Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014

Tài liệu LUẬN VĂN: Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ta hiện nay pdf


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu LUẬN VĂN: Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ta hiện nay pdf": http://123doc.vn/document/1041609-tai-lieu-luan-van-kinh-te-nha-nuoc-va-vai-tro-chu-dao-cua-no-trong-nen-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-ta-hien-nay-pdf.htm





Mọi nhà nước đều có chức năng kinh tế, chức năng này được thể hiện với mức độ
khác nhau tuỳ theo từng giai đoạn phát triển. ở bất kỳ nước nào dù kém phát triển, đang
phát triển hay phát triển thì chức năng kinh tế của nhà nước luôn gắn liền và thể hiện
thông qua các hoạt động kinh tế của nhà nước trên cơ sở tiềm lực vật chất của nhà nước.
Nhà nước còn có lực lượng vật chất mạnh trong tay để chi phối, hướng dẫn, điều tiết sự
phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Lực lượng vật chất này cùng với luật pháp, kế hoạch,
chính sách tạo cho nhà nước một sức mạnh làm cho nền kinh tế phát triển theo đúng
định hướng đã định.
ở nước ta, sau khi đất nước giành được độc lập, chúng ta đã phiến diện và giản đơn
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp
ngày càng tỏ ra không phù hợp, đã bộc lộ rất rõ nét những nhược điểm căn bản làm thui
chột tính năng động sáng tạo, không phát huy tối đa được các tiềm lực tồn tại trong nền
kinh tế.
Trước tình hình đó tại Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng tađã đề ra chủ
trương đối với nền kinh tế một cách toàn diện, chuyển nền kinh tế tập trung sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thừa nhận sự tồn tại khách quan
của 5 thành phần kinh tế, mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất
định.
 Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu toàn dân về tư liệu
sản xuất. Vệc tổ chức kinh doanh tiến hành theo nguyên tắc hạch toán kinh tế và
tiến hành phân phối theo lao động. Đây là thành phần kinh tế đại diện cho quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
 Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể. Nó bao gồm
những đơn vị do những người lao động góp vốn, góp sức sản xuất kinh doanh theo
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi. Nó được phát triển dưới nhiều hình
thức đa dạng từ thấp tới cao, từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã.



 Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa và sử dụng lao động làm thuê, trả lương như các công ty trách nhiệm hữu
hạn, các doanh nghiệp tư nhân các công ty cổ phần không có vốn của nhà nước.
 Kinh tế cả thể tiểu chủ là thành phần kinh tế dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ và lao
động của bản thân người sở hữu. Tức là hoàn toàn dựa vào vốn và lao động của bản
thân và các thành viên trong gia đình. Kinh tế tiểu chủ cũng dựa trên tư hữu nhỏ
nhưng có sử ụng lao động làm thuê, tuy nhiên thu nhập chủ yếu vẫn dựa vào lao
động của bản thân và các thành viên trong gia đình
 Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu hỗn hợp giữa
nhà nước và tư nhân. Nó bao gồm các hình thức hợp tác kinh doanh giữa tư bản nhà
nước với tư bản tư nhân trong và ngoài nước.
 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: là thành phần kinh tế mới được Đảng và
nhà nước ta công nhận tại Đại Hội IX, nó là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam
bao gồm vốn do người Việt Nam ở nước ngoài về nước đầu tư kinh doanh. Nhà
nước cần tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi
hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng, gắn với thu hút công nghệ hiện đại.
Hiện nay cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh tế, pháp lý để thu hút, tận dụng triệt
để các nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Sự tồn tại của kinh tế nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới chứng tỏ sự cần
thiết khách quan của khu vực này trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện đại, khi các hoạt
động vĩ mô đòi hỏi nhà nước phải đóng vai trò ngày càng to lớn trong nền kinh tế. Có
thể nói khu vực kinh tế nhầ nước giữ vai trò như một công cụ kinh tế của nhà nước vừa
thực hiện chức năng kinh tế, vừa làm một phần chức năng xã hội, góp phần thực hiện sự
tăng trưởng và ổn định kinh tế mỗi nước.
Trên thực tế, không một nước nào phát triển nền kinh tế thị trường lại không sử
dụng các xí nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực quan trọng nhằm thực hiện chức năng
kinh tế vĩ mô, đặc biệt vì lợi ích của toàn xã hội như:



 Những ngành thuộc cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: năng lượng, giao thông,
bưu điện, ngân hàng, bảo hiểm… nhằm đảm bảo ổn định xã hội và tạo ra quá trình
liên tục trong tái sản xuất xã hội.
 Những ngành kinh tế chiến lược bảo đảm đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ
thuật như: kỹ thuật hàng không vũ trụ, năng lượng nguyên tử, chế tạo ô tô…
 Những ngành thuộc về sản xuất và dịch vụ các loại hàng hoá công cộng cần
thiết cho sinh hoạt xã hội được nhà nước trợ cấp hoặc bù lỗ như: giáo dục, y tế, văn
hoá, bảo vệ môi trường…
Như vậy, dù phát triển theo định hướng nào mỗi nước đều phải có khu vực kinh
tế nhà nước. Sự khác nhau chủ yếu ở mức độ chiếm giữ của sở hữu nhà nước trong các
ngành, các lĩnh vực cũng như mục tiêu và cách thức hoạt động của các doanh
nghiệp nhà nước.


3.Các bộ phận cấu thành kinh tế nhà nước.
Kinh tế nhà nước được thể hiện dưới nhiều hình thức hoạt động khác nhau với các
tổ chức tương ứng như hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, các hoạt động
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội mà ở đó nhà nước được biểu hiện như một chủ
sở hữu, chủ thể kinh doanh, người tham gia. Nghĩa là kinh tế nhà nước có nhiều bộ phận
hợp thành, mỗi bộ phận hợp thành kinh tế nhà nước có chức năng và nhiệm vụ khác
nhau.
a.Nếu xét theo lĩnh vực hoạt động thì kinh tế nhà nước bao gồm các hoạt động kinh
tế của nhà nước trong việc:
Quản lý, khai thác, bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên tự nhiên nhằm mục
dích phát triển kinh tế xã hội.



Đầu tư, quản lý và khai thác các công trình hạ tầng kỹ thuật như: bến bãi, cảng,
đường xá, các khu công nghiệp tập trung…nhằm tạo điều kiện chung thuận lợi cho nền
kinh tế phát triển.
Các hoạt động kinh tế trong công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ; trong
lĩnh vực tín dụng, tài chính, ngân hàng, dự trữ quốc gia…
Hoạt động bảo hiểm cũng là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của khu vực kinh
tế nhà nước, thực hiện chế độ bảo hiểm do nhà nước quy định đối với kinh tế
nhà nước và các thành phần kinh tế khác nhằm đảm bảo hoạt đ
ộng kinh tế
xã hội bình thường trong những điều kiện bị tổn thất do rủi ro khách quan.
Tất cả các lĩnh vực hoạt động trên có thể gộp thành hai nhóm lớn:
 Hoạt động trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
 Hoạt động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội.
b.Xét theo hình thức tổ chức.
Kinh tế nhà nước bao gồm nhiều bộ phận hoạt động trong các lĩnh vực then chốt,
thiết yếu của nền kinh tế quốc dân. Mỗi bộ phận có chức năng nhiệm vụ khác nhau
nhưng đều nhằm thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ở một mức độ nhất
định. Cụ thể là:
Ngân sách nhà nước: thực hiện chức năng thu chi ngân sách và có nhiệm vụ điều
chỉnh, quản lý, kiểm soát các hoạt động của kinh tế nhà nước và các thành phần kinh tế
khác theo mục tiêu kinh tế xã hội đã định.
Ngân hàng nhà nước: có tác dụng điều chỉnh, quản lý, kiểm soát các hoạt động kinh
doanh tiền tệ, đặc biệt là xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ để phát triển
kinh tế xã hội.
Kho bạc nhà nước: với chức năng quản lý quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, đồng
thời kiểm soát quá trình chi tiêu ngân sách cho những mục đích khác nhau.



Các quỹ dự trữ quốc gia: là một bộ phận của khu vực kinh tế nhà nước, nhân dân
bảo đảm cho khu vực này hoạt động bình thường trong mọi tình huống, là lực lượng vật
chất để nhà nước điều tiết, quản lý, bình ổn giá cả thị trường, bảo đảm kinh tế xã hội.
Các tổ chức sự nghiệp có thu: hoạt động gần giống như doanh nghiệp nhà nước
trong cung ứng một số dịch vụ công, đặc biệt trong giáo dục, y tế, dịch vụ hành chính
công.
Hệ thống doanh nghiệp nhà nước: theo luật doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam
năm 1995, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập
và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc công ích, nhằm thực hiện mục tiêu kinh
tế xã hội do nhà nước giao cho. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các
quyền và nghĩa vụ dân sự. Đây là một bộ phận chính yếu của kinh tế nhà nước, đóng vai
trò then chốt là một lực lượng vất chất cơ bản, đảm bảo cho viêc thực hiện các mặt trân
kinh tế xã hội của đất nước.
c.Xét theo mục tiêu hoạt động.
Các doanh nghiệp nhà nước được chia làm ba nhóm với những tiêu chí tương ứng
để đánh giá kết quả hoạt động:
Nhóm I: Nhóm các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Các doanh nghiệp
này hoạt động theo các chính sách xã hội của nhà nước phục vụ cho lợi ích của toàn xã
hội hay lợi ích công cộng, chuyên sản xuất hàng quốc phòng, an ninh, y tế, văn
hoá…Mục đích hoạt động của nhóm này không phải vì lợi nhuận mục tiêu phát triển của
nó là sự ổn định và an toàn xã hội gắn với môi trường kinh tế-xã hội-chính trị.
Nhóm II: nhóm các doanh nghiệp hoạt động bán công ích. Về thực chất, hoạt động
của nhóm này là bán kinh doanh, là loại doanh nghiệp nửa bao cấp nửa kinh doanh. Loại
doanh nghiệp này được nhà nước hỗ trợ một phần.
Nhóm III: nhóm các doanh nghiệp thuần tuý kinh tế. Mục đích hoạ động của nhóm
này là sản xuất và kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Nếu như nhóm II chỉ trong chừng
mực nào đó chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường thì nhóm này hoàn toàn



bình đẳng với các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong cạnh tranh trên
thị trường.
Xuất phát từ những yếu tố trên, đối với mỗi nhóm hay đối với mỗi loại hình doanh
nghiệp cần phải xác định một cơ chế quản lý mang tính đặc thù riêng.
4.Vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước đối với các thành phần kinh tế khác.
a.Giai đoạn trước năm 1986.
ở nước ta, sau khi miền Bắc giải phóng (1954) và thống nhất đất nước (1975), trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội do nhận thức giản đơn phiến diện đã đồng nhất sở
hữu nhà nước với chủ nghĩa xã hội, công hữu ngày càng hiều thì chủ nghĩa xã hội càng
nhiều. Chúng ta đã coi kinh tế quốc doanh chủ yếu bó hẹp trong phạm vi các xí nghiệp
quốc doanh. Các xí nghiệp quốc doanh ở thời kỳ này được quản lý theo kiểu kế hoạch
hoá tập trung của Liên Xô. Các xí nghiệp quốc doanh hoạt động dựa trên cơ sở các
nguồn lực được nhà nước phân bổ một cách trực tiếp, chỉ có nhiệm vụ sản xuất và kinh
doanh theo kế hoạch đã được định trước, lỗ thì được bù còn lãi thì phải nộp ngân sách.
Cơ chế này đã có tác dụng kích thích huy động một cách tích cực các nguồn lực của đất
nước đáp ứng yêu cầu giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc trong giai đoạn 1954-
1975. Xong trong điều kiện mới khi đất nước đã thống nhất, nền kinh tế thế giới phát
triển với tốc độ chóng mặt thì những yếu nhược điểm căn bản của cơ chế quản lý tập
trung, quan liêu bao cấp đã bộc lộ rõ nét, làm thui chột tính năng động sáng tạo của các
xí nghiệp vì sản xuất kinh doanh không tính đến hiệu quả, đặc biệt là thiếu vắng môi
trường cạnh tranh…
Thêm vào đó số lượng xí nghiệp quốc doanh quá nhiều, dàn trải chồng chéo, trình
độ kỹ thuật công nghệ lạc hậu, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp đã đẩy đất nước lâm
vào tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng.
b.Giai đoạn từ 1986 đến nay.
Đứng bên bờ vực thẳm của chủ nghĩa xã hội trong tình hình hệ thống các nước xã
hội chủ nghĩa đang theo chiều hướng tan rã, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta



bị giao động mạnh. Trước tình hình đó, với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, tại Đại
Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) Đảng ta đã đề ra chủ trương đổi mới nền kinh
tế một cách toàn diện. Lý luận kinh tế về thời kỳ quá độ trong thời kỳ này đã có những
thay đổi cơ bản. Trước hết là sự thừa nhận sự tồn tại khách quan của năm thành phần
kinh tế, kinh tế quốc doanh đựơc thừa nhận là thành phần kinh tế nhà nước trong cơ cấu
nền kinh tế đa thành phần.
Nền kinh tế nhiều thành phần tồn tại với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, trong
đó mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận không thể tách rời, vì nó đều nằm trong tổng
thể của nền kinh tế quốc dân. Các thành phần kinh tế không tồn tại độc lập mà đan xen
nhau, giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ thông qua liên doanh, liên kết và tác động qua
lại lẫn nhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn. Tính thống nhất thể hiện ở chỗ các thành
phần kinh tế đều nằm trong cơ cấu thống nhất, luôn biến đổi, phát triển và đều chịu sự
điều tiết vĩ mô của nhà nước. Các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh, vừa hợp tác để
nâng cao hiệu quả kinh tế của các nguồn lực, huy động tối đa sức mạnh và lợi thế của
từng thành phần vào việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nước.
Các thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu đặc thù và mục tiêu, lợi ích riêng
mà nó hình thành. Do đó tất yếu sẽ tồn tại những mâu thuẫn, điển hình là mâu thuẫn
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Tuy nhiên mỗi chế độ xã hội bao giờ cũng có một
phương thức sản xuất thống trị. Đó là một sự thật đã từng và sẽ tồn tại trong lịch sử.
Trên cơ sở kinh tế đó mà dựng lên kiến thức thượng tầng, quan trọng nhất là chế độ
chính trị thích ứng với nó, chúng ta đã lựa chọn chế độ chính trị là chế độ xã hội chủ
nghĩa thì tất yếu chúng ta phải có một cơ sở kinh tế đảm bảo cho định hướng đã lựa
chọn.
Chủ nghĩa xã hội vươn tới là sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, thích ứng với nó
chỉ có kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể mới có thể tạo được một nền tảng vững
chắc cho cơ sở kinh tế xây dựng lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, sự phát triển kinh tế
nhiều thành phần không phải là phát triển theo bất kỳ xu hướng nào mà phải có định
hướng cụ thể phù hợp với mục tiêu chính trị xã hội mà Đảng và nhà nước ta đã lựa chọn.



Xét trên giác độ này thì kinh tế nhà nước có thể nói là một công cụ đắc lực để nhà nước
thông qua nó hỗ trợ, hướng dẫn định hướng cho các thành phần kinh tế khác cũng phát
triển theo con đường mà Đảng và nhà nước ta đã đề ra.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) đã nêu lên sáu thành phần kinh
tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân,
kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong nền kinh tế đó, kinh tế
nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng của kinh tế quốc dân và kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo.
II. Kinh tế nhà nước và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân hiện nay ở
nước ta.
1.Cơ sở lý luận cho tính chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Tại các đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, VI, VII, VIII, IX Đảng ta đã xác định:
“ chủ động hội nhập, đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể dần trở
thành nền tảng”.
Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, vấn đề đặt ra là trong nền kinh
tế nước ta hiện nay có hay không có mặt thành phần kinh tế nào đó đóng vai trò chủ đạo.
Nếu có thì căn cứ nào để xác định tính chất chủ đạo của một thành phần kinh tế, và vì
sao vai trò chủ đạo đó lại được giao cho thành phần kinh tế này chứ không phải thành
phần kinh tế khác.
Từ sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay Việt Nam chủ trương phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy nền kinh tế thi trường
ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở đa dạng hoá sở hữu, đa dạng hoá thành phần kinh
tế. Trong nền kinh tế này có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại.
Ai cũng biết rằng, trong một gia đình nếu chỉ có một con thì không thể có con
trưởng, con thứ. Nhưng với một gia đình đông con thì sự phân định con trưởng con thứ



là tất yếu. Trong nền kinh tế nhiều thành phần cũng vậy, sự tồn tại của nhiều thành phần
kinh tế dựa trên các hình thức sở hữu đặc thù làm cho vai trò vị trí của chúng khác nhau
và tất yếu sẽ có một sự phân vai, đó là thành phần kinh tế chủ đạo cùng với các thành
phần còn lại. Vấn đề nằm ở chỗ thế nào là chủ đạo và ai là chủ đạo?. Căn cứ vào đâu đế
xác định tính chất chủ đạo này?.
Trước đây chúng ta lý giải vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế được thể hiện ở
phạm vi của nó chiếm hữu trong nền kinh tế, ở tính hiệu quả hơn, ưu việt hơn hẳn của
nó so với các thành phần kinh tế khác. Nhưng qua quá trình thực tiễn cùng với đổi mưói
tư duy thì thành phần kinh tế chủ đạo phải là thành phần kinh tế chi phối, làm thay đổi
và xác định phương hướng hoạt động của các thành phần kinh tế khác, hướng tới mục
tiêu kinh tế-chính trị-xã hội mà Đảng và nhà nước đã chọn. Vì bản chất cốt lõi của một
chế độ xã hội sẽ quyết định tính chất chủ đạo của nền kinh tế.
Đối với một nước đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội như nước ta thì
kinh tế nhà nước cần và có thể giữ vai trò chủ đạo vì những lý do sau đây:
 Thứ nhất: kinh tế nhà nước dựa trên chế độ công cộng về tư liệu sản xuất, là
chế độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hoá của lực lượng sản xuất.
 Thứ hai: kinh tế nhà nước đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến trong
nền kinh tế, tạo ra cơ sở kinh tế cho chế độ xã hội mới- xã hội xã hội chủ nghĩa.
 Thứ ba: kinh tế nhà nước nắm giữ những vị trí then chốt, xương sống của nền
kinh tế, do đó nó có khả năng, có điều kiện chi phối hoạt động của các thành phần
kinh tế khác, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo hướng đã định.
 Thứ tư: kinh tế nhà nước là lực lượng bảo đảm cho sự phát triển ổn định của
nền kinh tế, là lực lượng có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn giúp đỡ và liên
kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
 Thứ năm: kinh tế nhà nước có thể tác động tới các thành phần kinh tế khác
không chỉ bằng các công cụ và đòn bẩy kinh tế mà còn bằng con đường gián tiếp,
thông qua những thiết chế và hoạt động của kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa.



 Thứ sáu: kinh tế nhà nước dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa học công nghệ
hiện đại, tiên tiến. Do đó nó có nhịp độ phát triển nhanh, đóng góp phần lớn cho
ngân sách nhà nước và sự tích tụ để có thể không ngừng tái sản xuất mở rộng.
 Thứ bảy: kinh tế nhà nước là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm
kinh tế, đô thị mới, là lực lượng có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí
quan trọng sống còn nhưng ít ai dám đàu tư vì đòi hỏi vốn quá nhiều mà thời gian
thu hồi vốn quá chậm.
Trong xã hội tư bản, một xã hội dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì hoạt
động kinh doanh sinh lợi là cái chi phối các nhà kinh doanh. Do vậy tính chất chủ đạo
của nền kinh tế này thể hịên ở hiệu quả kinh tế, là lợi nhuận. Nhưng con đường mà
chúng ta đang đi là quá độ lên một xã hội mà ở đó bản chất của nó là bình đẳng-xã hội
xã hội chủ nghĩa, vì vậy tính chất chủ đạo của nó phải thể hiện được quan hệ sản xuất
đặc thù của xã hội đó. Đáp ứng với nó kinh tế nhà nước với hình thức sở hữu toàn dân
giữ vai trò chủ đạo là một tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần trong quá trình quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
2.Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Cùng với tíên trình lịch sử, xã hội đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau.
Nhưng đến nay trên thế giới vẫn song song tồn tại hai hệ thống đại diện cho hai hình
thái kinh tế xã hội là hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Lực lượng sản xuất
phát triển không ngừng, cùng với nó quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất đã bộc lộ rõ những khuyết tật kìm hãm lực lượng sản xuất
như:
 Về kinh tế: phân hoá giàu nghèo, bóc lột, phân phối không cân bằng, thất
nghiệp, tình trạng vô chính phủ trong sản xuất, sự phá hoại môi trường tự nhiên….
 Về chính trị: áp bức, bất bình đẳng, không dân chủ, quyền lợi cá nhân không
được đảm bảo, thiếu tự do, mối đe dạo về chiến tranh…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét