cho rằng các quốc gia nên có chính sách nhằm khuyến khích xuất khẩu hạn chế
nhập khẩu, tổng của cải của thế giới là rất hạn chế cho nên khi có một quốc gia
đợc lợi thì quốc gia kia sẽ bị thiệt hại. Các quan điểm về thơng mại kể từ đây đ-
ợc các nhà kinh tế hoàn thiện dần và đại diện trong số họ là Adam Smith, David
Ricacdo, Hecksher-Ohlin Cho đến năm 1980 đã có những chuyển biến quan
trọng trong quan điểm của nhà kinh tế học mà kết quả là việc ra đời của nhiều
cách giải thích khác nhau, trong đó chứng minh lợi thế so sánh không chỉ là
nguồn gốc duy nhất dẫn đến thơng mại quốc tế. Ta xét một số quan điểm chính:
Adam Smith đã đa ra các phân tích có tính hệ thống về nguyên
nhân dẫn đến thơng mại quốc tế. Theo quan điểm của mình, ông đã cho rằng
hai quốc gia hoàn toàn có thể tăng sản lợng nếu mỗi quốc gia thực hiện chuyên
môn hoá sản xuất các mặt hàng mà quốc gia đó có nhiều lợi thế nhất sau đó
đem trao đổi hàng hoá với nớc kia. Và nh vậy cả hai quốc gia sẽ đều trở nên
sung túc hơn xét về lợng hàng dành cho tiêu thụ. Nh vậy ta có thể thấy phơng
pháp lập luận của Adam Smith rất đơn giản nhng ông đã đạt đợc một thành tựu
đó là phần nào ông đã giải thích đợc bản chất của hoạt động buôn bán giữa các
nớc. Nếu một nớc không có những điều kiện tự nhiên để trồng cây cà phê hoặc
chuối thì nớc đó buộc phải nhập các mặt hàng này. Tuy nhiên quan hệ thơng
mại nh vậy chỉ diễn ra giữa những nớc công nghiệp phát triển và các nớc đang
phát triển, nó chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong thơng mại quốc tế. Trên thực tế
nguyên lý lợi thế tuyệt đối không giải thích đợc nhiều vấn đề, chẳng hạn điều gì
sẽ xảy ra nếu một quốc gia tỏ ra bất lợi ở tất cả các mặt hàng. Những vấn đề nh
vậy đợc các nhà kinh tế khác tiêu biểu là David Ricado xem xét khi xây dựng lí
thuyết về lợi thế so sánh - một trong những lí thuyết quan trọng nhất của kinh tế
học quốc tế.
Trong lí thuyết về lợi thế so sánh, David Ricado đã chỉ ra: Nếu
mỗi quốc gia thực hiên việc chuyên môn hoá sản xuất các mặt hàng có lợi thế
so sánh thì tổng sản lợng các mặt hàng sẽ tăng lên và tất cả các nớc tham gia
hoạt động thơng mại quốc tế sẽ sung túc hơn. Trong trờng hợp một nớc tỏ ra
kém hiệu quả hơn các nớc khác trong việc sản xuất các mặt hàng thì vẫn còn
tồn tại cơ sở dẫn tới việc chuyên môm hoá sản xuất và trao đổi. Cụ thể là: quốc
gia đó sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có mức lợi thế tuyệt đối lớn nhất (tức
là mặt hàng có lợi thế so sánh) và nhập khẩu các mặt hàng có lợi thế tuyệt đối
nhỏ nhất.
5
Khác với quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng lợi
thế so sánh dựa trên sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia,
Hecksher và Ohlin lại cho rằng lợi thế so sánh xuất phát từ sự khác biệt giữa các
quốc gia về yếu tố sản xuất sẵn có và sẵn sàng đợc sử dụng, và sự khác biệt về
tỷ lệ hay hàm lợng các yếu tố đó dùng để sản xuất một loại hàng hoá. Định lý
Hecksher-Ohlin phát biểu: Một nớc sẽ xuất khẩu những loại hàng hoá mà việc
sản xuất chúng cần nhiều yếu tố rẻ và tơng đối sẵn có của nớc đó, và nhập khẩu
những loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố đắt và khan
hiếm ở nớc đó.
Nh vậy chúng ta có thể thấy bất cứ một nớc nào dù là phát triển hay đang
phát triển cũng luôn tạo ra đợc lợi thế của mình trong việc sản xuất các mặt
hàng có lợi thế nhất để có thể xuất khẩu thu ngoại tệ hoặc thay thế bằng các
hoạt động trao đổi khác. Chính vì lẽ đó mà việc thúc đẩy xuất khẩu là cơ sở cho
việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, điều này có thể đợc chứng minh
trong thực tế.
Hoạt động xuất khẩu cũng tác động rất lớn đến nền kinh tế Quốc dân.
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chính cho nhập khẩu, phục vụ cho công nghiệp
hoá đất nớc. Sự tăng trởng kinh tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải có bốn điều
kiện: nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật. Song không phải bất cứ quốc gia
nào cũng có đợc các điều kiện ấy. Trong thời kỳ hiện nay, hầu hết các nớc đang
phát triển đều thiếu vốn, kỹ thuật và thừa lao động. Để giải quyết đợc tình trạng
này, họ buộc phải nhập từ bên ngoài những yếu tố mà trong nớc cha có khả
năng đáp ứng. Nhng vấn đề đặt ra là làm thế nào để có đủ ngoại tệ cần thiết cho
việc nhập khẩu này?
Thực tiễn cho thấy, mỗi nớc (đặc biệt là các nớc đang phát triển nh Việt
Nam) có thể sử dụng các nguồn huy động vốn chính nh:
- Đầu t nớc ngoài.
- Vay nợ, viện trợ.
- Thu từ nguồn xuất khẩu.
Tầm quan trọng của nguồn vốn đầu t nớc ngoài, nguồn vốn vay nợ thì
không ai có thể phủ nhận đợc, song việc huy động nguồn vốn này không phải là
một việc dễ dàng. Sử dụng nguồn vốn này thì các nớc đi vay phải chịu mốt số
6
thiệt thòi nhất định và dù bằng cách này hay cách khác thì cũng sẽ phải hoàn lại
vốn cho nớc ngoài. Điều này là vô cùng khó khăn bởi đang thiếu vốn lại càng
thiếu vốn thêm.
ở các nớc kém phát triển, một trong những vật cản chính cho sự phát
triển kinh tế là thiếu nguồn lực vốn trong quá trình phát triển. Nguồn vốn huy
động từ nớc ngoài đợc coi là cơ sở chính nhng mọi cơ hội đầu t hoặc vay nợ từ
nớc ngoài hoặc các tổ chức quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu t và ngời cho
vay thấy đợc khả năng xuất khẩu của đất nớc đó vì đây là nguồn chính để bảo
đảm nớc này có thể trả đợc nợ.
Nh vậy, xuất khẩu đóng góp vào quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy sản xuất phát triển. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sẽ giúp các nớc
kém phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ nông nghiệp sang công nghiệp
phù hợp xu hớng phát triển của nền kinh tế thế giới.
Có hai cách về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
Một là, xuất khẩu chỉ tiêu thụ những sản phẩm thừa đó với nhu cầu
nội địa. Trong trờng nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất về cơ
bản còn cha đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ sự thừa ra của nền sản xuất
thì xuất khẩu chỉ ở quy mô nhỏ bé và tăng trởng chậm.
Hai là, coi thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ chức sản
xuất. Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển, đợc thể hiện qua những điểm sau:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cũng có cơ hội phát triển. Chẳng
hạn, khi phát triển ngành công nghiệp thì cũng tạo điều kiện phát triển ngành
nông nghiệp.
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm, góp phần
ổn định sản xuất.
- Xuất khẩu là phơng tiện quan trọng để tạo vốn thu hút kĩ thuật công
nghệ mới từ các nớc phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nội địa, tạo năng
lực sản xuất mới.
7
Hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quan trọng vì nó tạo điều kiện mở rộng
khả năng tiêu dùng của một nớc. Ngoại thơng cho phép một nớc có thể sử dụng
tất cả các mặt hàng với số lợng nhiều hơn giới hạn khả năng sản xuất.
Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cờng hiệu quả
sản xuất của từng quốc gia. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì phân
công lao động ngày càng sâu sắc. Ngày nay đã có những sản phẩm mà việc chế
tạo từng bộ phận đợc thực hiện ở nhiều nớc khác nhau. Để hoàn thiện đợc sản
phẩm đó, ngời ta phải tiến hành xuất khẩu linh kiện từ nớc này sang nớc khác
để lắp ráp.
Đối với một đất nớc cũng không nhất thiết sản xuất tạo ra đủ mặt hàng
mà mình cần. Thông qua xuất khẩu, họ có thể tập trung vào sản xuất một vài
loại mà mình có lợi thế sau đó mang ra trao đổi những thứ mà mình cần
Rõ ràng ta thấy ở đây xuất khẩu là rất quan trọng trong việc thúc đẩy
chuyên môn hoá sản xuất, giúp cho các nớc khai thác đợc triệt để lợi thế của
mình tạo điều kiện cho các quốc gia tiến hành chuyên môn hoá sâu.
Với đặc điểm đồng tiền thanh toán làm ngoại tệ đối với một hoặc cả hai
bên, xuất khẩu góp phần làm tăng ngoại tệ cho mỗi quốc gia đặc biệt đối với
những nớc nghèo, đồng tiền có giá trị thấp thì đó là nhân tố tích cực tới cung
cầu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nền sản xuất trong nớc phát triển. Đồng thời nó
cũng là một nhân tố quyết định sự tăng trởng, phát triển kinh tế. Thực tế chứng
minh những nớc phát triển là những nớc có nền ngoại thơng mạnh và năng
động.
Hoạt động xuất khẩu với nhiều hình thức đa dạng thể hiện sự phát triển
của phân công lao động quốc tế. Vì vậy nó đã chiếm vị trí trung tâm trong các
hoạt động kinh tế đối ngoại và thực hiện các chức năng cơ bản sau:
- Lu thông hàng hoá trong nớc với thị trờng ngoài nớc.
- Tạo nguồn vốn kĩ thuật từ bên ngoài có lợi trong quá trình sản xuất
trong nớc. Xuất khẩu hàng hoá thu nguồn ngoại tệ cho đất nớc là nguồn vốn vật
chất cần thiết cho hiện đại hoá và công nghiệp hoá. Trong khi đó, nhập khẩu tạo
điều kiện cho việc tiếp nhận những dây chuyền công nghệ, kĩ thuật tiên tiến từ
nớc ngoài, làm tăng hiệu quả sản xuất trong nớc.
8
- Xuất khẩu có thể làm thay đổi cơ cấu vất chất của tổng sản phẩm xã hội
và tổng thu nhập quốc dân nhằm thích ứng với nhu cầu tích luỹ. Xuất khẩu thúc
đẩy khoa học phát triển, làm tăng C - giá trị máy móc thiết bị và làm giảm V -
giá trị lao động cấu thành trong giá trị hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu hữu cơ của
t bản.
- Xuất khẩu làm tăng kiệu quả của nền kinh kết bằng việc tạo ra môi tr-
ờng thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, tăng khả năng khai thác lợi thế của mỗi
quốc gia.
- Xuất khẩu tác động trực tiếp đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân, tác động của xuất khẩu ảnh hởng rất nhiều đến các
lĩnh vực của cuộc sống. Sản xuất hàng hoá xuất khẩu sẽ thu hút đợc hàng triệu
lao động vào làm việc, tạo ra thu nhập ổn định, đồng thời tạo ra ngoại tệ để
nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của nhân dân.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế trên cơ sở vì
lợi ích của mỗi bên, đồng thời gắn liền sản xuất trong nớc với phân công lao
động quốc tế. Xuất khẩu là một trong những nội dung chính trong chính sách
đối ngoại của nớc ta đối với các nớc trên thế giới vì mục tiêu dân giàu nớc
mạnh.
Nh vậy có thể nói đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo ra động lực cần thiết cho
việc giải quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế. Điều này nói lên tính
khách quan của việc tăng cờng xuất khẩu trong quá trình phát triển nền kinh tế.
Tầm quan trọng của XK đối với Doanh nghiệp.
Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nớc có cơ hội tham
gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trờng thế giới về giá cả và chất lợng. Những yếu
tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị
trờng.
Sản xuất hàng xuất khẩu đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn luôn đổi
mới và hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh. Đồng thời có ngoại tệ để đầu t
lại quá trình sản xuất không những cả về chiều rộng mà còn cả chiều sâu.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đợc nhiều lao
động vào làm việc, tạo ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật
9
khẩu tiêu dùng, vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, vừa thu hút
đợc lợi nhuận.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng
quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nớc ngoài trên cơ sở lợi ích của
cả hai bên.
Nh vậy đứng trên bất kỳ góc độ nào ta cũng thấy sự thúc đẩy xuất khẩu là
rất quan trọng. Vì vậy thúc đẩy xuất khẩu là cần thiết và mang tính thực tiễn
cao.
II. Nội dung và quy trình của hoạt động xuất
khẩu
Xuất khẩu là một công việc bán các hàng hoá hoặc cung cấp các dịch vụ
cho nớc ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ (là ngoại tệ đối với 1 hoặc cả hai bên) làm
phơng tiện thanh toán.
Công tác tổ chức hoạt động xuất khẩu tơng đối phức tạp, có thể thay đổi
theo mỗi một loại hình xuất khẩu.
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá
(bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nớc. Khi sản xuất
phát triển và việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở
rộng phạm vi ra ngoài biên giới các quốc gia hoặc giữa thị trờng nội địa với các
khu chế xuất trong nớc.
Ngày nay, không một quốc gia nào có thể tăng trởng và phát triển kinh tế,
củng cố vị thế của quốc gia mình trên trờng đấu quốc tế nếu không đẩy mạnh
xuất khẩu.
Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của ngoại thơng, xuất hiện từ lâu đời,
ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Hình thức cơ bản
ban đầu của nó là hoạt động trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia, cho đến nay
nó đã phát triển rất mạnh và đợc biều hiện dới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt
động xuất khẩu ngày nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành,
các lĩnh vực của nền kinh tế, từ vật phẩm tiêu dùng tới t liệu sản xuất, từ các chi
tiết, linh kiện nhỏ bé đến các loại máy móc khổng lồ, các loại công nghệ kỹ
thuật cao, không chỉ là hàng hoá hữu hình mà cả các loại hàng hoá vô hình, và
với tỷ trọng ngày càng lớn.
10
- Quy trình tiến hành hoạt động xuất khẩu.
. Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu:
Đây là mặt hàng trong những nội dung cơ bản nhng rất quan trọng và cần
thiết để có thể tiến hành đợc hoạt động xuất khẩu. Khi doanh nghiệp có ý định
tham gia vào hoạt động xuất khẩu thì doanh nghiệp cần phải xác định các mặt
hàng mà mình khẳng định kinh doanh.
Để lựa chọn đợc đúng các mặt hàng mà thị trờng cần đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một quá trình nghiên cứu tỉ mỉ, phân tích một cách có hệ thống
về nhu cầu thị trờng cũng nh khả năng doanh nghiệp. Qua hoạt động này doanh
nghiệp cần phải xác định, dự đoán đợc xu hớng biến động của thị trờng cũng
nh các cơ hội và thách thức doanh nghiệp gặp phải trên thị trờng thế giới. Hoạt
động này không những đòi hỏi một thời gian dài mà còn phải tốn nhiều chi phí,
song bù lại doanh nghiệp có thể xâm nhập vào các thị trờng tiềm tàng có khả
năng doanh số lợi nhuận kinh doanh.
.Lựa chọn thị trờng xuất khẩu:
Sau khi đã lựa chọn đợc mặt hàng xuất khẩu, doanh nghiệp cũng cần phải
tiến hành lựa chọn thị trờng xuất khẩu mặt hàng đó. Trong nhiều trờng hợp
doanh nghiệp klhông thể hoạt động trên toàn bộ thị trờng các quốc gia nào đó
mà chỉ có thể hoạt động trên một hoặc một số đoạn của thị trờng quốc gia nào
đó, dựa vào việc phân đoạn thị trờng trên cơ sở các tiêu thức dùng để phân đoạn.
Tuy nhiên cũng có nhiều trờng hợp doanh nghiệp có thể hoạt động trên phạm vi
quốc gia, khu vực hay toàn cầu.
Để lựa chọn một thị trờng tối u nhất doanh nghiệp cần phải tiến hành
nghiên cứu thị trờng. Có hai phơng pháp chủ yếu nghiên cứu thị trờng, đó là
nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu tại hiện trờng. Hai phơng pháp này đợc kết
hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình nghiên cứu.
. Phơng pháp nghiên cứu tại bàn:
Đây là phơng pháp nghiên cứu phổ biến nhất vì nó ít tốn kém và phù hợp
với khả năng của mọi cán bộ nghiên cứu. Các tài liệu dùng để nghiên cứu tại
bàn bao gồm: Các tài liệu xuất bản trong nớc, các tài
11
liệu xuất bản ngoài nớc và nguồn tài liệu không xuất bản của các tổ chức,
cơ quan có liên quan.
. Phơng pháp nghiên cứu tại hiện trờng:
Phơng pháp này tốn kém hơn phơng pháp trên.Thông tin thu đợc thông
qua tiếp súc với nhsững ngời kinh doanh trên thị trờng bằng một số biện pháp
nh:
- Quan sát: là phơng pháp rẻ tiền nhất, tránh đợc thiên kiến của ngời trả
lời câu hỏi. Nhng có nhợc điểm là chỉ mô tả bên ngoài, tốn kém công sức và
thời gian.
- Phỏng vấn trực tiếp: là phơng pháp có độ tin cậy cao và đòi hỏi nghệ
thuật của ngời phỏng vấn.
- Phỏng vấn qua điện thoại: là phơng pháp tốt nhất để tiếp xúc với
những ngời bận việc hoặc những ngời không muốn dành thời gian cho một cuộc
phỏng vấn.
- Phỏng vấn qua th : ít tốn kém nhất song lại có độ tin cậy kém nhất
trong các phơng pháp nghiên cứu thị trờng.
. Lựa chọn đối tác giao dịch:
Sau khi lựa chọn đợc mặt hàng và thị trờng xuất khẩu, doanh nghiệp
muốn xâm nhập vào từng đoạn thị trờng đó thì doanh nghiệp phải lựa chọn đợc
đối tác đang hoạt động trên thị trờng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh
cho mình. Việc lựa chọn đúng đối tác để giao dịch tránh cho doanh nghiệp
những phiền toái, những mất mát rủi ro gặp phải trong quá trình kinh doanh trên
thị trờng quốc tế, đồng thời có điều kiện để thực hiện thành công các kế hoạch
kinh doanh của mình. Cách tốt nhất để lựa chọn các đối tác là lựa chọn các đối
tác có đặc điểm sau:
- Là những ngời xuất khẩu trực tiếp. Vì với mặt hàng kinh doanh đó,
doanh nghiệp không phải chia xẻ lợi nhuận kinh doanh đo đó thu đợc lợi nhuận
lớn nhất. Tuy nhiên, trong trờng hợp sản phẩm và thị trờng hoàn toàn mới thì lại
rất cần thông qua cac đại lý hoặc các công ty uỷ thác xuất khẩu để giảm chi phí
chi việc thâm nhập vào thị trờng nớc ngoài.
- Quen biết, có uy tín trong kinh doanh.
12
- Có thực lực tài chính.
- Có thiện chí trong quan hệ làm ăn với doanh nghiệp không có biểu hiện
của hành vi lừa đảo.
Trong quá trình lựa chọn đối tác giao dịch, công ty có thể thông qua các
bạn hàng đã có quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp trớc đó, thông qua các tin
tức thu thâp và điều tra đợc, các phòng thơng mại và công nghiệp, các ngân
hàng, các tổ chức tài chính để họ giúp đỡ.
. Lựa chọn phơng thức giao dịch.
Phơng thức giao dịch là cách doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các mục
tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trờng thế giới. Những phơng thức
này quy định những thủ tục cần tiến hành, các điều kiện giao dịch, các thao tác
và chứng từ cần thiết trong quan hệ kinh doanh. Có rất nhiều phơng thức giao
dịch khác nhau nh: giao dịch thông thờng, giao dịch qua khâu trung gian, giao
dịch tại hội chợ, triển lãm, giao dịch hàng hoá, gia công quốc tế, đấu thầu và
đấu giá quốc tế. Tuy nhiên, phổ biến và đợc sử dụng nhiều nhất là giao dịch
thông thờng.
+ Giao dịch thông thờng: là sự giao dịch mà ngời mua và ngời bán thảo
luận trực tiếp với nhau thông qua th từ, điện tín để bàn về các điều khoản sẽ
ghi trong hợp đồng. Các bớc tiến hành giao dịch thông thờng bao gồm: Hỏi giá
- báo giá - Chào hàng - Chấp nhận, xác nhận.
+ Giao dịch qua trung gian: là việc ngời mua hoặc ngời bán quy định
những điều kiện trong giao dịch mua bán hàng hoá và nhờ tới sự giúp đỡ của
ngời thứ ba để đàm phán và đi đến kí kết hợp đồng.
+ Buôn bán đối lu: là phơng thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp
chặt chẽ với nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ngời mua, lợng hàng hoá trao đổi
có giá trị tơng đơng.
+ Đấu giá quốc tế: Đây là phơng thức bán hàng đặc biệt đợc tổ chức công
khai ở một nơi nhât định, tại đó sau khi xem xét hết hàng hoá, những ngời mua
hàng để ngời bán đa ra giá mình muốn bán.
Ngoài ra, còn một số loại giao dịch khác nh:
+ Giao dịch ở sở giao dịch hàng hoá
13
+ Giao dịch tại hội trợ và triển lãm
Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể mà doanh nghiệp quyết định lựa chọn từng
phơng thức giao dịch mua bán thích hợp.
Nói chung, với các loại hàng hoá khác nhau thì phụ thuộc vào đặc điểm
của thị trờng và khả năng của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể lựa chọn các
phơng thức giao dịch khác nhau. Chẳng hạn khách hàng mua hàng với số lợng
lớn, mua thờng xuyên thì phơng thức giao dịch thông thờng đợc áp dụng. Với
những hàng hoá có tính chất chuyên ngành thì tham gia hội chợ và triển lãm lại
có tác dụng tích cực.
. Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu là một trong những khâu quan
trọng của hoạt động xuất khẩu. Nó quyết định đến khả năng, điều kiện thực
hiện những công đoạn mà doanh nghiệp thực hiện trớc đó. Đồng thời nó quyết
định đến tính khả thi hay không khả thi của kế hoạch kinh doanh của doanh
nghiệp. Việc đàm phán phải căn cứ vào nhu cầu trên thị trờng vào đối thủ cạnh
tranh, khả năng, điều kiện và mục tiêu của doanh nghiệp cũng nh mối quan hệ
của doanh nghiệp và đối tác. Nếu đàm phán diễn ra tốt đẹp, thì kết quả của nó là
hợp đồng đợc ký kết. Một cam kết trong hợp đồng sẽ là những pháp lý quan
trọng, vững chắc và đáng tin cậy để các bên thực hiện lời cam kết của mình.
Đàm phán có thể thực niện thông qua th từ, điện tín và đàm phán trực tiếp.
Tiếp sau công việc đàm phán, các bên tiến hành ký kết hợp đồng mua bán
hàng hoá. Hợp đồng mua bán hàng hoá là một văn bản có tính chất pháp lý đợc
hình thành trên cơ sở thảo thuận một cách bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ
thể nhằm xác lập thực hiện và chấm dứt các mối quan hệ trao đổi hàng hoá.
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (hợp đồng xuất khẩu) là hợp đồng
mua bán đặc biệt trong đó quy định ngời bán có nghĩa vụ chuyển quyền (cho
ngời) sở hữu hàng hoá cho ngời mua, còn ngời mua có nghĩa vụ trả tiền cho ng-
ời bán theo giá thảo thuận bằng phơng thức quốc tế.
Khác với hợp đồng mua bán nội địa, hợp đồng xuất khẩu thông thờng
hình thành giữa các doanh nghiệp có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác
nhau, hàng hoá thờng đựoc dịch chuyển qua biên giới quốc gia và đồng tiền
thanh toán là một ngoại tệ đối với một trong hai quốc gia hoặc cả hai quốc gia.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét