Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Đa dạng sinh học ở việt nam - thực trạng & giải pháp

 Tuy nhiên, số lớn những loài thú, chim và bò sát bị đe doạ hoặc nguy
cấp được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam (MOSTE, 1992) là một vấn đề rất
được quan tâm. Tổng số lượng những loài bị đe doạ là cao đối với một nước
và phản ánh tình trạng nghiêm trọng về sự đe dọa đối với sinh cảnh hoang dại
ở Việt Nam. Những loài như là trâu rừng,
hươu Eld, tê giác Sumatra và trĩ Edwards
đã trở nên tuyệt trủng ở Việt Nam thế kỷ
này, và không có hành động bảo tồn khẩn
cấp, voi châu Á, tê giác Java và loài sao la
mới được phát hiện cũng có một tương lai
tương tự không xa. Vào thời điểm mà ai
cũng có thể tin rằng toàn bộ động vật trên
thế giới đã được khoa học mô tả hết, con
Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), một
loài sừng rỗng cổ, và hoẵng lớn
(Megamuntiacus vuquangensis), to gần gấp 2
lần con hoẵng thường, cho thấy rằng mặc cho
con người đã sử dụng quá mức sinh sản tự
nhiên của Việt Nam, công tác bảo vệ hữu hiệu
có thể giúp bảo quản những loài đặc hữu và có
giá trị. Cùng với việc xác định loài bò xám, một
loài bò hoang, đầu thế kỷ này, Việt Nam là một nước có giá trị bảo tồn đa
dạng sinh học cao được quốc tế biết đến. Tuy nhiên, số lớn những loài thú,
chim và bò sát bị đe doạ hoặc nguy cấp được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam
(MOSTE, 1992) là một vấn đề rất được quan tâm. Tổng số lượng những loài
bị đe doạ là cao đối với một nước và phản ánh tình trạng nghiêm trọng về sự
đe dọa đối với sinh cảnh hoang dại ở Việt Nam. Những loài như là trâu rừng,
hươu Eld, tê giác Sumatra và trĩ Edwards đã trở nên tuyệt trủng ở Việt Nam
thế kỷ này, và không có hành động bảo tồn khẩn cấp, voi châu Á, tê giác Java
và loài sao la mới được phát hiện cũng có một tương lai tương tự không xa.
Rừng cũng là tài nguyên kinh tế trực tiếp của đất nước. Khoảng 1,4 triệu m3
gỗ được các lâm trưởng quốc doanh khai thác hàng năm. Tuy vậy, một số
lượng lớn hơn được các lâm trường địa phương khai thác mà chúng ta không
có con số chính xác, ước tính khoảng 3 triệu m
3
một năm. Thu hái khoảng 30
triệu bó củi hàng năm trong phạm vi sản lượng lý thuyết 22 - 23 triệu tấn có
thể khai thác từ rừng tự nhiên, nhưng gỗ củi không chỉ được thu hái vừa phải
ở những khu rừng mà nó thường xuyên được khai thác quá mức ở các địa
phương, dẫn đến thu hẹp diện tích rừng và rừng bị xuống cấp. Các vùng nước
ven biển và cửa sông của Việt Nam là nơi tụ hội rất nhiều nguồn cá lớn. Sự
giàu có này được thể hiện bởi một thực tế là ngành thuỷ sản cung cấp một nửa
Trang 5
lượng chất đạm động vật của quốc gia . Mặc dầu 1.07 triệu tấn sản lượng hải
sản thu hoạch năm 1992 nằm trong sản lượng ước tính tối đa cho phép là 1,2 -
1,3 triệu tấn, thực tế là tổng năng lực tàu đánh cá của Việt Nam đã tăng gấp
đôi từ năm 1983 là một bằng chứng cho thấy nguồn tài nguyên này đang có
thể đương đầu với việc sử dụng không được quản lý hợp lý.
I: ĐA DẠNG MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM:
1: ĐIÊU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CỦA VIỆT NAM:
 Việt Nam có tổng diện tích là 330.541 km
2
và trải dài suốt dọc bờ biển
đông nam Châu á với chiều dài khoảng 100 km từ 8
0
30' vĩ độ Bắc xuống tận
cực Nam ở 23
0
vĩ độ Bắc Bắc bán cầu. Ba phần tư lãnh thổ là núi đồi với
những đỉnh cao trên 300m trên mặt nước biển trung bình.
 Nước Việt Nam có hình chữ S với những đồng bằng châu thổ rộng lớn
ở miền Nam (sông Mê Kông) và miền Bắc (sông Hồng) nối với nhau bởi phần
miền Trung ven biển, nhiều núi và hẹp.
Nơi hẹp nhất chỉ có 50km rộng và Việt
Nam có đường biên giới dài (3700 km).
Hầu hết trên lãnh thổ sông đổ trực
tiếp ra biển chỉ riêng một số phần
ở cao nguyên miền Trung đổ sang
phía Tây vào lưu vực sông Mê
Kông của Cămpuchia.
 Khí hậu thay đổi theo độ cao
. Nhiệt độ trung bình ở miền Nam
là 27
0
C trong khi ở miền Bắc chỉ
có 21
0
C. Cứ 100m độ cao nhiệt độ
giảm khoảng 0,5
0
C. Hầu hết cả
nước nhận khoảng 2000 mm mưa
hàng năm, chỉ có một vài nơi miền Trung lượng mưa lên tới 3000. Lượng mưa
bị tác động bởi ba đợt gió mùa chính. Gió mùa đông khá lạnh và khô thổi từ
hướng đông bắc và chỉ tác động đến vĩ độ 16
0
Bắc về phía Nam. Gió mùa
đông nam và gió mùa tây thổi vào các tháng mùa hè mang mưa từ biển vào.
Lượng nắng chiếu khá cao, trung bình khoảng 130 kcal/cm
2
/năm mang lại cho
đất nước này sản lượng nông nghiệp và thiên nhiên cao.
 Hầu hết vùng núi là đất đỏ, trên núi cao có đất mùn và thung lũng sông
và đồng bằng châu thổ có đất phù sa phì nhiêu. Các vùng đá vôi có đất bazan
và ở một vài vùng ven biển đất cát nhiều. Ở một vài vùng đồng bằng có đất
chua phèn.
Trang 6
 Với sự biến đổi lớn về vĩ độ, đọ cao và tính đa dạng về kiểu đất, thay
đổi từ đầm lầy, đồng bằng đến vỉa đá vôi và núi cao đã mang lại cho đất nước
sự biến đổi lớn về môi trường tự nhiên và tính đa dạng sinh học cao. Mật độ
dân cư tạo nên áp lực nghiêm trọng đối với đất.
2: CÁC LOÀI THỰC VẬT TRÊN
ĐẤT LIỀN:
Việt Nam rất phong phú về các loài
thực vật tự nhiên. Trong một vài trường
hợp hầu như tất cả chúng đều bị hoạt động
của con người làm cho thay đổi. Chúng
gồm có:
 Rừng ngập mặn: Những hệ thống
phức tạp nguyên gốc xuất phát từ miềm
Nam và các hệ thống đã bị khai thác khá nhiều trở nên đơn giản ở miền Bắc.
 Rừng chàm: Phát triển trên đất than bùn ở đồng bằng sông Mê Kông.
Có thể trước đây đã được thấy ở đồng bằng sông Hồng. Những khu rừng này
đã tự thay thế bằng rừng thứ sinh và những khu rừng trên đầm lầy than bùn đã
trở nên phong phú hơn do những chồi non mới mọc lên trên gốc cây của
những khu rừng già cỗi.
 Rừng đầm lầy trên những vùng
đất nước ngọt: Những khu rừng ngập
nước theo chu kỳ ở những khu đất
thấp miền nam Việt Nam và một số
mảng rừng nhỏ ở miền Bắc.
 Rừng mưa mùa: Bao gồm rừng
khộp cao nguyên miền Trung cũng
như một số rừng khô ven biển ở miền
đông nam bộ.
 Rừng lá rộng thường xanh/nửa rụng lá đất thấp: Rừng nhiệt đới ở miền
Nam, á nhiệt đới ở miền Bắc. Một số khu vẫn còn trong điều kiện nguyên
thuỷ.
 Rừng thường xanh trên núi/rừng lá rộng nửa thường xanh: Còn tìm thấy
những cánh rừng lẻ ở một vài tỉnh.
Trang 7
 Rừng trên hệ núi đá vôi: Rừng
thuần loại kết hợp với đất pha đá vôi.
Hầu hết còn lại những khu đá tai mèo
không thích hợp cho canh tác nông
nghiệp ở nhiều nơi rừng đã bị xuống
cấp do cháy rừng, khai thác gỗ và khai
khoáng.
 Rừng thường xanh trên núi cao
và rừng thông hỗn giao: Phần lớn phân
bố ở cao nguyên Đà Lạt, vùng núi miền
trung và phía Bắc dãy Hoàng Liên Sơn
với những khoảnh rừng thay đổi mang
dấu ấn địa phương và tính đặc hữu của
khu vực cao.
 Thực vật ở khu: xen kẽ ở những
đỉnh núi cao nhất, đặc biệt là dãy Hoàng Liên Sơn bắc Việt Nam. Trên những
triền dốc cao ở Hoàng Liên Sơn nơi núi nhấp nhô bị mây che phủ những vùng
rộng, những loài thực vật ở đây đặc biệt ưa nước.
3: CÁC ĐƠN VỊ ĐỊA SINH HỌC:
 Có thể dễ dàng chia Việt Nam thành một số các đơn vị địa sinh học đất
liền (đơn vị sinh học) trên cơ sở sự khác nhau về tổ hợp loài và các giới hạn
phân bố các loài chỉ thị. Dải núi chính Trường Sơn đóng vai trò như một vật
cản ngăn cách hai vùng rừng ẩm hơn ở
miền Đông và khô hơn ở miền Tây đổ
xuống đơn vị sinh học lưu vực sông Mê
Kông. Các phần cao hơn của dải núi
bao gồm một số loài đặc hữu và
những loài phụ mà bản thân chúng đã có
thể coi là một đơn vị sinh học và vì thế
có thể tiếp tục chia chúng thành đơn vị
nhỏ đặc thù như Cao nguyên Đà Lạt
và Cao nguyên miền Trung. Ở miền
nam, đồng bằng châu thổ sông Mê Kông vẫn còn những nét rất đặc thù về
phương diện sinh học trải từ những vùng đồi núi ra mãi tận phía đông. Một
đơn vị tự nhiên khác được xem xét là đèo Bạch Mã - Hải Vân, đèo này đã chia
tách vùng nhiệt đới nam trung bộ Việt Nam ra khỏi vùng cận nhiệt đới bắc
trung bộ. Đèo tạo nên một đơn vị khí hậu và động vật được phản ánh trong sự
phân bố của các loài.
Trang 8
 Bắc Việt Nam (được biết về sinh học là Bắc bộ) cho thấy một vài khu
vực ở những mức độ khác nhau được phân chia bởi các con sông lớn (sông
Đà, sông Mã, sông Cả, v.v ). Sự phân bố các loài thú linh trưởng và một số
loài chim đặc hữu cho thấy tầm quan trọng của những con sông này làm ranh
giới cho các loài động vật.
 Cuối cùng là dãy Hoàng Liên Sơn với những ngọn núi cao ở Tây Bắc
đất nước cũng là một đơn vị đặc thù nối với dãy núi Hengduan của Trung
Quốc, phía đông dải Hymalaya . Những dãy núi này cao hơn dãy nũi nối ở
lãnh thổ Việt Nam rất nhiều và cho ta thấy một hệ động thực vật hoàn toàn
khác biệt.
4: MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ VEN BIỂN:
Địa hình và thuỷ văn:
 Với bờ biển dài trên 3260km trải dài suốt 13 vĩ độ từ bắc xuống nam,
môi trường biển của Việt Nam được đặc trưng bởi một dải rộng về sự đa dạng
hình dạng loài theo địa lý, khí hậu, thuỷ văn, kinh tế và địa chính trị.
 Trên 3000 đảo trong khơi và ngoài khơi rải rác khắp lãnh thổ Việt Nam,
gồm cả những quần đảo, Trường Sa và Hoàng Sa. Tổng diện tích ngoài các
đặc khi kinh tế (EEZ) lên tới khoảng một triệu km
2
.
 Thềm lục địa phản ánh đúng hình thể đất nước, rộng và nông ở Bắc và
Nam, nhưng hẹp và sâu ở miền Trung từ Đà Nẵng đi Mũi Dinh. Cả hai thềm
lục địa Bắc và Nam nông và có nhiều mảng cát lầy. Phía Bắc có độ sâu kém
phía nam khoảng 90m và phía Nam
có 50 đằng áp rộng 360 km dọc bờ
biển. Nhiều đảo đá vôi rải rác trong
các khu vực này, đặc biệt ở bắc vịnh
bắc bộ. Dọc bờ biển từ miền Bắc và
miền Trung là những thềm cát, trải
rộng đến tận tổ hợp những hệ đầm
phá ở Huế. Từ Đà Nẵng xuống phía
Nam là bờ đá ngầm.
 Ba khu vực riêng biệt có thể
chia theo điều kiện thuỷ văn khác
nhau; Vịnh Bắc Bộ, Trung và Nam
Việt Nam.
 Miền Trung và miền Nam Việt Nam chỉ đặc trưng bởi hai mùa - gió
màu tây nam (mùa hè) và gió mùa đông bắc (mùa đông). Vịnh Bắc bộ có 4
mùa riêng biệt. Nhiệt độ mặt biển trong mùa đông (tháng 1 đến tháng 3) thay
Trang 9
đổi từ 18-24
0
C trong khi mùa hè (tháng 7 đến 9) thay đổi quanh 30
0
C. Mùa
xuân và mùa thu nhiệt độ trung chuyển. Sông Hồng chịu tác động mạnh mẽ
theo màu về độ mặn và độ xoáy dòng chảy của Vịnh Bắc Bộ độ mặn bề mặt
trong mùa hè giảm xuống 12ppm gần cửa sông. Hướng dòng chính chảy hiện
nay là đông nam - tây bắc trong mùa hè và đông bắc - tây nam trong mùa
đông nhưng có sai khác theo từng khu vực.
 Trong khi gió mùa tây nam thổi, gió thổi cuộn trên mặt biển và trộn xáo
lùa nước trên mặt biển ra khơi mang nước giàu dinh dưỡng dưới đáy biển lên
trên bề mặt, làm cho nhiệt độ giảm xuống còn 22-23
0
C. Hiện tượng này xảy ra
từ tháng 6 đến tháng 9 ở những vùng ven bờ khu vực nam trung bộ, chủ yếu
qunh đảo Phủ Quý và dọc tỉnh Bình Thuận. Khu vực ven biển nam bộ từ
Vũng Tàu đến Cà Mau chịu ảnh hưởng mạnh của sông Mê Kông.
 Ngoài ra, các khu trung và bắc hàng năm phải chịu từ 6 đến 8 trận bão
từ phía Đông đổ vào, hầu hết vào tháng 6 đến tháng 10, mỗi trận từ 3 đến 5
ngày, tốc độ gió khoảng 40 đến 50m/giây.
II: ĐA DẠNG SINH HỌC VỀ HỆ SINH THÁI VÀ LOÀI Ở
VIỆT NAM:
1: ĐA DẠNG CÁC HỆ SINH THÁI CỦA VIỆT NAM:
a) Hệ sinh thái trên cạn:
Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phần
loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật
hoang dã và vi sinh vật có giá trị
kinh tế và khoa học. Các kiểu hệ
sinh thái tự nhiên khác có thành
phần loài nghèo hơn. Kiểu hệ sinh
thái nông nghiệp và khu đô thị là
những kiểu hệ sinh thái nhân tạo,
thành phần loài sinh vật nghèo nàn.
Xét theo tính chất cơ bản là thảm
thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng
mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể
thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng
kín vùng thấp, rừng thưa, trảng
truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao. Trong đó, các kiểu và kiểu
phụ thảm thực vật sau đây có tính ĐDSH cao hơn và đáng chú ý hơn cả: kiểu
rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô
Trang 10
nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm ướt nhiệt đới núi thấp; kiểu phụ rừng
tręn núi đá vôi.
b) Hệ sinh thái đất ngập nước:
Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than
bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm
thời, có nước chảy hay nước tù, là nước
ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả
những vùng nước biển có độ sâu không
quá 6 mét khi triều thấp". Đất ngập
nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về
loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2 nhóm
ĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển.
Trong đó có một số kiểu có tính ĐDSH
cao:
 Rừng ngập mặn ven biển: Rừng
ngập mặn có các chức năng và giá trị
như cung cấp các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi
đẻ, bãi ăn và ương các loài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế
khác; xâm chiếm và cố định các bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển
chống lại tác động của sóng biển và bão tố
ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài
động vật hoang dã bản địa và di cư (chim,
thú, lưỡng cư, bò sát).
 Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn
là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á. U Minh
thượng và U Minh hạ thuộc các tỉnh Kiên
Giang, Cà Mau là hai vùng đầm lầy than
bùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông
Cửu Long của Việt Nam.
 Đầm phá: thường thấy ? vùng ven biển Trung bộ Việt Nam. Do đặc tính
pha trộn giữa khối nước ngọt và nước
mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá
rất phong phú bao gồm các loài nước
ngọt, nước lợ và nước mặn. Cấu trúc
quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo
mùa rõ rệt.
 Rạn san hô, cỏ biển: đây là các
kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng
Trang 11
biển ven bờ, đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới. Quần xã
rạn san hô rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp
xác), cá rạn. Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và đặc
biệt loài thú biển Dugon.
 Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống
các đảo rất phong phú. Vùng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh
giá có mức độ ĐDSH rất cao với các hệ sinh thái đặc thù như rạn san hô, cỏ
biển
Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng
bằng sông Hồng và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long:
 ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha.
Đây là nơi tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật
vùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim
nước.
 ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684
ha. Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng
nguồn sông Mê Công. Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng
là những vùng có tiềm năng sản xuất cao. Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở
đồng bằng sông Cửu Long, đó là hệ sinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái
rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và hệ sinh thái cửa sông.
Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của mình.
Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào
từng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên.
c) Hệ sinh thái biển:
 Việt Nam có đường bờ biển dài
3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên
1 triệu km2 với nguồn tài nguyên sinh vật
biển khá phong phú. Trong vùng biển nước ta
đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật
cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển
hình, thuộc 6 vùng ĐDSH biển khác nhau.
d) Đặc trưng của đa dạng hệ sinh thái ở Việt
Nam:
 Tính phong phú và đa dạng của các kiểu hệ sinh thái: Với một
diện tích không rộng, nhưng trên lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều kiểu hệ sinh
thái khác nhau. Ở từng vùng địa lý không lớn cũng tồn tại nhiều kiểu hệ sinh
thái.
Trang 12
 Thành phần các quần xã trong các hệ sinh thái rất giàu. Cấu trúc
quần xã trong các hệ sinh thái phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều nhánh. Điểm
đặc trưng này làm cho đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam có nhiều điểm khác
biệt so với các nước khác trên thế giới.
 Tính phong phú của các mối
quan hệ giữa các yếu tố vật lý và các
yếu tố sinh học, giữa các nhóm sinh vật
với nhau, giữa các loài, giữa các quần
thể trong cùng một loài sinh vật. Mạng
lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng
với nhiều khâu nối tiếp nhau làm tăng
tính bền vững của các hệ sinh thái. Các
mối quan hệ năng lượng được thực hiện
song song với các mối quan hệ vật chất
rất phong phú, nhiều tầng, bậc thông qua các nhóm sinh vật: tự dưỡng (sinh
vật sản xuất), dị dưỡng (sinh vật tięu thụ), hoại sinh (sinh vật phân hủy) trong
các hệ sinh thái ở Việt Nam là những chuỗi quan hệ mà ở nhiều nước khác
trên thế giới không có được.
 Các hệ sinh thái ở Việt Nam có đặc trưng tính mềm dẻo sinh thái
cao, thể hiện ở sức chịu tải cao; khả năng tự tái tạo lớn; khả năng trung hòa và
hạn chế các tác động có hại; khả năng tự khắc phục những tổn thương; khả
năng tiếp nhận, chuyển hóa, đồng hóa các tác động từ bên ngoài.
 Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy
cảm. Tính mềm dẻo sinh thái của các hệ sinh thái ở Việt Nam làm cho các hệ
đó luôn ở trong trạng thái hoạt động mạnh, vě vậy, thường rất nhạy cảm với
các tác động từ bęn ngoài, kể cả các tác động của thiên nhiên, cũng như những
tác động của con người.
2: ĐA DẠNG LOÀI Ở VIỆT NAM:
 Tập hợp các dẫn liệu nghiên cứu, điều tra cơ bản đã có từ trước đến
nay, thành phần loài thực vật, động vật ở Việt Nam được thống kê thì nhóm
sinh vật vi tảo ở vùng nước
ngọt được xác định là 1.438
loài chiếm 9,6% so với thế
giới (số loài có trên thế giới là
15.000); thực vật bậc cao có
khoảng 11.400 loài chiếm 5%
so với thế giới (số loài có trên
thế giới là 220.000); bò sát có
Trang 13
296 loài chiếm 4,7% so với thế giới (số loài có trên thế giới là 6.300)
Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ ĐDSH
cao trên thế giới với dự tính có thể có tới 20.000-30.000 loài thực vật. Việt
Nam được xếp thứ 16 về mức độ ĐDSH (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới).
a) Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn:
 Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đă ghi
nhận có 15.986 loài thực vật ở Việt Nam. Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc
thấp và 11.458 loài thực vật bậc cao. Trong số đó có 10 % số loài thực vật là
đặc hữu.
 Khu hệ động vật: cho đến nay đã thống kê được 307 loài giun tròn, 161
loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ
nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim,
310 loài và phân loài thú.
 Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng
Đông Dương - Mã Lai của IUCN, Việt Nam
được xem là nơi giàu về thành phần loài và
có mức độ đặc hữu cao so với các nước
trong vùng phụ Đông Dương. Động vật giới
Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu: hơn 100
loài và phân loài chim, 78 loài và phân loài
thú đặc hữu. Riêng trong số 25 loài thú linh
trưởng đã được ghi nhận thì ở Việt Nam có tới 16 loài, trong đó có 4 loài và
phân loài đặc hữu của Việt Nam, 3 phân loài chỉ phân bố ở Việt Nam và Lào,
2 phân loài chỉ có ở vùng rừng hai nước Việt Nam - Cămpuchia.
b) Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa:
 Các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật
cũng như hệ động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loài cây cỏ ngập
nước và bán ngập nước, động vật không xương sống và cá.
 Vi tảo: đã xác định được có 1.438 loài tảo thuộc 259 chi và 9 ngành.
 Cho đến nay đã thống kê và xác định được 794 loài động vật không
xương sống. Trong đó, đáng
lưu ý là trong thành phần
loài giáp xác nhỏ, có 54 loài
và 8 giống lần đầu tiên được
mô tả ở Việt Nam. Riêng hai
nhóm tôm, cua (giáp xác
lớn) có 59 loài thì có tới 7
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét