Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Sáng kiến kinh nghiệm Tập viết L2

- Trong những năm trở lại đây, việc rèn luyện chữ viết cho học
sinh Tiểu học được Bộ Giáo Dục, Sở Giáo Dục, Phòng Giáo Dục, đặc
biệt là Ban giám hiệu, các thầy cô và các bậc phụ huynh rất quan tâm.
Chính vì thế, mục tiêu rèn chữ cho học sinh lớp 1 cũng như lớp 2 được
đặt lên hàng đầu.
- Mỗi giáo viên được trang bị bộ chữ dạy Tập viết.
- Giáo viên được tham dự những chuyên đề về Tập viết và các
cuộc thi “Viết chữ đẹp”, “Triển lãm vở sạch chữ đẹp” để học hỏi và
trau dồi kiến thức, trau dồi kinh nghiệm.
- Hàng tuần, học sinh đều có thêm tiết học để luyện viết thêm.
- Nội dung các bài Tập viết rõ ràng, phù hợp và cụ thể. Đặc biệt,
học sinh còn được luyện thêm về cách viết chữ nghiêng.
2. KHÓ KHĂN:
- Vở Tập viết của học sinh còn mỏng nên rất dễ bị nhoè.
- Trình độ học sinh không đồng đều nên gặp nhiều khó khăn
trong việc kèm các cháu học tập, đặc biệt là trong môn Tập viết.
PHẦN IV:
BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
I. NHỮNG CĂN CỨ:
1. Vị trí môn Tập viết ở Tiểu học (như đã trình bày ở phần I)
2. Khả năng viết chữ và thực trạng dạy Tập viết của giáo viên
Tiểu học hiện nay:
Về cơ bản, giáo viên Tiểu học chữ viết đạt chuẩn theo mẫu. Tuy
nhiên tỷ lệ giáo viên viết chữ đẹp chưa cao. Có những giáo viên còn
viết theo thói quen của mình. Việc chuẩn bị cho một giờ dạy Tập viết
của giáo viên cũng như việc cho điểm và nhận xét trong vở học sinh
cũng chưa được chu đáo mà việc dạy Tập viết của giáo viên ở các lớp
Tiểu học phải được tiến hành theo hai khâu cơ bản sau:
- Soạn giáo án Tập viết:
- Thực hiện giáo án trong giìơ dạy trên lớp.
Nhận thức của người lãnh đạo và người dạy về vai trò của môn Tập
viết chưa sâu sắc. Trong môn Tiếng Việt, chưa thực sự coi trọng phân
môn Tập viết như các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu Vì thế,
chưa tạo được sự hững thú khi dạy và học các phân môn này. ở trong
một số trường khi đi kiểm tra, giáo án Tập viết vẫn còn một số giáo
viên chưa hướng dẫn học sinh một cách cơ bản và tỉ mỉ về việc viết
chữ đúng mấu, chưa kết hợp nhần nhuyễn việc dạy viết chữ với việc
dãy nghĩa của từ, chưa hướng dẫn học sinh cách trình bày theo từng
loại văn bản (thơ, văn xuôi).
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP:
Bước vào tiếp xúc với chương trình lớp 2, việc rèn luyện chữ cho
các em viết phải thật cẩn thận, đúng và đẹp là điều mà tôi đã suy nghĩ
rất nhiều. Vì vậy, tôi đã nghiên cứu, học hỏi đồng nghiệp để đưa ra
những biện pháp giúp học sinh viết chữ đẹp. Sau đây là một số suy
nghĩ và việc mà tôi đã làm:
1. Những điều kiện về cơ sở vật chất:
- Anh sáng phòng học, bảng lớp, bàn ghế của học sinh:
Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc viết chữ và
sức khoẻ của học sinh. Hiện nay hầu hết các trường Tiểu học trong nội
thành đều đảm bảo các yêu cầu cơ bản, nhất là đối với trường tôi – một
trường tiên tiến xuất sắc cấp thành phố nhiều năm. Anh sáng theo tiêu
chuẩn học đường có bảng chống loá, có dòng kẻ rõ ràng, bàn ghế đúng
kích cỡ tiêu chuẩn đối với học sinh cấp lớp 2.
- Đồ dùng học tập của học sinh:
Từ loại bút và mực thích hợp đến cách chọn vở, chọn bảng và
phấn viết cũng được tôi lưu tâm đến. Hướng dẫn học sinh, phụ huynh
tìm mua cho các em những quyển vở có đường kẻ tin đều, rõ ràng và
khi viết không bị nhoè mực. Được sự ủng hộ từ phía nhà trường, có vở
của nhà trường được sản xuất với chất lượng cao, giấy không bị thấm
mực. Đối với vở tập viết có nhãn vở, có tờ lót tay khi viết để thấm mồ
hôi ở tay ra giấy trong mùa hè, mùa thu.
Thực tế dạy viết hiện nay cho thấy sử dụng bảng con trong việc
rèn chữ cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 1 vẫn là tối ưu nhất. Có
nhiều học sinh được bố mẹ mua cho bảng làm chất liệu mêca màu
trắng, dùng bút dạ viết bảng. Dùng loại bảng và bút này có nhiều hạn
chế: bảng trơn, học sinh viết không chủ động, mực ra đậm nhạt không
đều, khi xoá dễ gây bẩn, mất vệ sinh. Hơn nữa, do bút to quá cỡ tay
cầm bút của học sinh khiến các em khó điều khiển ngòi bút khi viết
chữ.
Cho nên trong buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đưa ra những
quyển vở, bút chì, bút mực để phụ huynh tham khảo. Riêng bảng con
thì tôi thống nhất toàn lớp để tránh tình trạng của em này thì có ô to,
bảng của em kia thì có ô nhỏ sẽ gây khó khăn khi dạy Tập viết.
2. Sử dụng các đồ dùng trực quan khi dạy học Tập viết:
2.1 Những đồ dùng dạy Tập viết hiện nay:
Trong luyện viết cho học sinh thì đồ dùng trực quan có tác dụng
không nhỏ, nó hỗ trợ và là phương tiện giúp cho việc luyện viết của
học sinh. Những đồ dùng này nhằm mục đích là giúp học sinh khắc sâu
những biểu tượng về chữ viết, có ý thức viết đúng mẫu và tạo không
khí sôi nổi, phấn chấn trong quá trình dạy viết chữ theo hướng “Đổi
mới phương pháp dạy học”. Đồ dùng trực quan có thể sử dụng trong
quá trình dạy bài mới, luyện tập hoặc củng cố bài học.
- Mẫu chữ trong khung chữ phóng to theo bảng mẫu chữ hiện
hành treo trên lớp. Bảng mẫu chữ cần cố định thường xuyên để giáo
viên có thể chủ động sử dụng khi cần thiết không chỉ trong giờ Tập viết
mà ngay trong cả những môn học khác khi có học sinh viết chưa đúng
mẫu chữ.
- Bộ mẫu chữ in theo quy định cho giáo viên.
2.2 Đồ dùng tự làm đạt hiệu quả trong việc dạy - học Tập viết:
Để việc dạy Tập viết có hiệu quả, giáo viên có thể nghiên cứu tự
làm các loại đồ dùng trực quan rất hữu ích cho việc dạy học Tập viết
như: chữ mẫu phần từ ứng dụng để học sinh nhìn rõ cách viết, điểm đặt
bút từ đâu đến đâu để viết cho liền mạch và giúp cho thao tác của giáo
viên được nhanh hơn.
Hay loại đồ dùng tự làm cũng rất tiện lợi cho các loại bảng con
có đính nam châm ở sau để viết trực tiếp lên bảng cho học sinh lên viết
để học sinh ngồi dưới dễ dàng nhận xét.
a) Đồ dùng lật từng trang hiện ra từng nét (dùng để phân tích chữ
mẫu):
* Mục đích sử dụng của đồ dùng: Giúp học sinh nắm rõ cấu tạo, kích
thước của con chữ:
- Cấu tạo gồm những nét nào?
- Kích thước cao, rộng bao nhiêu ô?
* Cách làm đồ dùng:
- Giấy bìa cứng khổ A4 (1 tờ).
- Các tờ nhựa trong khổ A4 (số lượng tuỳ thuộc vào số nét chữ
trong con chữ).
- Giấy đề can màu đỏ để cắt từng nét chữ rồi dàn lên từng tờ
nhựa trong.
- Một đến hai gáy xoắn bằng nhựa mềm để đóng các tờ nhựa
trong lại.
- Màu dạ để kẻ ô vuông lên tờ bìa cứng.
*Cách sử dụng: Dùng trong phần giảng bài mới: Viết chữ hoa, chữ
thường:
- Giáo viên dùng que chỉ chỉ vào từng nét chữ trên trang nhựa
cứng.
- Giáo viên nói đến nét nào thì lật từng nét ấy minh họa cho học
sinh nhìn rõ.
- Giáo viên giới thiệu xong nét nào, yêu cầu học sinh nhắc lại tên
nét chữ ấy và giáo viên chốt lại bằng câu hỏi: “Để hoàn thành
một con chữ thì các con cần viết mấy nét và đó là những nét
nào?”
* Tác dụng của đồ dùng:
- Giúp giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh một cách rõ
ràng, dễ hiểu, sinh động, hấp dẫn.
- Giúp học sinh nắm rõ cấu tạo, kích thước của con chữ cần viết.
- Giáo viên cũng có thể dùng đồ dùng này hướng dẫn học sinh
cách viết một con chữ hoàn chỉnh.
Ví dụ: Trong bài Tập viết “Chữ hoa A” (lớp 2), giáo viên dùng que
chỉ và đưa ra hệ thống câu hỏi:
 (?) Các con nhìn lên bảng và cho cô biết đây là chữ gì? (chữ A
hoa)
 (?) Chữ A hoa được cấu tạo bởi mấy nét? (gồm 3 nét)
 (?) Cho cô biết nét thứ nhất của chữ A hoa là nét gì? (nét 1 gần
giống nét móc ngược (trái) và hơi lượn ở phía trên và nghiêng về
phía bên phải).
 (?) Nét thứ 2 là nét gì? (giáo viên lật trang thứ ba ra và yêu cầu
học sinh nêu: nét 3 là nét lượn ngang)
Giáo viên chốt lại bằng câu hỏi: “Chữ A hoa gồm mấy nét chữ ghép
lại?”
b) Đồ dùng viết hoàn chỉnh một chữ cái bằng cách di chuyển nam
châm (dùng để hướng dẫn các nét tạo thành con chữ):
* Mục đích sử dụng của đồ dùng: Giúp học sinh điều chỉnh 1 chữ cái
đúng yêu cầu từ điểm đặt bút đến điểm kết thúc.
* Cách làm đồ dùng:
- Một tờ bìa cứng khổ A4 có in mẫu chữ hoa hoặc thường theo
đúng quy định.
- Hai viên nam châm tròn, một viên có dán giấy màu đỏ ở trên,
một viên để nguyên.
* Cách sử dụng đồ dùng:
Giáo viên dùng thao tác viết ở phía sau tờ bìa bằng cách di
chuyển viên nam châm không có giấy màu đỏ. Di chuyển viên nam
châm đúng theo quy trình viết một con chữ từ điểm đặt bút đến điểm
kết thúc nét bút để viên nam châm có dán giấy màu đỏ phía trước đúng
khi giáo viên viết một con chữ cái.
Ví dụ: Hướng dẫn bài Tập viết “Chữ A hoa”
Giáo viên giảng: Từ điểm đặt bút ở đường kẻ ngang thứ 3, viết
nét móc ngược (trái) từ dưới lên, nghiêng về bên trái và lượn ở phía
trên, dừng bút ở đường kẻ 6. Từ điểm dừng bút của nét 1, chuyển
hướng bút viết nét móc ngược phải, dừng bút ở đường kẻ ngang 2,
(vừa nói, giáo viên vừa di chuyển viên nam châm ở phía sau tờ bìa).
(?) Đến đây, cô đã viết xong chữ A chưa?
Giáo viên giảng tiếp: Cô lia bút lên khoảng giữa của thân chữ
(trên đường kẻ ngang thứ 3 một chút), viết nét lượn ngang mềm mại
chia đôi con chữ.
* Tác dụng của đồ dùng:
- Giúp học sinh biết cách viết liền nét từ điểm đặt bút đến điểm
kết thúc nét bút mà không nhấc bút.
- Giúp học sinh hình dung rõ quy trình viết hoàn chỉnh một con
chữ mà không hề bị tay hay người của giáo viên trong quá trình viết
che khuất.
- Đồ dùng sinh động với sự di chuyển chấm đỏ trên chữ mẫu rất
thu hút sự chú ý của học sinh.
2.3. Tư thế ngồi và cách cầm bút:
Để giúp các em viết được những nét chữ, đúng mẫu, đẹp tôi đã
hướng dẫn cả lớp tư thế ngồi viết: “Con phải ngồi tư thế ngay ngắn,
lưng thẳng, không được tì ngực vào cạnh bàn, đầu hơi cúi, mắt cách
trang giấy khoảng 25 – 30 cm”. Tư thế ngồi viết không nay ngắn sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến chữ viết. Ngồi nghiêng vẹo sẽ kéo theo chữ viết
không thẳng, bị lệch dòng. Không những thế còn có hại cho sức khoẻ:
sẽ bị cận nếu chúi sát vở, vẹo cột sống, gù lưng, phổi vị ảnh hưởng
nếu ngồi viết không ngay ngắn. Trước mỗi giờ viết bài, đặc biệt là giờ
học Tập viết tôi thường yêu cầu các em nhắc lại tư thế ngồi viết câu
hỏi: “Muốn viết đẹp con phải ngồi thế nào?”. Dần dần, các em sẽ có
thói quen ngồi đúng tư thế.
Một việc hết sức quan trọng giúp cho việc viết chữ đẹp là cách
cầm bút và cách đặt vở trên bàn. Điều này các em được tôi hướng dẫn
kỹ càng: “Khi viết, các con cần cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón trỏ,
ngón cái, ngón giữa) của bàn tay phải, Đầu ngón trỏ đặt ở phía trên,
đầu ngón giữa phía bên trái, phía bên phải của đầu bút tựa vào đầu đốt
giữa ngón tay giữa”. Tôi cũng lưu ý các em cầm bút vừa phải. Vì nếu
cầm bút sát ngòi hoặc quá xa ngòi bút thì việc điều khiển bút khi viết sẽ
khó khăn, làm cho chữ xấu mà mực dễ bị giây ra tay, ra vở. Còn vở viết
khi viết bài, tôi cũng luôn hỏi lại học sinh cầm bút và cách đặt vở.
Những yếu tố tưởng chừng không quan trọng nhưng thực chất đã góp
phần tích cực vào việc rèn chữ cho học sinh.
2.4. Rèn kỹ năng viết cho học sinh:
Trong quá trình dạy Tập viết và trong các hướng dẫn học, tôi sẽ
củng cố, nhắc lại và khác sâu cho các em nhớ lại cách viết tử những
ngày đầu các em cầm bút ở lớp 1.
a) Trước tiên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhó các đường
kẻ trong bảng con và trong vở Tập viết. Việc này góp phần quan trọng
trong việc nâng cao chất
lượng dạy viết chữ.
1
2
3
4
* Bảng con:
1. Đường kẻ ngang trên 3. Đường kẻ ngang
dưới
2. Đường kẻ ngang giữa 4. Đường kẻ ngang
phía dưới
Có những chữ cái cao hơn một đơn vị được xác định bằng đường
kẻ ngang trên và đường kẻ ngang dưới: a, o, c
Có những chữ cái cao 2 đơn vị rưỡi được xác định bằng đường
kẻ ngang trên, đường kẻ ngang giữa và đườn kẻ ngang dưới: b, g, h
* Vở Tập viết (vở in và vở ô li):
Vở tập viết của các em đã có sẵn đường kẻ, giáo viên cần hướng
dẫn để các em nắm được một số quy ước về cách gọi.
b) Giúp học sinh củng cố, nhớ lại và nắm chắc các nét cơ bản:
Từ những nét cơ bản này, các chữ cái sẽ được tạo thành. Với một
số kinh nghiệm bản thân cùng với sự trao đổi, học hỏi đồng nghiệp, tôi
nhận thấy: nếu học sinh viết các nét cơ bản không đúng, không đẹp thì
việc viết xấu, viết sai là điều không tránh khỏi. Vì vậy tôi sẽ củng cố
lại cho các em cách viết các nét cơ bản. Chú ý điểm đặt bút, dừng bút.
Chẳng hạn với nét khuyến xuôi (), nét khuyết ngược (), học sinh
không rèn viết ngay từ đầu thì dễ viết lệch, xấu sẽ dẫn đến những chữ
được tạo bởi 2 nét đó như: h, k, g, y cũng không được đẹp và đây
cũng là 2 nét khó mà học sinh thường lúng túng khi viết.
Chú ý: nét khuyết phải tròn, thon đều, không to quá, cũng không
nhỏ quá hoặc không bị vuông đầu và đặc biệt điểm gặp nhau của hai
nét phải ở đường kẻ 2 từ dưới lên (với nét khuyết xuôi), đường kẻ 1
(với nét khuyết ngược).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét