cùng của sản xuất. Do chúng có đặc điểm
nh vậy nên muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải có sự quan tâm đúng mực, thờng
xuyên và thực sự sát sao của con ngời. Mỗi sự biến đổi, thay đổi nhỏ của những cơ
thể sống này con ngời đều phải biết, chúng cần phải đợc chăm sóc đúng lúc đúng
chỗ, đúng khoa học. Để làm tốt những điều này không một chủ thể nào khác mà
chỉ có hộ nông dân đảm đơng nổi. Đặc điểm có đó chỉ phù hợp với trách nhiệm,
chất lợng của lao động gia đình, phù hợp với kiểu tổ chức sản xuất của kinh tế hộ
nông dân.
-Thực tế phát triển kinh tế hộ nông dân đã cho thấy nhiều u điểm mà không
một chủ thể nào có đợc, hơn thế nữa phát triển kinh tế hộ nông dân còn giúp phát
triển lực lợng sản xuất, tạo công ăn việc làm và giải phóng lực lợng ,năng lực sản
xuất ở nông thôn. đây là việc làm thực sự có ý nghĩa với bất kỳ một nền kinh tế
nào, với bất kỳ một xã hội nào. Việc phát triển lực lợng sản xuất, tạo công ăn việc
làm là điều cần thiết cho sự phát triển của xã hội, của con ngời. Năng lực sản xuất
ở nông thôn, nhiều khi còn bị bó buộc, nhng nay nó đã đợc giải phóng, đợc phát
huy tác dụng qua sự phát triển của kinh tế hộ nông dân.
-Phát triển kinh tế hộ nông dân sẽ giúp khai thác hết mọi tiềm năng, tiềm lực
trong nông nghiệp-nông thôn. Khai thác và sử dụng có hiệu quả những t liệu sản
xuất nh đất đai, công cụ lao động những yếu tố mà chỉ có kinh tế hộ mới sử dụng
có hiệu quả nhất.Sản xuất của hộ nông dân mang tính đa dạng, tính thích ứng cao.
Sự phân bố của kinh tế hộ mang tính rộng khắp. Sản phẩm của nông nghiệp mang
tính liên tục, không phân chia thành các bán thành phẩm, không tính toán đợc kết
quả ngay ở mỗi giai đoạn. Kinh tế hộ nông dân tồn tại và phát triển khắc phục đợc
12
những khó khăn tởng chừng không khắc phục nổi, khai thác đợc những tiềm năng
mà không một chủ thể nào khác khai thác đợc.
Thực tế phát triển của mỗi nền kinh tế trong thời gian vừa qua đã chứng minh
sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân là một tất yếu, khách quan, phù
hợp với quy luật của sản xuất nông nghịêp. Bằng những luận giải nh đã nói ở trên,
chúg ta phải công nhận rằng kinh tế hộ nông dân có những u điểm mà không chủ
thể kinh tế nào có đợc. Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực nông nghiệp nông
thôn-nơi mà những tiền đề cho sự phát triển vẫn còn khiêm tốn, đòi hỏi nhiều công
sức đầu t cũng nh cần có sự quan tâm đúng mức của nhà nớc thì sự phát triển của
hình thức kinh tế này là một tất yếu.
Nông nghiệp là một trong ba ngành chính cấu thành lên toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, tuy từng thời kỳ và ở mỗi nớc khác nhau nó có vị trí không giống nhau,
tuy nhiên chúng ta phải nói rằng nông nghiệp luôn đóng một vai trò quan trọng
trong đời sống của nhân dân mỗi nớc. Sự phức tạp của nông nghiệp chỉ phù hợp
với một loại hình sản xuất kinh doanh, mà ở đó mang lại hiệu quả kinh tế cao đó là
kinh tế hộ nông dân.
Thực tế phát triển nền kinh tế của đất nớc chúng ta cũng cho thấy những điều
tơng tự. Qua nhiều năm kinh tế hộ nông dân không đợc khuyến khích phát triển,
thậm chí còn có thời kỳ bị đa vào đối tợng cần cải tạo và loại bỏ đã làm cho bức
tranh kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng thực sự đen tối, đời sống của ng-
ời nông dân thực sự đã phải trải qua nhiều khó khăn. Nhận thức đợc sai lầm này,
cùng vời hàng loạt sự đổi mới, trong văn kiện Đại hội VI của Đảng (1986) và
trong Hiến pháp của nớc CHXHCN Việt nam năm 1992, kinh tế hộ nông dân đã
đợc công nhận và đợc coi là một thành phần kinh tế tồn tại tất yếu, bình đẳng và
lâu dài.
Trong những năm đổi mới vừa qua, nền kinh tế và nông nghiệp nớc ta đã
khởi sắc, đạt đợc những thành tựu to lớn, điều đó có đợc có một sự đóng góp rất
lớn của kinh tế hộ nông dân. Điều này càng một lần nữa khẳng định sự tồn tại và
phát triển của kinh tế hộ nông dân là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật
của sản xuất nông nghịêp.
2- Những nhân tố ảnh hởng tới sự phát triển của kinh tế hộ nông dân.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hởng tới sự phát triển của kinh tế hộ nông dân nh
điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, trình độ phát triển của nền kinh tế các chính
sách vĩ mô của nhà nớc mà chúng ta có thể phân tích ứng với mỗi nội dung phát
triển của kinh tế hộ. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ đề cập đến một số nhân tố chủ
13
yếu ảnh hởng tới việc chuyển kinh tế hộ từ tự cấp tự túc, sản suất nhỏ lên sản xuất
hàng hoá , kinh tế trang trại-mục tiêu mà kinh tế hộ nông dân cần vơn tới trên con
đờng phát triển của mình.
a-Nhóm những nhân tố khách quan:
-Quy mô và diện tích ruộng đất: chúng ta đều biết rằng ruộng đất là t liệu sản
xuất chủ yếu và không thể thay thế đối với nông nghiệp nói chung và kinh tế hộ
nông dân nói riêng. Mọi hoạt động sản xuất của hộ nông dân chủ yếu diễn ra trên
mảnh đất mà họ đang có quyền sử dụng. Tuy nhiên, để có thể tiến hành sản xuất
lớn , sản xuất hàng hoá đợc thì hộ nông dân cần có sự tích tụ và tập trung đến một
mức độ đủ lớn và hợp lý đất đai. Tuỳ từng hộ, tuỳ từng loại hình sản xuất kinh
doanh mà cần quy mô ruộng đất khác nhau nhng chúng cần liền khoảnh và đủ lớn.
-Có sự tác động tích cực và phù hợp trong các chính sách của nhà nớc. Đây là
nhân tố thực sự quan trọng đối với việc phát triển kinh tế hộ nông dân. Mỗi chủ tr-
ơng, chính sách của nhà nớc đa ra đều nhằm tác động tới một mặt nào đó của đời
sống xã hội. Và chính sách đối với việc phát triển kinh tế hộ nông dân cũng vậy,
cũng nhằm đạt đợc mục tiêu nào đó mà nhà nớc đề ra. Các chủ trơng, chính sách
của nhà nớc có thể thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển mạnh mẽ nhng cũng có
thể kìm hãm sự phát triển của nó. Các chính sách quan trọng nh: chính sách về đất
đai, chính sách về thị trờng, chính sách về vốn, chính sách về đầu t
-Có sự phát triển nhất định của cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng cũng là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển của kinh tế
hộ nông dân.quá trình từ sản xuất, tiêu thụ, trao đổi, chuyển đổi các sản phẩm của
kinh tế hộ có đợc diễn ra bình thờng, suôn sẻ, thuận lợi hay không phần lớn phụ
thuộc vào hệ thống cơ sở hạ tầng này. Cơ sở hạ tầng cũng có ảnh hởng rất lớn đến
giá thành các sản phẩm của hộ nông dân.
-Sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá.
Hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa thực sự là điều cần thiết trong
quá trình phát triển từ hộ tự cấp tự túc lên hộ sản xuất hàng hoá. Hình thành các
vùng chuyên môn hoá sẽ đem lại nhiều thuận lợi cho các hộ nông dân, giúp thúc
đẩy phát triển sản xuất,tiêu thụ sản phẩm, tập trung đồng nhất thị trờng đầu vào,
đầu ra Tuy nhiên sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá hoàn toàn
phải dựa trên đòi hỏi khách quan, hợp lý của vùng và tình hình kinh tế.
-Công nghiệp chế biến:
Đi đôi với việc phát triển sản xuất hàng hoá rộng khắp của các hộ nông dân,
việc hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá thì một yêu cầu đặt ra là thị tr-
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét