Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cấp nguyên phụ liệu chủ yếu; hướng dẫn kỹ thuật sản xuất; kiểm định chất
lượng và nhận hàng và thanh toán tiền gia công.
* Bên nhận gia công: Cân đối khả năng sản xuất của công ty ( máy móc
thiết bị, lao động, khả năng sản xuất…) theo yêu cầu đặt hàng của bên đặt gia
công; tự đảm bảo một số phụ liệu; tổ chức quá trình sản xuất; giao hàng và
nhận tiền gia công.
Phân loại các hình thức gia công quốc tế:
* Theo quyền sở hữu nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm:
- Nhận nguyên phụ liệu, giao thành phẩm: Bên đặt gia công chịu trách
nhiệm đảm bảo toàn bộ nguyên phụ liệu cho bên nhận gia công, bên nhận gia
công chỉ tiến hành sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công. Bên nhận gia
công chỉ quản lý và sử dụng nguyên phụ liệu đã nhận để tiến hành sản xuất.
- Mua nguyên phụ liệu, bán thành phẩm: công ty may sử dụng vốn lưu
động của mình để mua nguyên phụ liệu chủ yếu từ bên đặt gia công và tiến
hành sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công theo hợp đồng đã kí kết.
- Hình thức hỗn hợp: Công ty may sẽ mua một số nguyên phụ liệu từ bên
đặt gia công số còn lại có thể mua từ các nhà sản xuất khác trong hoặc ngoài
nước. Sản phẩm sản xuất ra được bán toàn bộ cho bên đặt gia công.
* Theo số lượng chủ thể kinh tế tham gia vào quan hệ gia công:
- Gia công hai bên:Bên đặt gia công đặt gia công tại công ty may, công
ty sẽ đảm nhận toàn bộ quá trình sản xuất sản phẩm.
- Gia công nhiều bên: một công ty may nhận gia công và giao lại một
phần việc cho công ty may khác thực hiện. Trong trường hợp này mọi việc
giao dịch với bên đặt gia công do công ty may nhận gia công chính thức đảm
nhận và cũng chính công ty đó phải chịu trách nhiệm với bên đặt gia công về
những cam kết được ghi trong hợp đồng gia công.
2.2. Xuất khẩu trực tiếp ( FOB ).
Theo phương thức xuất khẩu trực tiếp ( FOB ) công ty may sẽ chủ động
mua các nguyên vật liệu đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất thay vì được
cung cấp bởi người mua nước ngoài. Vì vậy xuất khẩu hàng may mặc theo
phương thức FOB công ty may được thanh toán toàn bộ giá trị của sản phẩm.
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiện nay các công ty may Việt Nam thường xuất khẩu trực tiếp theo ba
phương thức sau:
- Loại 1: Công ty may mua nguyên vật liệu đầu vào để tiến hành sản xuất
từ nhà cung cấp do bên đặt hàng nước ngoài chỉ định. Bên đặt hàng nước
ngoài không chỉ lực chọn nhà cung cấp mà còn mô tả chính xác chủng loại,
màu sắc và phụ kiện mà công ty may phải mua để tiến hành sản xuất sản
phẩm. Thêm vào đó những vấn đề liên quan đến quy mô sản xuất, giá cả và
thời hạn giao hàng cũng được bên đặt hàng quyết định và ghi trong hợp đồng.
Sự khác biệt cơ bản giữa phương thức này với phương thức CMP là mọi rủi
ro về sản xuất, marketing, tiêu thụ bên đặt hàng phải gánh chịu.
- Loại 2: Công ty may nhận mẫu hàng may từ phía bạn hàng. Dựa trên
mẫu này công ty may tiến hành sản xuất các sản phẩm tương tự, nguyên phụ
liệu sử dụng trong quá trình sản xuất do công ty tự quyết định về chủng loại,
nhà cung cấp mà không có sự gợi ý hay cam kết gì với bên đặt hàng. Nếu các
sản phẩm tương tự công ty sản xuất ra được bên đặt hàng chấp nhận thì hai
bên sẽ tiến hành kí kết hợp đồng kinh doanh, công ty may sẽ tiến hành sản
xuất sản phẩm theo quy cách của sản phẩm mẫu đã sản xuất.
- Loại 3: Công ty sản xuất hàng mẫu theo thiết kế của riêng mình và đưa
ra giới thiệu với khách hàng nước ngoài thông qua các cuộc hội trợ, triển lãm,
qua internet, quảng cáo… nếu khách hàng thấy mẫu mã đó phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng nước mình thì hai bên sẽ tiến hành đàm phán để kí kết
hợp đồng kinh doanh. Để tiến hành xuất khẩu theo phương thức này công ty
may phải có thương hiệu riêng hoặc phải sản xuất hàng may mặc theo thương
hiệu đã được đăng kí với thiết kế của riêng mình. Theo phương thức này công
ty may tự chủ động về mẫu mã chủng loại sản phẩm, nguyên phụ liệu sản
xuất sản phẩm, giá thành sản phẩm, số lượng sản phẩm sản xuất…vì vậy công
ty có thể thu được lợi nhuận rất lớn tuy nhiên công ty phải gánh chịu toàn bộ
những rủi ro trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
2.3. Buôn bán đứt đoạn.
Theo phương thức này Công ty may mua nguyên phụ liệu từ nhiều
nước khác nhau sau đó tiến hành sản xuất các sản phẩm may mặc. Sản phẩm
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoàn thành sẽ được bán cho nước thứ ba rồi tiếp tục được các nước này xuất
khẩu sang các thị trường khác.
II. QUẢN LÝ MARKETING ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA
CÔNG TY MAY.
1. Khái niệm quản lý marketing.
Marketing bao gồm tất cả những suy nghĩ, tính toán và hoạt động của
nhà kinh doanh sản xuất tiêu thụ và cả những dịch vụ sau khi bán hàng; hoặc
Marketing là quá trình thích nghi toàn diện với việc tận dụng những khả năng
có lợi đang mở ra của thị trường.
Quản lý marketing là việc quản lý có hiệu quả hoạt động marketing
thông qua quá trình phân tích các khả năng của thị trường, lựa chọn thị trường
mục tiêu thích hợp, xây dựng hệ thống marketing – mix và quản lý tốt việc
thực hiện những nỗ lực marketing.
2. Quá trình quản lý marketing đối với hoạt động xuất khẩu của các
công ty may.
Quản lý marketing xuất khẩu khác với quản lý marketing nội địa đó là
doanh nghiệp phải tính đến sự can thiệp của chính quyền sở tại, tính đa dạng
của các điều kiện thị trường bên ngoài và đòi hỏi những kiến thức riêng như
kỹ thuật marketing, hiểu biết môi trường bên ngoài, khả năng và mức độ sử
dụng kiến thức tích luỹ. Vì vậy khi xây dựng các chính sách marketing xuất
khẩu hàng hoá doanh nghiệp cần phải đảm bảo sự cân bằng giữa chính sách
marketing với những thay đổi của các yếu tố bên ngoài trên thị trường quốc
tế.
Quá trình quản lý marketing của các Công ty xuất khẩu hàng may mặc
bao gồm 5 giai đoạn:
- Nghiên cứu môi trường quốc tế.
- Phân tích các khả năng của thị trường.
- Lựa chọn những thị trường mục tiêu.
- Xây dựng chương trình marketing – mix.
- Thực hiện các biện pháp marketing.
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1. Nghiên cứu môi trường quốc tế.
Trên thị trường quốc tế ba môi trường đặc biệt quan trọng mà các Công
ty may cần phải chú ý đó là môi trường kinh tế, môi trường văn hoá và môi
trường chính trị - pháp luật.
2.1.1. Môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động xuất khẩu
của các công ty may, nó phản ánh tiềm năng thị trường và hệ thống cơ sở hạ
tầng của một quốc gia qua đó các công ty may có thể quyết định xem đó có
phải là thị trường mục tiêu của mình hay không. Việc xác định và đánh giá
mức độ hấp dẫn của thị trường có thể căn cứ vào 3 yếu tố: dân số, cơ cấu kinh
tế và mức sống của dân cư.
Trong những năm gần đây, môi trường marketing quốc tế có nhiều thay
đổi do xu hướng nhất thể hoá kinh tế với nhiều mức độ khác nhau như khu
vực mậu dịch tự do, khu vực thống nhất thuế quan, khu vực thị trường chung,
khu vực hợp nhất kinh tế…xu hướng này có tác động đến hoạt động xuất
khẩu của các quốc gia và các doanh nghiệp theo hai hướng: tạo ra sự ưu đãi
cho nhau và kích thích tăng trưởng của các thành viên.
Qua nghiên cứu môi trường kinh tế các công ty may có thể đưa ra những
quyết định về thị trường xuất khẩu dựa vào khả năng của mình.
2.1.2. Môi trường văn hoá.
Môi trường văn hoá có ảnh hưởng đặc biệt đến hoạt động marketing xuất
khẩu của các công ty may trên thị trường quốc tế. Do mỗi quốc gia, mỗi dân
tộc có một bản sắc văn hoá riêng quyết định mạnh mẽ đến hành vi, thái độ, sở
thích, tâm lý… của người tiêu dùng của quốc gia, dân tộc đó.
Theo góc độ marketing xuất khẩu, các công ty may cần hiểu rõ nền văn
hoá trên cả hai phương diện: thứ nhất, hiểu biết nền văn hoá để có thể thu
nhận những hình mẫu khái quát về đặc tính văn hoá; thứ hai, hiểu biết nền
văn hoá cho phép nắm bắt hành vi, thái độ, sở thích…liên quan đến sản phẩm
may mặc và đến hoạt động marketing xuất khẩu của công ty.
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.3. Môi trường chính trị - pháp luật.
Môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động
marketing xuất khẩu của các công ty may và thường được nghiên cứu trên hai
phương diện:
- Môi trường của nước chủ nhà ( nước xuất khẩu ): Môi trường này ảnh
hưởng đến hoạt động marketing xuất khẩu của các công ty may thông qua
việc tạo cơ hội xuất khẩu, áp dụng các biện pháp bảo vệ xuất khẩu, hình thành
các khu vực sản xuất cho xuất khẩu. Các yếu tố cơ bản của môi trường chính
trị - pháp luật của nước chủ nhà hay vai trò của Chính phủ được thể hiện
thông qua: Cấm vận và trừng phạt kinh tế; Kiểm soát xuất khẩu ( kích thích,
yểm trợ, quản lý và hạn chế xuất khẩu ); Kiểm soát nhập khẩu ( thuế, giấy
phép) và điều tiết hành vi kinh doanh quốc tế.
- Môi trường chính trị - pháp luật của nước sở tại ( nước nhập khẩu ):
ảnh hưởng của chính quyền sở tại đối với các công ty xuất khẩu hàng may
mặc ở mỗi quốc gia có sự khác biệt đáng kể. Vì vậy các công ty may trong
chương trình marketing xuất khẩu cần chú ý những vấn đề sau: Thái độ đối
với việc mua hàng ngoại nhập, sự ổn định chính trị, quy định về tỷ giá chuyển
đổi và thủ tục hành chính.
2.2. Phân tích các khả năng của thị trường.
Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt ngày nay
các công ty may phải kịp thời nắm bắt các nhu cầu mới, khả năng mới của thị
trường qua đó đánh giá các triển vọng của thị trường và quyết định xem đó có
phải là thị trường mục tiêu của mình không. Vậy làm thế nào để phát hiện và
đánh giá những khả năng của thị trường?
Công ty có thể tìm kiếm thu thập thông tin về thị trường mới bằng nhiều
phương pháp như phương pháp thu thập thông tin chính thức và phương pháp
thu thập thông tin không chính thức…
- Phương pháp thu thập thông tin chính thức: Công ty may có những kế
hoạch và hành động cụ thể để tìm hiểu khả năng của các thị trường để tìm
kiếm cơ hội mở rộng thị trường cho mình. Công ty có thể tiến hành các biện
pháp hoặc là thâm nhập sâu hơn vào các thị trường truyền thống của mình tức
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
là tăng khối lượng bán những hàng hoá cũ trên thị trường cũ; hoặc là nghiên
cứu thiết kế sản xuất sản phẩm may với mẫu mã, kiểu dáng mới và giới thiệu
trên những thị trường hiện có của mình; hoặc là mở rộng ranh giới thị trường
bằng cách bán những sản phẩm may với mẫu mã kiểu dáng hiện tại trên
những thị trường mới; hoặc là chiếm lĩnh thị trường bằng cách chào bán
những sản phẩm may mới trên những thị trường mới.
- Phương pháp thu thập thông tin không chính thức như theo dõi các biến
động trên thị trường qua sách báo, xem các cuộc triển lãm chuyên đề, nghiên
cứu hàng hoá của đối thủ cạnh tranh…qua đó có thể phát hiện được những thị
trường mới mà công ty có thể thâm nhập.
Sau khi tiến hành công tác nghiên cứu tìm hiểu về các thị trường mới,
công ty đánh giá lại khả năng marketing để xác định mình nên thâm nhập vào
thị trường nào và thâm nhập vào thị trường đó có phù hợp với mục tiêu và
tiềm năng của công ty hay không bởi có thể công ty tìm thấy một thị trường
có sức hấp dẫn rất lớn nhưng lại không đủ tiềm năng để khai thác thị trường
thì việc thâm nhập vào thị trường đó cũng không đem lại hiệu quả cho mục
tiêu phát triển của công ty.
2.3. Lựa chọn thị trường mục tiêu.
Việc lựa chọn thị trường mục tiêu là một vấn đề rất phức tạp và quan
trọng trong quá trình quản lý marketing nhằm thúc đẩy xuất khẩu các sản
phẩm của các công ty may. Nó liên qua trực tiếp đến sự thành công của công
ty và cho phép tiết kiệm thời gian, kinh phí để thâm nhập và phát triển thị
trường xuất khẩu.
Mục đích của việc lựa chọn thị trường mục tiêu là xác định số lượng các
thị trường triển vọng để công ty tập trung khả năng của mình và xác định các
đặc điểm của từng thị trường để có thể áp dụng các chính sách marketing xuất
khẩu một cách có hiệu quả nhất. Đồng thời khi lựa chọn thị trường mục tiêu
công ty may cần tính đến các yếu tố khác như các yếu tố gắn liền với lợi
nhuận, với sự tăng trưởng và các yếu tố rủi ro…
Có hai dạng chiến lược lựa chọn thị trường mà các công ty may có thể
lựa chọn đó là:
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chiến lược phát triển thị trường theo chiều sâu: Các công ty may chỉ
lựa chọn và áp dụng các chính sách marketing trên một số ít thị trường. Chiến
lược này sẽ làm cho việc phân chia thị trường của công ty rõ nét hơn và củng
cố được vị trí cạnh tranh của công ty trên các thị trường đó. Ưu điểm của
chiến lược này là tận dụng được thế mạnh của chuyên môn hoá, tích luỹ kiến
thức về thị trường quốc tế sâu rộng hơn, khả năng quản lý tốt, xây dựng được
các quan hệ với đối tác…tuy nhiên chiến lược này có nhược điểm là yêu cầu
đầu tư lớn và do đó mức độ rủi ro lớn trong trường hợp các thị trường được
lựa chọn chuyển sang giai đoạn bão hoà hay khi thị trường và môi trường của
nó thay đổi mạnh mẽ.
- Chiến lược trải rộng thị trường: Công ty sản xuất hàng may mặc xuất
khẩu cùng một lúc tấn công một số lượng lớn thị trường. Chiến lược này có
ưu điểm là phân tán được các rủi ro thị trường, tính linh hoạt trong điều hành
cao, yêu cầu về chi phí không lớn như chiến lược tập trung thị trường. Nhưng
nhược điểm cơ bản của chiến lược này là phân tán các nỗ lực marketing, khó
khăn trong quản lý, không tận dụng được lợi thế của chuyên môn hoá do cùng
một lúc công ty phải đáp ứng nhu cầu của nhiều thị trường mà mỗi thị trường
lại có đặc điểm và thị hiếu tiêu dùng riêng.
Sau khi lựa chọn được chiến lược thị trường các công ty may có thể sử
dụng các phương thức sau để tham gia vào thị trường:
- Phương pháp thụ động: Các công ty may chỉ hạn chế hoạt động xuất
khẩu của mình trong việc thoả mãn các đơn đặt hàng từ phía bạn hàng nước
ngoài hoặc gián tiếp lựa chọn thị trường thông qua việc thay đổi các đại lý
xuất khẩu.
- Phương pháp chủ động: Phương pháp này gồm hai loại:
+ Phương thức mở rộng: các công ty may mở rộng hoạt động xuất khẩu
của mình trên các thị trường có sự tương đồng với thị trường nội địa.
+ Phương thức thu hẹp: Các công ty may tiến hành xuất khẩu vào một
hay một số thị trường có triển vọng nhất và loại bỏ những thị trường ít hấp
dẫn hơn.
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kết hợp phương thức thị trường mở rộng hay thu hẹp các công ty may
lựa chọn thị trường theo các bước:
- Xác định và lựa chọn các cơ hội thị trường.
- Đánh giá khả năng của công ty đối với việc nắm bắt các cơ hội thị
trường.
- Đánh giá vị trí cạnh tranh của công ty theo thị phần hiện tại và thị phần
tương lai.
- Xác định cơ hội tài chính theo giá thị trường của sản phẩm và tốc độ
tăng giá đó.
- Đánh giá khả năng nắm bắt cơ hội tài chính của công ty.
- Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá theo nước/ngành/sản phẩm và lựa chọn
những thị trường có triển vọng nhất theo khả năng của công ty.
Đối với nhiều công ty việc lựa chọn thị trường cũng bao hàm lựa chọn
những đoạn thị trường thích hợp. Đoạn thị trường là một nhóm người tiêu
dùng có phản ứng như nhau đối với một tập hợp kích thích marketing. Các
công ty may có thể lựa chọn hoặc là một số ít thị trường nhưng tấn công vào
nhiều đoạn khác nhau, hoặc là một số ít đoạn thị trường nhưng trên nhiều thị
trường khác nhau.
Trên cơ sở lựa chọn thị trường/đoạn thị trường các công ty may cần phải
định vị sản phẩm. Chiến lược định vị mà công ty có thể sử dụng đó là định vị
toàn cầu, định vị theo thị trường xuất khẩu hoặc định vị theo nhóm nước đồng
nhất về kinh tế và văn hoá.
2.4. Thiết kế hệ thống marketing – mix.
Marketing – mix là tập hợp những công cụ marketing mà công ty sử
dụng để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thị trường mục
tiêu.
Trong marketing – mix có rất nhiều công cụ khác nhau. McCarthy đã
đưa ra một cách phân loại các công cụ này theo 4 yếu tố gọi là 4P. Đó là: Sản
phẩm ( Product ), giá cả ( Price ), tiêu thụ ( Place – phân phối ) và khuyến mại
( Promotion )
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.4.1. Quản lý sản phẩm.
Trong marketing sản phẩm không phải là giá trị sử dụng của người bán
nhưng nó lại là giá trị sử dụng của người mua. Sản phẩm rất đa dạng và các
công ty đều mong muốn làm ra thật nhiều sản phẩm để thu được lợi nhuận tối
đa. Sản phẩm muốn được người mua chấp nhận thì nó phải có giá cả, chất
lượng, phải được người mua chấp nhận và phù hợp với thị hiếu của họ. Vì
vậy, chiến lược sản phẩm là vũ khí sắc bén nhất trong cạnh tranh trên thị
trường đồng thời là phương pháp hiệu quả nhất để tạo ra nhu cầu mới.
Trong công tác xây dựng chính sách sản phẩm của mình các công ty
may, các nhà quản lý cần phải trả lời câu hỏi: Người tiêu dùng cần sản phẩm
gì của công ty? Và muốn có câu trả lời chính xác các công ty may không có
cách nào khác là phải tiến hành thật tốt khâu nghiên cứu thị trường. Mặt khác
các công ty may cần nắm được chu kì sống của sản phẩm và căn cứ vào đó để
có chiến lược về giá và phân phối sản phẩm thích hợp.
Chu kì sống của sản phẩm là thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh số
tiêu thụ từ khi sản phẩm được tung ra thị trường cho đến khi nó phải rút lui
khỏi thị trường. Mỗi sản phẩm có thể có số lượng và độ dài của chu kì sống là
khác nhau nhưng ta có thể khái quát chu kì sống của sản phẩm có bốn giai
đoạn:
- Giai đoạn tung sản phẩm vào thị trường: sản phẩm mới được đưa ra
chào bán trên thị trường, người tiêu dùng ít biết đến sản phẩm vì vậy giai
đoạn này doanh số thu về còn ít, chi phí lớn. Trong giai đoạn này công ty
thường chịu lỗ hoặc lãi rất ít mặc dù giá bán thường được quy định cao.
- Giai đoạn phát triển: mức tiêu thụ bắt đầu tăng mạnh, lợi nhuận trong
giai đoạn này tăng.
- Giai đoạn bão hoà ( chín muồi ): nhịp độ tăng mức tiêu thụ bắt đầu
chững lại và để cạnh tranh được trên thị trường công ty tiến hành hạ giá bán,
tăng quảng cáo, tăng cường chi phí để nghiên cứu thử nghiệm thiết kế sản
phẩm mới do đó trong giai đoạn này lợi nhuận của công ty thường giảm sút.
- Giai đoạn suy thoái: việc bán hàng trở nên khó khăn, khách hàng giảm
dần, doanh số bán tụt xuống, ít hiệu quả.
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thường khi sản phẩm bước vào cuối giai đoạn bão hoà thì các công ty
may tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm, thiết kế sản phẩm mới để thay thế sản
phẩm trên thị trường sắp đi vào giai đoạn suy thoái. Các công ty có thể phát
triển sản phẩm mới theo nhiều cách hoặc là sản xuất sản phẩm hoàn toàn mới
so với những sản phẩm đã được chào bán trước đây; hoặc là cải tiến những
sản phẩm cũ theo các hướng như cải tiến bản thân sản phẩm, cải tiến bao bì
sản phẩm hay cải tiến dich vụ sản phẩm; hoặc là tìm kiếm các công dụng mới
của sản phẩm hiện tại. Quá trình phát triển sản phẩm mới thường bao gồm các
bước sau:
- Nảy sinh ý đồ về sản phẩm căn cứ vào khả năng về vốn, kỹ thuật… của
công ty, nghiên cứu thị trường để hình thành mô hình mẫu về sản phẩm phù
hợp với nhu cầu của thị trường.
- Thử nghiệm sản phẩm: đưa sản phẩm vào thử nghiệm nhằm khắc phục
những tồn tại, tính toán mức độ tin cậy của sản phẩm khi đưa vào tiêu thụ
hàng loạt.
- Kiểm tra hoàn thiện công nghệ sản xuất hàng loạt, khắc phục những
khuyết tật. Tiến hành sản xuất hàng loạt và đưa sản phẩm phân phối rộng rãi
trên thị trường.
2.4.2. Quản lý giá.
Giá cả là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình hoạt
động kinh doanh của công ty, nó là một bộ phận cấu thành marketing hỗn
hợp, là công cụ cạnh tranh quan trọng của công ty đồng thời nó cũng có ảnh
hưởng lớn trong quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Do đó việc định
giá bán của công ty phải đảm bảo sao cho vừa đủ đắp chi phí của công ty,
đảm bảo mức lãi và người tiêu dùng chấp nhận. Khi định giá cho sản phẩm
của mình các công ty may có thể sử dụng các phương pháp sau:
- Định giá dựa vào chi phí: trên cơ sở kết quả của việc tính toán, phân
tích chi phí và mức lãi dự kiến công ty đưa ra các mức giá dự kiến khác nhau
thích ứng với điều kiện của mình.
- Định giá theo nhu cầu trên thị trường: theo phương pháp này công ty
phải định mức giá bán từ mức giá mà người tiêu dùng có thể chấp nhận, khi
Nguyễn Hải Khanh - Quản lý Kinh tế 44A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét