Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

Giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo của giai cấp này thông qua đảng cộng sản trong tiến trình cách mạng nước ta”


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo của giai cấp này thông qua đảng cộng sản trong tiến trình cách mạng nước ta”": http://123doc.vn/document/539327-giai-cap-cong-nhan-va-vai-tro-lanh-dao-cua-giai-cap-nay-thong-qua-dang-cong-san-trong-tien-trinh-cach-mang-nuoc-ta.htm


LỜI MỞ ĐẦU
Trong cấu trúc xã hội, giai cấp công nhân không chỉ là chủ thể của lịch sử
xã hội hiện đại mà còn là nền tảng trên đó nảy sinh đội tiên phong của nó là
Đảng cộng sản Việt nam, người lãnh đạo và tổ chức nên mọi thắng lợi của
cách mạng Việt nam.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển với trình độ ngày càng
cao. Dẫn đến sự thay đổi sâu sắc trong kết cấu kinh tế xã hội trong cơ cấu
giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển, sự sụp đổ của chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên xô kéo theo sự phân ra của nhiều đảng cộng
sản và công nhân.Hiện trạng đó không chỉ kẻ địch vui mừng mà ngay trong
nội bộ phong trào công nhân cũng hoang mang, nghi ngờ về con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và vai trò sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân.Tình hình đó tác động không nhỏ tới giai cấp công
nhân và đến nhận thức vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt
Nam.
Nước ta đang trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Một số vấn đề xoay quanh
giai cấp công nhân Việt Nam như: Giai cấp công nhân viêt nam hiện nay
gồm những ai? Bản chất giai cấp công nhân có gì thay đổi trong nền kinh tế
thị trường? Giai cấp công nhân Việt nam có còn giữ được vai trò lãnh đạo và
vai trò tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
hay không? Đây là vấn đề rất cơ bản và bức thiết đang được đặt ra có ý
nghĩa to lớn cả về lí luận và thực tiễn.vì vậy nhóm chúng tôi đã chọn vấn đề
thảo luận cho ngày hôm nay đó là : “Giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo
của giai cấp này thông qua Đảng cộng sản trong tiến trình cách mạng nước
ta”










1
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÍ LUẬN :
1.1 Sự ra đời của giai cấp công nhân :
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự ra đời của giai cấp tư sản và
vô sản. Như vậy ,Giai cấp công nhân là con đẻ của nền đại công nghiệp tư
bản chủ nghĩa, là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho
phương thức sản xuất hiện đại .
1.2 Khái niệm giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển
cùng với quá trình phát triển của nên công nghiệp hiện đại với nhịp độ phát
triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, trực tiếp
hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật
chất, đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong
thời đại hiện nay.
1.3 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đó là : xóa bỏ chế độ tư bản chủ
nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo
nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
1.4 Những điều kiện khách quan qui định sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân :
1.4.1 Địa vị kinh tế-xã hội:
- Giai cấp công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến hiện đại và
có tính xã hội hóa cao.
- Dưới chủ nghĩa tư bản:
+Giai cấp công nhân có tinh thấn cách mạng triệt để
+Lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của nhân dân lao
động
- Sự phát triển của đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa tạo cho giai cấp công
nhân khả năng lãnh đạo cách mang.
1.4.2 Đặc điểm chính trị-xã hội:
- Là giai cấp tiến tiến nhất
- Là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất
- Là giai cấp có tính tổ chức và kỷ luật cao nhất
- Là giai cấp có bản chất quốc tế
2
1.4.3 Đảng Cộng sản – nhân tố chủ quan hàng đầu quyết định thắng lợi sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân :
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được hình thành một cách khách
quan, nhưng để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử đó phải có vai trò của
những nhân tố chủ quan. Ngoài việc bản thân giai cấp công nhân không
ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng thì sự thành lập ra Đảng cộng
sản là nhân tố chủ quan quyết định nhất đảm bảo cho giai cấp công nhân có
thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình .
CHƯƠNG 2- GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM :
2.1 Sự ra đời của giai cấp công nhân VIỆT NAM :
Với chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt
Nam, giai cấp công nhân Việt Nam đã ra đời từ đầu thế kỷ này, trước cả sự
ra đời của giai cấp tư sản Việt Nam và là giai cấp trực tiếp đối kháng với tư
bản thực dân Pháp. Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến,
dưới sự thống trị của đế quốc Pháp, một thứ chủ nghĩa tư bản thực lợi không
quan tâm mấy đến phát triển công nghiệp ở nước thuộc địa, nên giai cấp
công nhân Việt Nam phát triển chậm.
2.2 Khái niệm về giai cấp công nhân VIỆT NAM :
Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp những người lao động, những
người làm công ăn lương, v.v. đang làm việc trong lĩnh vực công nghiệp
hoặc trong các lĩnh vực sản xuất bằng phương thức công nghiệp; đó là sản
phẩm của nền đại công nghiệp, đồng thời là sản phẩm của sự nghiệp cách
mạng và quá trình đổi mới ở Việt Nam.
2.3 Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam :
Sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm,
trong điều kiện đất nước bị kẻ thù xâm lược, khiến cho ý chí và động cơ
cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên gấp bội. Ngay từ
khi ra đời, giai cấp công nhân nước ta đã anh dũng, kiên cường đấu tranh
chống kẻ thù xâm lược.
Đại đa số xuất thân từ nông dân nghèo ra đô thị, vào các đồn điền, xưởng
máy nhỏ… làm thuê cho chủ tư sản xâm lược.
Chủ yếu sống bằng sức lao động, nguồn thu nhập chính là tiền công và cũng
có thể có cổ phần hay cổ phiếu.
Khi ra đời với trình độ khoa học kĩ thuật, tay nghề và mức sống còn thấp, vì
Việt Nam lúc đó chưa có nền công nghiệp hiện đại, chịu ảnh hưởng nặng nề
của sản xuất nhỏ, tiểu nông.
Có truyền thống lao động cần cù, yêu nước nồng nàn, gắn bó mật thiết với
dân tộc, nhất là nông dân và các tầng lớp lao động.
3
Sớm được giác ngộ cách mạng và thành lập Đảng tiên phong do Hồ Chí
Minh - Người đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và Đông Dương -
sáng lập và rèn luyện. Giai cấp công nhân sớm trở thành giai cấp lãnh đạo
cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng của nó. Thành quả của hơn 20 năm đổi
mới có ý nghĩa lịch sử. Xét về đời sống, giai cấp khổ nhất vẫn là nông dân,
sau đó là công nhân. Những người công nhân không có tay nghề, những
người lao động chân tay khổ hơn những người có tay nghề và lao động trí
óc. Trong cuộc sống đổi mới hiện nay, tuy đã có nhiều thành tựu to lớn, song
giai cấp công nhân Việt Nam vẫn còn nhiều mặt hạn chế, đặc biệt là về trình
độ văn hóa cơ bản, khoa học công nghệ và tay nghề, giác ngộ chính trị và
mức sống tuy có khá hơn sau những năm dổi mới có kết quả, nhưng nhìn
chung cũng còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.4 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân VIỆT NAM :
Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo
cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp
đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
2.5 Điều kiện giai cấp công nhân vươn lên lãnh đạo cách mạng Việt
Nam :
Mặc dù số lượng ít, trình độ nghề nghiệp thấp, còn mang nhiều tàn dư của
tâm lý và tập quán nông dân, song giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh
chóng vươn lên đảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng ở nước ta do những
điều kiện sau đây:
- Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền
thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm.Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục
mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc
làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ
cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công
nhân được nhân lên gấp bội.
- Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và từng bước trưởng thành trong
không khí sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa
chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân
lên đất nước ta: Phong trào Cần Vương và cuộc khởi nghĩa của Phan Đình
Phùng của Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận động yêu nước của Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, v.v. đã có tác dụng to lớn đối với
4
việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng
xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta
- Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc
Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong
trào dân tộc dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong
trào cách mạng ở nước ta. Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách
mạng ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng
lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất
xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của
chủ nghĩa Mác-Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai cấp công
nhân. Có mối liên hệ với đông đảo nhân dân lao động bị mất nước nên cũng
là điều kiện thuân lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh
vững chắc đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình
cách mạng ở nước ta.
CHƯƠNG 3 : VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN:
3.1 Vai trò của giai cấp công nhân trong cách mạng dân chủ nhân dân:
Trước sự phát triển như vũ bão của cuôc cách mạng khoa học và công nghệ
dẫn tới sự thay đổi sâu sắc trong kết cấu kinh tế-xã hội, trong cơ cấu giai cấp
công nhân và trước sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và
Liên Xô. Những thế lực thù địch đã đưa ra nhiều học thuyết bóp méo, xuyên
tạc, phủ nhận vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Đã tác động
và làm biến đổi cơ cấu giai cấp công nhân việt nam.Vai trò lãnh đạo của giai
cấp công nhân Việt Nam được thể hiện trong mỗi giai đoạn của cách mạng
Việt Nam thông qua ĐCSVN
3.1.1 Giai đoạn trước năm 1930:
Mặc dù ở giai đoạn này giai cấp công nhân Việt Nam chưa có đảng lãnh
đạo mà tổ chức một cách tự phát các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp
nhưng được nhân dân ủng hộ tiêu biểu như cuộc bãi công của 600 thợ
nhuộm ở Chợ Lớn năm 1922
Năm 1928-1929 có nhiều cuộc bãi công khác với hàng nghìn người tham gia
tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân xi măng Hải Phòng , sợi Nam
Định xe lửa Trường Thi …những cuộc đấu tranh như thế tác động sấu sắc
đến các tầng lớp khác đặc biệt là đến giai cấp nông dân các tầng lớp người
dân lao động , thanh niên,sinh viên, làm cho bọn thống trị hoảng sợ . Sau
khi các phong trào Cần Vương , tiểu tư sản và tư sản dân tôc thất bại giai cấp
công nhân Việt Nam đã tiếp thu chủ nghĩa Mac- Leenin sớm giác ngộ mục
tiêu, tư tưởng , chân lí của thời đại , độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội giai cấp công nhân Việt Nam luôn có tinh thần và bản chất cách mạng
triệt để
3.1.2 Giai đoạn 1930 đến 1954
5
3-2-1930 ĐCSVN ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nước ta đã đem
lại yếu tố tự giác làm cho phong trào cách mạng nước ta có một bước phát
triển nhảy vọt về chất . 1930-1931 giai cấp nông dân đã thực sự thừa nhận sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với họ và khối liên minh công nông đã
ra đời. Đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất tạo nên thắng
lợi cuộc cách mạng tháng tám năm 1945.
Từ chỗ giai cấp bị trị trở thành giai cấp thống trị, từ giai đoạn đấu tranh
giành chính quyền đến giai đoạn đấu tranh giữ chính quyền và xây dựng xã
hội mới. Giai cấp công nhân vừa là chủ lực quân của cách mạng vừa là giai
cấp lãnh đạo cuộc kháng chiến thần kì này, một giai cấp chủ thể của xã hội
nước ta.Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin luôn kiên trì sự lãnh đạo
đối với cách mạng. Đảng ta đã giải quyết đúng đắn hàng loạt vấn đề về
đường lối chính trị, quân sự và phương pháp cách mạng, đưa cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ đi đến thắng lợi hoàn toàn.
3.1.3 Thời kỳ 1954 – 1960 :
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền
Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhanh chóng bắt tay tiến hành khôi phục
kinh tế.
Năm 1955, ở miền Bắc lực lượng công nhân, viên chức thuộc khu vực sản
xuất vật chất có khoảng 76.000 người. Số công nhân, viên chức trong các
ngành công nghiệp quốc doanh là 21.200 người, trong đó số công nhân trực
tiếp sản xuất là 17.000 người, và hơn 16.000 công nhân làm thuê trong các
xí nghiệp tư bản tư doanh thuộc nhiều ngành và một lực lượng thợ thủ công
khoảng 298.000 người. ngày 5-11-1957, Trong thời kì 1954-1960, từ năm
1954 đến cuối năm 1960 trên toàn miền Nam đã có trên 2.300 cuộc đấu
tranh của CNLĐ, tiêu biểu là cuộc xuống đường biểu tình của gần 50 vạn
CNLĐ Sài Gòn ngày 1/5/1958, cuộc biểu dương lực lượng của CNLĐ, ngày
1/5/1959 của hơn 20 vạn CNLĐ và nhân dân ở các thành phố lớn ở miền
Nam như: Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Sài Gòn- Chợ Lớn…
Phong trào CNLĐ miền Nam trong những năm 1954-1960 đã diễn ra mạnh
mẽ, với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, đã liên kết được công nhân
nhiều ngành nghề, nhiều tầng lớp nhân dân lao động tham gia. Qua đó, đội
ngũ CNLĐ miền Nam được tôi luyện, trưởng thành .
3.1.4 Thời kỳ 1960 - 1975 :
Giai cấp công nhân ở miền Bắc thi đua lao động sản xuất và chiến đấu, tích
cực chi viện cho miền Nam, góp phần thực hiện hai ngọn cờ là Cách mạng
XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, xã hội, Tổng Công đoàn Việt
Nam đã động viên CNVCLĐ thi đua “phấn đấu trở thành tổ đội lao động xã
6
hội chủ nghĩa”, hưởng ứng phong trào “3 xây, 3 chống” , “Mỗi người làm
việc bằng hai”. Điển hình là: Nhà máy cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng) và
Hợp tác xã thủ công nghiệp Thành Công (Thanh Hóa).
Nhiều CNVC thuộc các ngành Cơ khí, Thương nghiệp, Giao thông… đăng
kí tình nguyện giành ba điểm cao: Năng suất, chất lượng và tiết kiệm, góp
phần giáo dục cho CNVC miền Bắc tình cảm ruột thịt Nam Bắc một nhà. Kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất đã góp phần làm cho công nghiệp miền Bắc có
những chuyển đổi quan trọng. So với năm 1960, tổng sản phẩm xã hội năm
1965 tăng 52,9% trong đó công nghiệp tăng 84,6%, xây dựng cơ bản tăng
72%. Đến cuối năm 1965, những cơ sở đầu tiên về cơ khí luyện kim, hóa
chất được xây dựng và dần đi vào sản xuất. Công nghiệp phát triển thêm
nhiều ngành mới, sản xuất thêm nhiều mặt hàng mới, đáp ứng được 90%
nhu cầu hàng tiêu dùng của nhân dân…
Với tinh thần “Vững tay búa, chắc tay súng”, “Địch đến là đánh, địch đi là
sản xuất”, “Tất cả cho tiền tuyến”, CNLĐ cùng quân dân miền Bắc đã phát
huy truyền thống lao động cần cù và sáng tạo, chiến đấu mưu trí, dũng cảm
đã góp phần bảo vệ, dựng xây, củng cố vững chắc hậu phương lớn và làm
tròn nghĩa vụ đối với tiền tuyến lớn miền Nam.
Giai đoạn 1965-1968, CNVC Hàng ngàn CNVC đã xung phong gia nhập
quân đội, trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường.
Từ năm 1969 đến năm 1971, . CNVC ngành giao thông vận tải đã tu sửa,
mở mới 233.000km đường, cầu phà, bến cảng, bến sông vận chuyển trên
111.000 tấn hàng hóa và vũ khí vào chiến trường. Tổng cục Hậu cần, Quân
đội nhân dân Việt Nam đã tăng trên 10.000 cán bộ, chiến sĩ phục vụ các
tuyến đường giao thông. Các ngành Nông nghiệp, Thương nghiệp, Bưu điện,
Y tế, Giáo dục… đều đạt được những thành tích quan trọng trong phong trào
thi đua chống Mĩ, cứu nước.
Ngày 21, 22/9/1964, hơn 20 vạn công nhân, lao động Sài Gòn đã biểu tình,
bãi công ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân ngành dệt, đòi chấm dứt đàn
áp, đòi tự do, dân chủ. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã
đưa phong trào đấu tranh lên đỉnh cao mới.mùa xuân năm 1975 đã giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. .
3.1.5 Giai đoạn 1975-1986 :
Giai cấp công nhân Việt Nam từ khi ra đời cho tới khi ĐCS lãnh đạo đến
nay đã từng bước thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình đối với
lịch sử dân tộc. Trong sự phát triển mạnh mẽ của đất nước ta, giai cấp công
nhân không ngừng tự hoàn thiện bản thân và ngày càng đáp ứng được những
đòi hỏi của thực tiến cách mạng. Việc tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo
của giai cấp công nhân đối với cách mạng việt nam là một vấn đề sống còn
từ đại hội VI những quan niệm mới về giai cấp công nhân Việt Nam : Giai
7
cấp công nhân phải tự mình trở thành dân tộc. Tiêu biểu cho quyền lợi dân
tộc, đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi giai cấp. Giai cấp công nhân
hiện đại không còn là giai cấp công nhân -vô sản như trong thế kỷ 19. Khối
liên minh công-nông-trí thức là cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân.giai cấp
công nhân đa dạng theo thành phần kinh tế mà họ tham gia vào. Vì vậy
không được máy móc giáo điều, không dựa vào những quan niệm lạc hậu để
xem xét lập trường của giai cấp công nhân.
3.2 Vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện
đại hóa đất nước:
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay không phân biệt thành phần kinh tế
đang là động lực chính của sự nghiệp đổi mới.Là đội quân chủ lực của công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Góp phần quyết định vào mục tiêu : “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vừa là thời cơ, vừa là
thách thức đối với giai cấp công nhân nước ta, vừa tạo điều kiện cho sự phát
triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng.
3.2.1 Lĩnh vực chính trị :
Giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản
Việt Nam đã đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và các định hướng chính
sách thích hợp, chèo lái con thuyền cách mạng nước ta vượt qua cơn khủng
hoảng chính trị - xã hội của đất nước khá hiểm nghèo để tồn tại và phát triển.
Đảng ta - đã quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, đi sâu nghiên cứu, tìm ra con đường đi đúng đắn, đầy sáng tạo cho
công cuộc đổi mới giữ vững mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội. Giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của mình đã dẫn dắt
toàn xã hội thực hiện các nhiệm vụ đổi mới theo phương châm phát triển
kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội. Giai cấp công nhân đã phát huy vai trò của mình
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
Giai cấp công nhân Việt Nam đang thực sự nắm quyền lãnh đạo và là lực
lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp CNH-HĐH.
Trong các giai cấp ở Việt Nam hiện nay thì GCCN vẫn là lực lượng xã hội
tiên tiến nhất. Thể hiện trong tất cả các phương diện: Trong sản suất, năng
suất lao động. Kỹ năng sáng tạo, trình độ cho văn hóa, khoa học kĩ thuật.
GCCN đã và đang thể hiện vai trò của mình không chỉ trong đường lối của
Đảng mà còn thông qua hoạt động thực tiễn hàng ngày của nó. Với bản chất
cách mạng GCCN đã tỏ ra vững vàng về chính trị, ý thức được vai trò sứ
mệnh lịch sử của mình. Đa số đã quyết tâm ủng hộ và đi đầu tronng việc
thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Dưới sự lạnh đạo của một Đảng dày
dặn kinh nghiệm, có bản lĩnh chính trị được tôi luyện và trưởng thành trong
8
quá trình đấu tranh cách mạng. Đây là yếu tố quyết định nhất đảm bảo
GCCN Việt Nam giữ vững được vai trò lãnh đạo và làm nên sứ mệnh lịch sử
của mình trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
3.2.2 Lĩnh vực kinh tế :
Khi tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta chuyển từ nền kinh tế hành
chính, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự
tồn tại nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, với nhiều hình thức sở hữu
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là điều kiện khách
quan, buộc giai cấp công nhân phải thích nghi và họ đã thể hiện những bản
lĩnh cách mạng của mình.
Tuy chưa thực sự áo đảo về số lượng, nhưng GCCN Việt Nam Đó là lực
lượng nòng cốt trong chiến dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. Trên
thực tế kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo và phát triển với quy mô
thích hợp. GCCN là lực lượng to lớn góp phần quan trọng để kinh tế nhà
nước thực hiện đúng vai trò này. Mặc dù hiện nay kinh tế nhà nước còn nhỏ,
nhiều xí nghiệp lung túng trong cách làm ăn mới song công nhân trong khu
vực này cũng chiếm tỉ lệ ko phải nhỏ
Về mặt sản xuất, giai cấp công nhân là lực lượng cơ bản, chủ yếu, có vai trò
to lớn trong nền kinh tế quốc dân. Mặc dù về số lượng giai cấp công nhân
chiếm tỷ lệ không lớn trong tổng số dân cư (khoảng 8 đến 10%) và khoảng
trên 13% lao động xã hội nhưng lại nắm giữ những cơ sở vật chất và các
phương tiện sản xuất hiện đại nhất của xã hội, quyết định phương hướng
phát triển chủ yếu của nền kinh tế, giai cấp công nhân là lực lượng lao động
đóng góp nhiều nhất vào ngân sách nhà nước. Hằng năm họ đóng góp
khoảng 50% tổng sản phẩm xã hội bảo đảm trên 60% ngân sách nhà nước.
Kết quả GCCN Việt Nam đã ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển sản xuất,
tăng trưởng kinh tế trong đời sống hàng ngày của xã hội.
Với bản chất của người lao động dù ở khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế hợp
tác xã, kinh tế tư nhân…đều có vị trí quan trọng trong viêc thúc đẩy sản
xuất. Thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng nhà nước. Thời
gian tới cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ của cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH-HĐH số lượng công nhân nói chung và số lượng công nhân trong
nghành công nghiệp, dịch vụ nói riêng sẽ phát triển nhanh chóng. GCCN sẽ
vẫn là lực lượng nòng cốt trong chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH-HĐH.
Giai cấp công nhân đi đầu trong lao động sáng tạo xây dựng đất nước.
Chúng ta tự hào về sự thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước với
những thành tựu kinh tế, văn hóa, các cơ sở hạ tầng mà hàng trăm năm trước
đây vì nhiều nguyên nhân, chúng ta chưa làm được. Đó là những công trình
đô thị hóa với các khu dân cư, nhà cao tầng, các siêu thị, đường giao thông,
9
hệ thống điện nước, dịch vụ tuy còn nhiều bất cập nhưng đã tạo nên diện
mạo mới với những sự khang trang của nó. Hệ thống đường giao thông quốc
gia, đường xuyên Việt dọc dãy Trường Sơn hùng vĩ, đường điện 500KV
xuyên quốc gia, hệ thống cầu cảng sân bay hiện đại vượt sông, vượt biển
vượt đại dương trước đây ít ai ngờ tới. Công nghiệp điện tử, tin học khai
khoáng, hóa chất, khai thác dầu khí v.v tuy non trẻ nhưng rất cường tráng
tất cả đều đóng vai trò trụ cột của nền kinh tế quốc dân.
3.2.3 Lĩnh vực văn hóa-xã hội :
Vai trò của giai cấp công nhân thể hiện ở việc cung ứng điện nước, máy
móc vật tư nông nghiệp, chế biến nông sản, đổi mới cơ chế quản lý tạo bước
phát triển mạnh mẽ cho nông nghiệp cải thịên đời sống nông dân. Giai cấp
nông dân chiếm hơn 70% dân số, vừa là đồng minh chiến lược vừa là đối
tượng lãnh đạo của giai cấp công nhân. Vì vậy trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, nếu không liên minh công - nông
- trí thức thì giai cấp công nhân và Đảng tiên phong của giai cấp công nhân
không thể thực hiện được vai trò lãnh đạo của mình. Khối liên minh giữa
công - nông - trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, là vấn đề
chiến lược có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp xây dựng giai cấp công nhân
cơ sở xã hôi vững chắc đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt
Nam trong công cuộc CNH-HĐH hiện nay .
Giai cấp công nhân vốn có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với GCND .
Đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng, củng cố liên minh vững chắc.
Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Liên minh giữa công nhân-nông dân-trí
thức trong thời kì công nghiệp hóa đất nước có nội dung phong phú toàn
diện hơn.mối quan hệ sữ ngày càng phát triển trong chính sách kinh tế văn
hóa đúng đắn của nhà nước ta. Trong quá trình CNH-HĐH đô thị hóa sự
chuyển hóa từ nông dân thành công nhân diễn ra một cách nhanh chóng.
Trong GCCD những người trẻ tuổi có sức khỏe có học vấn tay nghề, chuyên
môn sẽ được tăng cường cho GCCN. Trở thành động lưc mới xây dựng
nông thôn, xây dựng bảo về tổ quốc. Cùng với sự chuyển hóa từ nông dân
sang công nhân số lượng từ tầng lớp tri thức gia nhập hàng ngũ GCCN sẽ
tăng lên. Tất cả những điều đó làm cho vai trò lãnh đạo của GCCN Việt
Nam ngày càng được khẳng định đảm bảo hơn.
Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng chính trị - xã hội quan trọng bảo
vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Giai cấp công
nhân có vai trò quan trọng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nhất là trong
nền công nghiệp quốc phòng, yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của lực
lượng vũ trang nhân dân. Là lực lượng lao động tiến bộ đại diện cho phương
thức sản xuất tiên tiến, có tổ chức kỷ luật chặt chẽ, giai cấp công nhân Việt
Nam rất nhạy cảm chính trị không hoang mang dao động, luôn cảnh giác với
10
mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ địch, làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa
bình” giữ vững mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên
định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Giai cấp công nhân luôn chăm lo
xây dựng bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ khối liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức.
CHƯƠNG 4- LIÊN HỆ THỰC TIỄN :
4.1 Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiên nay :
Xét về cơ cấu trình độ học vấn và chuyên môn, giai cấp công nhân nước ta
gồm: Nhóm những người lao động có tính công nghiệp (chân tay, thủ công),
nhóm công nhân công nghiệp cơ khí, nhóm công nhân công nghiệp tự động
hóa lao động trí thức tại các doanh nghiệp được trang bị dây truyền tự động
hóa và tại các doanh nghiệp điện tử - tin học .
Xét về cơ cấu thành phần kinh tế: Lao động tại tất cả các thành phần kinh tế
và gồm các nhóm: “công nhân trong các doanh nghiệp quốc doanh, công
nhân trong các doanh nghiệp cổ phần, công nhân đồng thời là chủ kinh tế cá
thể, tiểu chủ trực tiếp sản xuất hàng hóa, công nhân làm thuê tại khu vực dân
doanh và có vốn đầu tư nước ngoài. Trong thời kỳ đổi mới, số lượng công
nhân ngoài quốc doanh tăng mạnh, còn số lượng công nhân khu vực quốc
doanh lại giảm.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, giai cấp
công nhân Việt Nam đang có những phát triển mới. Đội ngũ đó bao gồm,
những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các
loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc
sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp. Hiện nay, theo
thống kê, giai cấp công nhân nước ta có trên 9,5 triệu người, chiếm 11% dân
số, và 20% lực lượng lao động xã hội. Trong đó gồm: 1,94 triệu công nhân
trong các doanh nghiệp nhà nước, 3,37 triệu công nhân trong các doanh
nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nước, 1,45 triệu công nhân trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và khoảng 2,27 triệu công
nhân trong các loại hình sản xuất, kinh doanh khác.
Trong những năm đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân đang tăng nhanh về
số lượng, ngày càng đa dạng về cơ cấu, đồng thời chất lượng đội ngũ được
nâng lên, mà một biểu hiện là đã xuất hiện bộ phận công nhân trí thức, là lực
lượng sản xuất cơ bản, đang trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý sản
xuất kinh doanh, vận hành, sử dụng các công cụ, phương tiện sản xuất tiên
tiến, hiện đại, có vai trò quan trọng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. .
Giai cấp công nhân đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách
mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng
11
kiên quyết trong đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng. Công nhân nước ta
đã phát huy tinh thần sáng tạo, đề xuất nhiều giải pháp quý báu cho Đảng.
Nhà nước đúc rút thành chủ trương, chính sách để lãnh đạo thực hiện có hiệu
quả phát triển kinh tế. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, việc làm và đời sống của giai cấp công nhân nước ta từng bước được
cải thiện, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tư duy kinh tế, ý thức pháp luật
cũng đang được nâng lên.
Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ sáu khóa X, Đảng ta đã chỉ
rõ những hạn chế của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay : Đó là sự phát
triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cả về số lượng, cơ cấu
và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thiếu các chuyên gia
kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề, nhưng lại thừa số lượng
lớn lao động chưa qua đào tạo ở tất cả các ngành, các thành phần kinh tế, tác
phong công nghiệp và kỷ luật lao động của công nhân còn nhiều hạn chế.
Trình độ giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng
đều, có một bộ phận công nhân chưa hiểu hết về vai trò, sứ mệnh lịch sử của
giai cấp mình, ít hiểu biết về chính sách, pháp luật. Tỷ lệ đảng viên và cán
bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp. Một bộ phận công nhân chưa
thiết tha phấn đấu vào Đảng và không hăng hái tham gia hoạt động trong các
đoàn thể chính trị - xã hội. Việc làm và đời sống của công nhân còn nhiều
khó khăn, bức xúc phần lớn công nhân xuất thân từ nông dân, chưa được đào
tạo cơ bản và có hệ thống
Về tư tưởng, ý thức giai cấp: Trong những năm qua, với sự cố gắng của
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, trên cả nước có hơn 6,0 triệu công nhân
được học tập 5 bài giáo dục chính trị cơ bản. Vì thế sự hiểu biết của một bộ
phận công nhân về chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được nâng lên một bước.
Theo số liệu điều tra trong các doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội, có 23,1%
công nhân được hỏi tự nhận là đã hiểu rõ về chủ nghĩa Mác-Lênin, 71,3%
chỉ hiểu khái quát và 5,6% chưa hiểu rõ. Mức độ hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh
cũng khá cao. Những số liệu đó chứng tỏ ý thức chính trị của công nhân đã
được bồi dưỡng và nâng cao một bước, khi tìm hiểu công nhân về việc có ý
định hướng nghiệp cho con theo nghề của mình không đã cho kết quả như
sau: Trên toàn quốc 45,1% trả lời có, 54,9% trả lời không. Các tỷ lệ tương
ứng ở Hà Nội là 40% và 60%; ở thành phố Hồ Chí Minh là 44,5% và 55,5%;
ở Kiên Giang là 46,8% và 53,2%. Tỷ lệ trả lời không muốn cho con theo
nghề của mình là rất cao, nhất là ở Hà Nội. Kết quả này cho thấy ý thức tự
hào giai cấp của đa số công nhân đang còn những hạn chế nhất định, mặc dù
ý thức chính trị đã được nâng cao một bước.
12
Mức độ tập trung công nhân như vậy là không nhỏ. Song do trình độ sản
xuất công nghiệp của nước ta chưa cao, nên việc tập trung công nhân chủ
yếu theo các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động với trình độ chuyên
môn kỹ thuật thấp (dệt, may, da giày ), trình độ học vấn không cao, về
khách quan, đặt ra không ít vấn đề phức tạp trong việc bồi dưỡng, nâng cao
ý thức chính trị, ý thức giai cấp.
Nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là: Chủ trương lãnh đạo của
Đảng đối với việc xây dựng giai cấp công nhân chưa thực sự đi vào cuộc
sống, chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ
mới. Nhà nước tuy đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật chăm lo đến việc
làm, đời sống, đào tạo nghề cho công nhân, nhưng việc tổ chức thực hiện
chưa thật tốt, yếu kém trong bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của giai
cấp công nhân. Tổ chức Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác tuy
hoạt động tích cực, nhưng chưa tập hợp được đông đảo công nhân, lao động
để bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện về ý thức chính trị, ý thức pháp luật, đạo
đức, lối sống. Bản thân giai cấp công nhân đã có nhiều nỗ lực vươn lên,
Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong lao động chưa đáp
ứng được yêu cầu, chưa chấp hành tốt quy trình, quy định trong sản xuất.
4.2 phương hướng thúc đẩy :
Nhận thức sâu sắc vai trò lịch sử của giai cấp công nhân trong điều kiện
mới, Đảng ta xác định mục tiêu đến năm 2020: “Đó là giai cấp công nhân
ngày càng được trí thức hóa, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học -
công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; có tác
phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao, thích ứng nhanh với cơ chế thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế".
4.2.1 Trách nhiệm của công đoàn:
Để làm tốt sứ mệnh vừa là người đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,
chính đáng của công nhân, viên chức, tích cực và chủ động tham gia quản lý
kinh tế, xã hội, làm tốt việc giáo dục, động viên công nhân, người lao động
và đoàn viên ra sức phấn đấu hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình trên mọi
cương vị công tác. Trong đó, coi trọng chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của công nhân, người lao động. Công tác tuyên truyền,
giáo dục của Công đoàn hướng tới cả người sử dụng lao động để họ hiểu về
Công đoàn, ủng hộ việc thành lập và tạo điều kiện cho Công đoàn hoạt động.
Không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương pháp hoạt động để thu hút
ngày càng đông đảo công nhân, người lao động vào tổ chức mình, Đồng
thời, phải đẩy mạnh và không ngừng đổi mới công tác tổ chức, chỉ đạo
phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, viên chức, người lao động
nhằm động viên, khuyến khích mọi người, mọi tập thể tinh thần chủ động,
sáng tạo, ý thức cộng đồng trách nhiệm, nỗ lực vươn lên trong sản xuất, kinh
13
doanh, trong công tác, học tập, quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt mọi
nhiệm vụ được giao góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước chậm
phát triển.
4.2.2 Trách nhiệm của Đảng và Nhà Nước:
Sự quan tâm của Đảng đến công tác xây dựng giai cấp công nhân không
chỉ bằng nghị quyết, chủ trương, chính sách mà còn bằng chính việc làm cụ
thể của mỗi tổ chức đảng, của tất cả cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành.
Nhà Nước bổ sung, hoàn thiện các chính ,tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ
chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất, kinh doanh,
giải quyết việc làm cho người lao động. Quán triệt sâu sắc quan điểm coi
đào tạo là quốc sách hàng đầu, quan tâm đặc biệt đến xây dựng, hoàn thiện
những chủ trương, chính sách động viên, khuyến khích, chăm lo đời sống
vật chất, tinh thần, tạo ra những triển vọng phát triển mới cho công nhân,
người lao động.
Trong giai đoạn mới, việc đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với tổ chức công đoàn là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ quan trọng nhằm
một mặt, tạo điều kiện cho công đoàn thực hiện tốt các chức năng của mình,
mặt khác. Đào tạo người công nhân có tay nghề cao thông qua các trường
dạy nghề, phải có công tác dân vận và tuyên truyền thật tốt để cho người dân
của ta – cha mẹ của những đứa con sau này sẽ trở thành công nhân xã hội
chủ nghĩa hiểu được lợi ích và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Phải
đưa công nhân về đúng vị trí của nó và đưa nghề công nhân trở thành một
nghề cao quý mà xã hội phải kính trọng và công nhận. Hoàn thiện hệ thống
pháp luật về bảo vệ lợi ích người lao động, cần phải có sự phân biệt rạch ròi
giữa các loại công nhân với nhau để từ đó thực hiện chính sách làm theo
năng lực, hưởng theo lao động
4.2.3 Trách nhiệm của chính quyền địa phương:
Người công nhân sống ra sao, như thế nào, có ổn định không… là có phần
không nhỏ của chính quyền địa phương. Đây là cấp sát dân nhất, gần dân
nhất và cũng phải hiểu dân nhất.
Những việc làm của những lãnh đạo địa phương sẽ là những việc làm được
công nhân để ý nhất chứ không phải việc làm của nhà lãnh đạo cấp cao. Vậy
cán bộ cấp cơ sở cũng phải có những việc làm lành mạnh để “làm gương”
cho giai cấp công nhân noi theo. Họ có thể tổ chức những buổi tọa đàm
chuyên đề dành cho giai cấp công nhân khoảng 1 tháng 1 lần và tổ chức
những buổi dã ngoại ít nhất 1 quý 1 lần. Ngoài ra cũng phải chú trọng đến
giới công nhân là nữ, họ có một số “bất lợi” trong cuộc sống như mang thai,
sức khỏe yếu hơn…Vì cán bộ là gốc công việc như Bác Hồ đã bảo từ trước
nên tất thảy điều đó chính quyền địa phương phải quán triệt thực hiện. Muốn
vậy họ phải là những người có tâm và có tài.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét